TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?

Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

Continue reading

TRANH CÃI TỪ BIỂN ĐẢO: VIỆT NAM CẦN THẬN TRỌNG TRÊN MẶT TRẬN VĂN HÓA

Áo dài trong APEC LƯ QUANG VINH

Xem ra câu nói “nhập gia tùy tục” cũng biến thiên theo thời cuộc. Việc ăn mặc xưa nay được coi là một biểu tượng văn hóa của các quốc gia, thậm chí người ta còn nghĩ đến các cuộc bình chọn quốc phục đề tôn vinh bản sắc văn hóa riêng của quốc gia mình. Minh chứng cho điều đó là tại các kỳ hội nghị thượng đỉnh ASEAN, APEC,… nguyên thủ quốc gia các nước bao giờ cũng có một buổi ăn mặc “tùy tục” với đầy đủ các sắc màu của nước chủ nhà.

Tuy nhiên, trong lúc “dầu sôi lửa bỏng” này mà diễn viên Lã Thanh Huyền mặc áo xường xám dạo chơi trên đất nước Trung Quốc lập tức bị hàng vạn cư dân mạng trên các diễn đàn mở phản ánh gay gắt là điều không thể tránh khỏi. Thậm chí, có người còn lên tiếng đòi người đẹp này trả lại danh hiệu “Phụ nữ Thế kỷ 21”, tuy có phần hơi quá nhưng cũng dễ cảm thông cho họ. Song, nói gì đi nữa, Lã Thanh Huyền cũng chỉ là một cá thể trong một cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc như Việt Nam chúng ta thì cũng không nên can thiếp quá sâu vào thị hiếu thẩm mỹ của riêng họ.

Theo thiển ý của tôi, trong thời điểm nhạy cảm giữa Việt Nam và Trung quốc hay khu vực biển đông hiện nay thì mặt trận văn hóa là điều hết sức cần được phát huy và tập trung bảo vệ. Trong các phương thức truyền thông, thì phương tiện truyền thông phát sóng có một lợi thế ưu việt của riêng nó. Trong đó, phương tiện truyền hình (báo hình) là một trong những phương thức thể hiện sự tối ưu đó của sức mạnh văn hóa đối với mưu đồ xâm lược.

Trước khi lên sóng truyền hình, các hình ảnh đã được sắp xếp theo một chủ đề nhất định. Được xây dựng trước theo một kịch bản nhất quán nên dễ cuốn hút khán giả nghe nhìn. Khi xây dựng kịch bản phim truyện truyền hình, các nhà biên kịch càng tối ưu hóa những hình ảnh này để thu hút khán giả nghe nhìn bằng các phân đoạn quay hình công phu và kỹ xảo hậu trường. Qua đó, ít nhiều các cung bậc tình cảm văn hóa địa phương của các quốc gia cũng được truyền tải và thẩm thấu vào khán giả nghe nhìn một cách thầm lặng và rất khó nhận diện để cưỡng lại. Điển hình là phong trào chiếu phim Hàn quốc rầm rộ vài năm trở lại đây đã tạo ra một làn sóng thời trang trong cách ăn mặc của thanh thiếu niên Việt Nam mà báo chí đã từng lên tiếng, hay các hành vi lệnh lạc do ảnh hưởng của các phim hành động,…

Continue reading

VỤ ÁN “MY SÓI” NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC TỘI PHẠM: ĐỪNG VỘI QUY KẾT TRÁCH NHIỆM CHO NGÀNH GIÁO DỤC

LƯ QUANG VINH

Vụ án My “sói” tạm thời khép lại với tổng mức hình phạt lên đến 161 năm tù cho 8 bị cáo là một sự ray rứt không hề nhỏ cho toàn xã hội. Hệ quả của vụ án còn là tiếng chuông rè trong một hồi chuông dài các nổi đau của tội phạm vị thành niên. Vấn đề đặt ra là không chỉ người chưa thành niên phạm tội mà trong hầu hết các vụ án, bất kể đối tượng phạm tội có được học hành hay không người ta cũng quy kết trách nhiệm cho ngành giáo dục như một cách tốt nhất để chối bỏ trách nhiệm của chính mình vậy. Có chăng, chính những tiếng nói oang oang quy kết ấy lại là hành vi phản giáo dục, góp phần không nhỏ trong việc phát tán hay tô đậm hơn phương thức phạm tội cho các nhóm nguy cơ phạm tội khác noi theo mà thôi!

Trong khi hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên (gọi tắt là Hướng dẫn Riyadh) đã được thông qua năm 1990 chỉ rõ ra rằng các thành tố giáo dục bao gồm cả việc xem xét vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng, các cơ quan thông tin đại chúng, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống người chưa thành niên (NCTN).

Công bằng mà nói, môi trường giáo dục hiểu một cách chỉnh thể phải bao gồm các thành tố nêu trên. Song, trong phạm vi thu hẹp “người chưa thành niên phạm tội” thì chúng ta cần chia tách từng thành tố để xem xét như môi trường, hoàn cảnh cụ thể để xác lập đúng trách nhiệm của từng thành tố trong nhóm giáo dục. Không phải ai vi phạm pháp luật đều do ngành giáo dục không làm tròn trách nhiệm mà không loại trừ các trường hợp người phạm tội chưa từng đi học, bỏ học do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc bướng bỉnh vì quá đủ đầy,…

Một nghiên cứu của Bộ Công an chỉ ra nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên xuất phát từ gia đình: 49% NCTN phạm tội phàn nàn về cách cư xử của cha mẹ là không công bằng, áp đặt, ngược đãi, đánh đập,… Mặt khác, sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu con cái của cha mẹ cũng tạo nên thói quen dựa dẫm, không ý thức về trách nhiệm, luôn đòi hỏi được phục vụ, được hưởng thụ cũng là một tác nhân thúc đẩy trẻ phạm tội không kém.

Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, Violence Against Women Fachtsheet No. 239) thực hiện ở Hoa Kỳ cho thấy bạo lực gia đình chống lại phụ nữ đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống các cơ quan tư pháp. Bởi lẽ pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xếp các hình thức bạo lực gia đình (ở phạm vi, mức độ khác nhau) là những hành vi vi phạm pháp luật và vì vậy, mỗi khi các hành vi bạo lực gia đình xảy ra, các cơ quan tư pháp sẽ phải điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống giáo dục. Bạo lực gia đình có thể gây ra cho học sinh – những nạn nhân trực tiếp hoặc phải chứng kiến cảnh người nhà là nạn nhân của bạo lực gia đình dẫn đến những rối loạn về tâm lý, sự sa sút trong học tập và tỷ lệ học sinh bỏ học vì lý do bạo lực gia đình là rất cao.

Qua đó cho thấy, nhà trường chỉ đóng vai trò nhất định trong việc giúp hoàn thiện các kỹ năng về ngôn ngữ, kiến thức cũng như các giá trị tinh thần cho những người được đến lớp trước một hệ thống giáo dục hành vi gồm các mắt xích như môi trường sống, nhân cách của cha me, ông bà, bạn bè, phương thức truyền thông, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống của NCTN.

Continue reading

CÔNG HAY TƯ?

HUỲNH THẾ DU

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Trong thời bao cấp, sẽ bị xem là có vấn đề nếu đặt câu hỏi nên chọn khu vực công hay khu vực tư để làm việc vì chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận chính thức. Hơn thế, mọi quyền lợi tiêu chuẩn đều gắn với một chỗ làm trong khu vực công. Làm việc trong khu vực công được đồng nhất với sự ổn định và có tương lai. Tư tưởng này hiện vẫn còn tồn tại ở một số người, nhất là những nơi mà các quan hệ thị trường chưa thực sự đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Tuy nhiên, theo thời gian, tư tưởng trên đã thay đổi ở rất nhiều. Hơn thế, hiện đang có không ít người (kể cả những người ở vị trí khá cao) rời Nhà nước để làm việc cho khu vực kinh doanh hay nhiều người sau khi học xong ở nước ngoài không muốn trở về nước làm việc.

Tại sao vậy?

Nhiều người lên tiếng chỉ trích những người bỏ công làm cho tư chỉ vì tiền, không vì cái chung và không có tinh thần yêu nước. Do vậy, giải pháp là cần phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước và yêu nghề để con người bớt vị kỷ hơn. Ở đây có hai điều nên bàn về cách tiếp cận này.

Thứ nhất, khoa học hành vi chỉ ra rằng, vị kỷ thuộc về vấn đề bản chất của con người. Ai không vì lợi ích cá nhân, không ích kỷ thì người đó sẽ là thánh. Trên thực tế, số người được coi là thánh rất ít. Hầu hết mọi người khi đi làm chỉ mong muốn hai điều, đó là thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. Nói rộng ra một chút là hầu hết mọi người tồn tại trên cõi đời này đều mong muốn có một cuộc sống sung túc và được xã hội công nhận hay tôn vinh. Việc lựa chọn hay quyết định làm việc ở đâu đó phụ thuộc vào công thức:

Việc làm = Thu nhập + Cơ hội thăng tiến

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Continue reading

SAO CỨ KIỆN VÒNG VO

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Tối nay đi uống cà fê hả?“ tôi rủ người bạn luật sư và bị từ chối ngay: “Chịu thôi, trời mưa đường ngập, lỡ sụp hố là tiêu đời ông ơi”. “Dũng cảm lên, sụp hố thì ông kiện làm gương đi”. “Còn lâu mới tìm ra mấy công ty làm cống thì kiện thế nào được”. Sao lại kiện công ty? Tôi hỏi và bị hỏi vặn: Chứ kiện ai?

Ai cũng từng nghe “Nhà vua không bao giờ sai” . Không phải vì Vua là thiên tài, hiểu biết tất cả, mà chỉ đơn giản vì đó là Vua. Nhà Vua ban hành luật lệ, nhưng không bị ràng buộc hay hạn chế bởi luật lệ. Chế độ quân chủ được thay thế bởi chế độ cộng hòa. Thoạt đầu, Nhà nước thay thế vị trí của Vua và cũng không bao giờ sai, vì hiển nhiên Nhà nước không thể sai. Chỉ có nhân viên Nhà nước làm sai mà thôi.

Cùng với sự hình thành Nhà nước pháp quyền là sự xuất hiện ý thức, triết lý pháp lý mới. Bản chất Nhà nước pháp quyền là sự ràng buộc Nhà nước và việc sử dụng quyền lực Nhà nước bằng pháp luật. Như vậy Nhà nước có thể sai, có thể vi phạm pháp luật. Theo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm- kể cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại-đối với những hành vi vi phạm pháp luật của mình như mọi thành viên khác trong xã hội.

Điều 2 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt nam (sửa đổi năm 2001), nêu rõ Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, toàn bộ quyền lực Nhà nước là của dân. Chính điều này xác định rõ quan hệ giữa Nhà nước với người dân (công dân). Người dân trao quyền lực Nhà nước cho 03 cơ quan hiến định là Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp sử dụng. Vì vậy, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trực tiếp với người dân về việc sử dụng quyền lực Nhà nước đúng mục đích vì dân, trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự phát triển quan niệm về quyền lực Nhà nước, người ta cũng chứng kiến sự thay đổi quan niệm về người phải chịu trách nhiệm khi sử dụng sai quyền lực công. Trước kia, công chức nào nào làm sai, người đó phải chịu trách nhiệm, vì Nhà nước không thể sai. (Chẳng hạn như Luật nước Phổ – nước Đức xưa – năm 1794 qui định). Ngày nay, khi quyền lực Nhà nước bị sử dụng sai, người chịu trách nhiệm là người trực tiếp nhận quyền lực ấy từ người dân: 03 cơ quan hiến định. Trên nguyên tắc, ngay cả khi cá nhân công chức làm sai thì Nhà nước cũng phải là người chịu trách nhiệm, vì công chức chỉ là người được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực Nhà nước cho những trường hợp cụ thể. Trong ý nghĩa pháp lý, điều đó có nghĩa là người dân có thể và trước tiên cần khởi kiện trực tiếp Chính phủ khi Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực được trao là để hoàn thành những nhiệm vụ xác định. Người dân trao cho 3 cơ quan hiến định (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) quyền lực Nhà nước là để hoàn thành những nhiệm vụ vì dân được qui định trong Hiến pháp (những nhiệm vụ cơ bản chung), trong đó có nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự công cộng, bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu …Điều 3 Hiến pháp CHXHCNVN còn qui định nhiệm vụ cao hơn thế cho Nhà nước: Nhà nước phải đảm bảo thực hiện mục tiêu cho „mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…“. Các cơ quan hiến định phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước dân khi không hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản chung này.

Continue reading

CỦA 1%, DO 1% VÀ VÌ 1%

JOSEPH E. STIGLITZ  – Người dịch: BÙI ĐẠI DŨNG

Người Mỹ đã và đang chứng kiến những phản kháng [ở các nước như Ai Cập, Libya, …] chống lại sự áp đặt của chính quyền nhằm thâu tóm một khối lượng lớn của cải vào tay một nhóm ít người. Tuy nhiên trong bản thân xã hội dân chủ của Mỹ, gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân tập trung vào tay của 1% dân số – tình trạng bất bình đẳng tới mức ngay cả những người giàu cũng có lý do để lo ngại.

Thật vô ích nếu cứ giả vờ rằng điều đã hiển nhiên xảy ra là còn chưa thật xảy ra. Nhóm thượng lưu 1% dân số của Mỹ hiện đã chiếm hữu gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân hằng năm của nước Mỹ. Về mặt tài sản thì nhóm ấy sở hữu 40%. Thu nhập và tài sản của họ thời gian vừa qua đã tăng lên đáng kể. Hai mươi lăm năm trước đây, phần thu nhập của họ mới là 12% và tài sản là 33%. Có thể có lời giải thích tán dương về tài năng và cơ may của những người này và cho rằng triều lên thì mọi con thuyền đều được nâng lên (nước nổi thì bèo nổi). Cách giải thích này có thể là lầm lẫn. Khi mà thu nhập của nhóm 1% giàu nhất tăng thêm 18% trong thập kỷ vừa qua thì thu nhập của nhóm trung lưu lại giảm. Đối với những người chỉ có bằng trung học, mức suy giảm này rất tệ hại: giảm 12 % trong riêng một phần tư cuối của thế kỷ vừa qua. Tất cả tăng trưởng trong những thập kỷ gần đây và có thể cả trước đó nữa đều tập trung vào tay của nhóm thượng lưu. Về bất bình đẳng thu nhập, Mỹ còn tệ hơn bất cứ quốc gia nào thuộc châu Âu già cỗi mà Tổng thống George W. Bush thường chế giễu. Đồng hành gần gũi nhất với Mỹ về mặt này còn có Nga và Iran. Trong khi những nơi có truyền thống về bất bình đẳng ở Mỹ-Latinh như Brazil đã nỗ lực trong nhiều năm và khá thành công trong việc cải thiện hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo và giảm bớt khoảng cách về thu nhập thì Mỹ lại cho phép sự bất bình đẳng tăng lên.

Biện minh và thực trạng

Các nhà kinh tế từ lâu đã cố gắng biện minh cho tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng với nhiều vấn đề tồi tệ thời kỳ giữa thế kỷ 19 – mức độ bất bình đẳng của thời kỳ đó chưa thấm vào đâu so với mức độ bất bình đẳng mà chúng ta đang thấy ở Mỹ hiện nay. Lý lẽ họ đưa ra để biện minh cho tình trạng này được gọi là “lý thuyết năng suất cận biên” (marginal productivity theory). Điểm cốt lõi của lý thuyết này là mối quan hệ giữa mức thu nhập cao với mức năng suất cao và đóng góp lớn cho xã hội. Đây là một lý thuyết luôn được người giàu yêu thích. Tuy nhiên, bằng chứng của lý thuyết này rất mong manh. Giới quản lý công ty, những người góp phần đem lại sự suy thoái trong ba thập kỷ qua với những đóng góp tiêu cực lớn lao cho xã hội chúng ta và cho công ty của họ vẫn tiếp tục nhận được những khoản tiền thưởng kếch xù. Trong một số trường hợp, các công ty xấu hổ khi gọi những khoản tiền đó là “tiền thưởng thực thi nhiệm vụ” mà thực ra họ cảm thấy cần phải đổi tên gọi ấy thành “tiền thưởng giữ chân” (thậm chí cái duy nhất giữ lại được chỉ là sự thực thi nhiệm vụ kém cỏi). Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

Continue reading

GIAN LẬN XĂNG DẦU–CHUYỆN LỚN HAY NHỎ?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Tới quán Cafe nổi tiếng và quen thuộc, có hôm tôi gọi một tô bún mọc, nhưng mấy viên mọc bốc mùi thiu không thể nuốt nổi. Khi trả tiền, vừa mới hỏi sao lại đem thứ như thế cho khách ăn? Cô phục vụ cười tươi như hoa và thản nhiên: sao anh khó tính thế? Một kiểu giao dịch không sòng phẳng chỉ làm lợi cho chủ quán, vi phạm thỏa thuận bất thành văn tiền nào của nấy, nhưng mấy ai coi đó là gian dối? Chỉ vài viên mọc thiu mà cũng kiếm chuyện! Chuyện nhỏ.

Bạn đã từng đi chợ, hẳn không ít lần về nhà mới phát hiện ở giữa bó rau hay gói trái cây là thứ gì đó khác hẳn vẻ tươi ngon của lớp che đậy bên ngoài. Họ chẳng sòng phẳng, họ không giữ thỏa thuận. Gian dối thật. Nhưng, ai mà chẳng vài lần bị như thế. Chuyện nhỏ, tức mà chi, giận dữ để làm gì.

Bạn đầu tư cho con học ở trường quốc tế vì được hứa hẹn có bằng tốt nghiệp liên thông quốc tế, con bạn sẽ được học tiếp ở những đại học danh tiếng của nước ngoài. Nhưng, giữa chừng cái trường quốc tế ấy biến mất khỏi Việt nam. Họ chẳng giữ lời. Rõ là gian dối, là lừa đảo. Nhưng, bạn có thể làm được gì, ai có thể giúp bạn làm được gì? Thôi, cho qua, đành coi là chuyện nhỏ.

Đã bao lần chính phủ cam kết không tăng giá xăng, nhưng ngay sau đó không những tăng, mà là tăng cao thật ngoạn mục. Chính phủ không giữ lời để bảo đảm lợi nhuận cho các công ty xăng dầu. Gian dối ư? Không đời nào. Khiếu nại ư? Giá dầu thế giới tăng thì ta cũng phải tăng chứ. Thế còn lời cam kết? Sao anh khó tính thế.

Từ bao giờ, chúng ta đã quen với sự không sòng phẳng, thất hứa, với việc không giữ đúng thỏa thuận trong những quan hệ nho nhỏ để ngày hôm nay trở thành dửng dưng trước sự gian dối ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực như vậy?

Chủ cây xăng gian lận, nhân viên bán xăng cũng gian lận. Tích tiểu thành đại, số tiền gian lận là rất lớn. Nhưng, với người tiêu dùng, số tiền bị móc túi chỉ vài ngàn đồng một lần đổ xăng. Đủ cho một cái lắc đầu khó chịu rồi bỏ qua. Đến khi nào mỗi người trong chúng ta biết phẫn nộ vì sự gian dối, không sòng phẳng?

Continue reading

LƯƠNG VÀ “LẬU” CỦA CÔNG CHỨC

VŨ QUỐC TUẤN

Lương thấp nhưng có người vẫn sống tốt 

Lương công chức hiện nay cao hay thấp? Có người cho rằng nó quá cao, nếu so với năng suất lao động của công chức hiện nay; có người cho rằng “ăn thế, thì làm thế” và “làm thế, thì ăn thế” có nghĩa là lương cũng phù hợp với cung cách làm việc của công chức.

Nhưng cũng không ít ý kiến cho rằng lương công chức quá thấp – “thấp” là so với nhu cầu chi tiêu cho tái sản xuất sức lao động, cũng là thấp nếu so với mức lương của những người cùng trình độ nhưng làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân hoặc có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, đã có những hiện tượng gọi là “chảy máu chất xám”.

Thực tế cho thấy, bộ máy nhà nước không thu hút được người tài có nhiều nguyên nhân đã được phân tích: có nguyên nhân do môi trường làm việc không thuận; do việc sử dụng, bố trí công việc không đúng người, đúng chỗ; do thiếu điều kiện để công chức thăng tiến bằng năng lực thực sự của họ, v.v… nhưng một nguyên nhân không thể xem nhẹ: đó là lương quá thấp.

Bộ máy nhà nước không thu hút được người tài hoặc không phát huy được người tài đang làm cho chất lượng hoạt động của bộ máy giảm sút, tác động không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy.

Đáng quan tâm là trong bộ máy nhà nước hiện nay, cũng có những người đang sống khá tốt, có tích lũy khá, có ôtô riêng, có biệt thự sang trọng, đầy đủ tiện nghi mà với mức lương của họ, không thể nào có được.

Tức là họ có những khoản thu nhập ngoài lương, những “đặc lợi” nhiều khi gấp nhiều lần so với lương chính thức. Những khoản thu nhập này có loại chính đáng, nhưng không ít loại không chính đáng và lớn hơn rất nhiều so với loại thu nhập chính đáng.

Những thu nhập ngoài lương này rất cao và không có giới hạn, không minh bạch, không kiểm soát được, đang diễn biến rất tinh vi, muôn hình vạn trạng. Thực chất là các dạng tham nhũng của công chức khi có quyền lực trong tay, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn ở trong các lĩnh vực khác, như hành chính, văn hóa, xã hội, v.v…

Tình trạng này, nhiều nơi có, nhiều người biết, nhưng do nhiều lý do tế nhị, không thể chỉ đích danh được. Có thể khái quát những loại thu nhập không chính đáng ngoài lương bắt nguồn từ quyền lực, cụ thể là từ những người có chức quyền như sau.

Continue reading

CHIẾC BÌNH SỨ VỠ VÀ KINH TẾ VỈA HÈ

PGS.TS. NGUYỄN MINH HÒA – THS. MINH QUANG – THS. HẢI NGUYÊN (Khoa Đô thị học và Quản lý đô thị, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, TP. HCM)

Cách đây vài ngày, tôi và hai vị giáo sư người Ý đi từ sở Khoa học và công nghệ trên đường Điên Biên Phủ băng qua Trương Định. Hai vị rất thích thú nhìn ngắm những chiếc bình, lọ, tượng sứ, gốm bán trên vỉa hè và định mua một vài món thì bất ngờ hai chiếc xe chở đầy cảnh sát khu vực và quản lý thị trường chừng hơn chục người đỗ xịch lại và một quang cảnh hỗn độn diễn ra.

Các anh bê tất cả đồ sứ chất lên xe, cho dù rất thận trọng nhưng có vài món bị vỡ, trong khi đó, hai vợ chồng người bán hết lời năn nỉ, cô vợ trẻ khóc ròng. Hai vị giáo sư hỏi tôi chuyện này là như thế nào và kinh ngạc khi tôi bảo họ bán hàng lấn chiếm vỉa hè vi phạm quy định hành chính. Họ ngạc nhiên là phải, bởi vì ở xứ họ việc bán hàng lưu niệm như thế này là bình thường và được khuyến khích. Vả lại những người bán hàng đã để hàng hoá sát vào chân tường rào. Hơn thế nữa con đường này không có người đi bộ qua lại.

Vào những ngày gần tết, số lượng người bán hàng rong di động và cố định một chỗ khá nhiều, vì tết là một dịp để họ bán được hàng bù vào những ngày thường ế ẩm. Nhưng thật không hay chút nào khi mà ngày nào cũng có những cuộc rượt đuổi, đổ vỡ, nước mắt và có cả những câu khó nghe đã diễn ra.

Ở đây có ba câu hỏi chúng ta phải đặt ra và nhận thức lại cho thoả đáng.

1. Thứ nhất, việc bán hàng rong như vậy có mang lại lợi ích gì cho cộng đồng, xã hội không, và ở các thành phố khác trên thế giới có không? Câu trả lời là có nếu nó không làm bẩn môi trường, mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng xấu đến giao thông, ồn ào mất trật tự. Thực sự thì người mua những loại hàng hoá này khá nhiều bởi nó rẻ (do hàng bị lỗi, lạc mốt, sản xuất gia đình, không phải trả tiền mặt bằng và thuế,…). Có người mua chứng tỏ là xã hội có nhu cầu.

Continue reading

SUY NGẪM 51

5 nốt thăng năm 2010:

1. Ngoại giao nâng Việt Nam lên một vị thế đáng kể trên trường quốc tế;

2. GS. Ngô Bảo Châu được giải Fields về toán học;

3. Vinashin là nỗi đau, nhưng cũng là cú huých tốt để Việt Nam chuyển đổi các nền tảng tư duy kinh tế và sở hữu lạc hậu;

4. Từ sự kiện con cá tra nằm trong “danh sách đỏ” của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã có trải nghiệm đáng kể và có được ứng xử nhanh nhạy, mạnh mẽ và thích hợp hơn trong bảo vệ lợi ích của mình;

5. Khu vực kinh tế tư nhân chiếm khoảng 48% tổng GDP của Việt Nam (45,6% tổng GDP năm 2006 ) và tạo ra 50,2% việc làm của cả nước.

5 nốt trầm năm 2010:

1. Pháp luật Việt Nam chưa theo kịp xu thế hội nhập của đất nước, khi nhà làm luật dự liệu Viện Kiểm sát có quyền tham gia 100% vụ việc dân sự và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình;

2. Kinh tế tăng trưởng cao, nhưng không theo kịp sự mất giá của đồng tiền;

3. Chính sách tiền lương cho công chức tiếp tục bất hợp lý, tạo nguy cơ có thực, đẩy công chức vào đối tượng nghèo hoặc cận nghèo nếu chỉ biết sống bằng đồng lương theo đúng nghĩa;

4. Qua sự kiện Vietnam Idol, văn hóa tôn trọng quan điểm, nhận thức của những người khác với mình dường như chưa có trong nhiều người Việt;

5. Sau những sự kiện “ồn ào”, khó có thể thấy Hà Nội đã 1000 năm tuổi.

CIVILLAWINFOR

CÁI ĐỨNG ĐẰNG SAU LUẬT PHÁP

VƯƠNG TRÍ NHÀN

… Ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó…

Luật pháp thường được định nghĩa trong các từ điển như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm cho con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.

Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề. Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều. Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức thường có tính nhân bản, nghĩa là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Đến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hóa, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành nền nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.

… Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, săn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hóa thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Cho đến gần đây lại xảy ra những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy! Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ. Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mới của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội? Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó.

Continue reading

SUY NGẪM 50

SỐ 50

Năm 2011, UBND TP. Đà Nẵng quyết định không tuyển dụng người tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn. Có nhiều lý do để bàn luận và khoan hãy bàn đến tính hợp pháp của quyết định mà cần nhìn nhận vấn đề trên hai phương diện:

– Dưới góc độ người sử dụng lao động, UBND TP. Đà Nẵng có quyền đưa ra tiêu chuẩn đối với người lao động và quyết định trên là bình thường khi nhà tuyển trạch cho rằng, người tốt nghiệp hệ tại chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc quản lý Nhà nước. Câu hỏi đặt ra, việc không “tin tưởng” chất lượng đào tạo hệ tại chức đã được xây dựng dựa trên những luận cứ khoa học nào?

– Dưới góc độ quản lý nhà nước, quyết định của UBND TP. Đà Nẵng đã mâu thuẫn với hai trách nhiệm xã hội cơ bản của Nhà nước dân chủ: Thứ nhất, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội học tập cho công dân và cơ hội được thừa nhận kiến thức đã học; Thứ hai, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội có việc làm cho công dân và sự minh bạch trong việc tuyển dụng người lao động.

Thiết nghĩ, UBND TP. Đà Nẵng nói riêng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam nói chung nên xác định rõ mình ở vị trí nào ở hai phương diện nêu trên trong các quyết định liên quan đến sử dụng và đãi ngộ người lao động.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM 49

Việt Nam đang ở những “bước nhảy”  quan trọng để hoàn thành chỉ tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp năm 2020. Những dự án đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng với số vốn hàng chục ngìn tỷ đồng cho tới hàng trăm nghìn tỷ đồng đã và đang được các chủ đầu tư, các cấp quản lý có thẩm quyền nhiệt tình xây dựng, đề xuất và tranh luận với những quan điểm, luận cứ trái ngược nhau.

Một điều có thể dễ nhận thấy, các dự án đô thị, chung cư cao cấp, khu công nghiệp, dịch vụ … dễ dàng được thông qua, khẩn trương thực hiện và được xem như là thành tựu nổi bật của đổi mới. Trong khi đó, những chính sách phản ánh ưu việt của chế độ xã hội: miễn giảm học phí, miễn giảm viện phí, mở rộng cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo dục, y tế với với vốn đầu tư chắc nhỏ hơn rất nhiều so với đường sắt cao tốc, sửa sang cơ sở hạ tầng cho kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội… thì lại nhận được sự “thờ ơ” đáng ngạc nhiên.

Rõ ràng, nghèo mà cho sạch đáng trân trọng hơn nhiều giàu mà tính nhân văn và sự bền vững của phát triển xã hội bị thử thách.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

LƯƠNG BỔNG

HOÀNG HỒNG MINH

Nó là giá trị lao động của mỗi con người, trong đó có tất cả các yếu tố xã hội đang nhắm tới

Nếu như chữ "lương" tồn tại đã từ rất lâu đời, thì khái niệm "tiền lương hoàn chỉnh" là câu chuyện chưa trở thành hiện thực ở xứ ta, giản đơn là như vậy. Cả một di sản ngàn năm về câu chuyện này. Không dễ giải quyết, nhưng đó chìa khóa để đi vào xã hội hiện đại.

Chữ "lương" xưa đơn giản là gạo mỳ khoai sắn.

Để sai tướng lính đi làm một công việc, một sứ mệnh nào đó, bề trên cấp cho một khoản đồ ăn để "ăn no đánh thắng". Còn lại thì phần thưởng là chuyện khác, chuyện "bổng lộc" về sau.
Mở rộng ra dân gian, để sai hay thuê làm một công việc nào đó, người sai hay người mướn cấp cho người thực hiện một khoản đồ ăn để "trả lương" công thợ.

Câu chuyện là ở chỗ này.

Trong xã hội cổ truyền, tất cả các hình thức sai bảo, thuê việc này đều chưa có thể chế hợp đồng, chưa có thị trường lao động, cùng một hệ thống pháp lý ở tầm mức toàn xã hội để đảm bảo sự ổn định, công bằng cho việc thuê mướn và trả tiền lương.

Để đảm bảo quyền lực tối cao của nhà nước xưa, một cơ chế khác được bảo hành để duy trì sự lệ thuộc mạnh mẽ của đội ngũ quan lại đối với triều đình. Đó là cơ chế bổng lộc.
Trong cơ chế trả lương, người nhận lương và người trả lương không nợ gì nhau nữa. Tiền trao, cháo múc. Cái này nhà vua, nhà chúa tất nhiên không mê gì. Trong cơ chế bổng lộc, cái ân nợ của người được nhận bổng lộc là hiển nhiên.Cái bổng lộc là do bề trên ban phát trực tiếp.Cái bổng lộc này là bao nhiêu, không có gì ràng buộc cả. Cái bổng lộc này là cho mượn, có thể bị đòi lại bất cứ lúc nào.Cái bổng lộc này, ngay cả đã tiêu hết rồi, vẫn là món nợ, có thể bị kể ra để hạch tội bất cứ lúc nào. Và một khi cái bổng lộc bị tước đi, bị đòi lại, thì cả lợi ích sống còn lẫn danh giá của người được hưởng đều tan bay trong phút chốc. Hơn thế nữa, thường là điềm họa đã đến. Trong bổng lộc, không có sự công bằng, sự bảo đảm, sự tôn trọng, sự vững bền, sự tự do.

Continue reading

TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT và văn hoá pháp lý với việc thực hiện pháp luật trong tiến trình hội nhập quốc tế

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính- Nhà nước

Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội văn minh.

Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý. Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới. Bài viết này muốn nói tới yếu tố tâm lý người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý của dân tộc Việt nam với những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong điều kiện hội nhập và phát triển.

1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam

Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới để hình thành một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII đã xác định: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biên thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” . Sự hình thành của các yếu tố văn hoá, trong đó có văn hoá pháp lý ra trong thời gian rất dài và phức tạp với cả những yếu tố khách quan và chủ quan.

Continue reading

TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HOÁ PHÁP LÝ VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính- Nhà nước

Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội văn minh.

Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý. Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới. Bài viết này muốn nói tới yếu tố tâm lý người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý của dân tộc Việt nam với những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong điều kiện hội nhập và phát triển.

1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam

Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới để hình thành một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII đã xác định: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biên thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” . Sự hình thành của các yếu tố văn hoá, trong đó có văn hoá pháp lý ra trong thời gian rất dài và phức tạp với cả những yếu tố khách quan và chủ quan.

Continue reading

NGƯỜI VIỆT CÓ TRUYỀN THỐNG BẤT TUÂN PHÁP LUẬT?

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Vin Nhà nước và Pháp lut

  Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.(Tản Đà)

Cách đây vài năm không ít người Trung Quốc đã từng bị sốc khi cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của nhà văn Bá Dương ra đời. Sốc là phải thôi bởi từ lâu người ta đã quá quen với “những từ có cánh” để cho “cả nhà đều vui” khi nói về dân tộc mình .Thói thường “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” là cách ứng xử đã trở thành chuẩn mực giữa người với người và giữa mình với chính mình. Thế nhưng, một dân tộc mạnh phải biết nhìn thấy và dũng cảm thừa nhận những nhược điểm của mình. Nói cách khác, biết mình yếu ở chỗ nào tức là đã mạnh thêm được một ít. Còn thói xấu của người Việt mình không phải là không có chỉ có điều nó chưa được chỉ mặt đặt tên chính xác thôi. Bất tuân pháp luật – là một thói xấu như vậy.

Pháp luật- chắc nó trừ mình ra

   Biểu hiện của việc bất tuân pháp luật trước hết có thể tìm trong lịch sử. Đó là những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên của người Việt chống lại sự thống trị của ngoại bang trong đêm dài Bắc thuộc, trong những giai đoạn mà triều đình phong kiến đang suy vong và lòng dân không yên…Ngay cả bây giờ, tuy không phải là trào lưu nhưng ý thức tuân thủ pháp luật của dân mình còn kém lắm- có thể kể cả ngày không hết. Nhẹ thì vi phạm luật giao thông, mắt trước mắt sau không thấy cảnh sát đâu là vượt đền đỏ. Cao hơn tý nữa là lấn chiếm đất đai, rồi xây dựng trái phép… Điều đáng buồn nhất là người ta coi việc vi phạm ấy là cái gì đó có vẻ hay ho. Có chị mấy lần vượt đèn đỏ bị công an bắt hụt coi đó là chiến tích âm ỉ sung sướng mấy ngày chưa hết gặp ai cũng khoe. Những người nghành toà án có lẽ không ai là không cảm thấy chua chát khi đương sự của mình gọi mãi không đến hỏi tại sao thì họ bảo các cụ dạy “vô phúc đáo tụng đình” bởi “chờ được vạ thì má đã sưng”. Người ta đã đồng nghĩa pháp luật và toà án với xử phạt và trừng trị. Chính vì vậy, có làm ngành toà mới  có thể chia sẻ với Chánh án TANDTC đương nhiệm khi ông bày tỏ mơ ước trước Quốc hội có một ngày, ngành toà có  những “đương sự tốt, bị cáo tốt”. Có nghĩa là người dân thay vì chống đối hãy coi toà án là người bảo vệ công lý. Cho dù toà có phạt ai đi chăng nữa cũng không ngoài mục đích đem đến sự an toàn pháp lý cho xã hội và bảo vệ con người. Nghe nói ở một số nước, luật bảo vệ môi trường và động vật cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của họ cao đến mức chim bồ câu có thể thanh thản dạo chơi và kiếm ăn hàng đàn trên các quảng trường thành phố và được con người coi ngươi đối xử như những người bạn. Trộm nghĩ nếu như ở nước mình quảng trường có nuôi chim là mơ ước của mấy ông ông bợm nhậu . Chỉ có thịt chim ngon và bổ là có thật còn pháp luật này nọ – chắc nó trừ mình ra.

Continue reading

SUY NGẪM 48

Ngày 5/7/2010, HĐTP TANDTC sẽ xét xử giám đốc thẩm vụ án oan “hiếp dâm tập thể” dành cho 3 chàng trai ở tỉnh Hà Tây cũ, mừng cho công lý sắp trở lại với họ. Điều đáng bàn, người  tìm lại công lý không phải các vị đại diện Viện kiểm sát, các luật sư tham gia tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm mà từ một bác sĩ bình thường biết cảm thông trước nỗi đau của con người …

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã có hiệu lực 06 tháng. Các cơ quan có thẩm quyền đã và đang tích cực sơ kết tình hình thi hành Luật. Gây thiệt hại phải bồi thường là cái đương nhiên trong xã hội dân sự. Song chân lý “cốt yếu” phải là: không hoặc giảm thiểu tối đa việc gây thiệt hại. Thực tế, đã thiệt hại rồi có mấy ai lấy lại đầy đủ những gì mình đã mất?

Để đạt được cái chân lý như vậy, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước, chất lượng đội ngũ công chức, sự minh bạch của pháp luật thì cơ quan thanh tra, kiểm sát và đội ngũ luật sư có đóng vai trò quyết định?! giá mà…

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM SỐ 47

Trong những ngày qua, nghị trường đang nóng vì sự bàn thảo không dứt nên hay không nên xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam? Sự “dùng dằng” không quyết đoán từ phía Chính phủ hay Quốc hội đều có thể để gánh nặng cho đời sau mà cũng có thể đánh mất cơ hội phát triển.

Xét cho cùng, xây dựng con đường “thiên lý mới” là khát vọng không dựa trên tiền của chúng ta, công nghệ của chúng ta. Dù nó được xây dựng trên nhu cầu vì cái gì và khả năng của chúng ta đến đâu? đó cũng là cái nợ. Nợ rất có thể là sự “trả giá” mà con cháu chúng ta phải gánh chịu do sự bất cẩn từ thời chúng ta đang sống?!

Tin cập nhật! Chiều 19/6/2010 Quốc hội quyết định “bấm nút” không thông qua Dự án đường sắt cao tốc. Bất ngờ vì kết quả và mừng vì sự vượt qua chính mình của các đại biểu quốc hội!

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >