HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG ÁN LỆ CỦA TÒA ÁN: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

THS.NCS. ĐỖ THANH TRUNG – Giảng viên Đại học Luật TP.HCM

Đặt vấn đề

Đến nay, pháp luật Việt Nam quy định về cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án một cách rõ ràng không chỉ trong Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP mà còn quy định trong các lĩnh vực pháp luật nội dung lẫn pháp luật hình thức (tố tụng). Cụ thể tại khoản 2 Điều 8 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau”. Tại khoản 2 Điều 6 của BLDS năm 2015 cũng quy định: “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 45 của BLTTDS năm 2015 quy định: “Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau: Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và Khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Dân sự, khoản 1 và khoản 2 điều này”. Nhằm cụ thể khoản 3 Điều 45, BLTTDS năm 2015 còn quy định chi tiết hoạt động áp dụng án lệ của tòa án ở cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại điểm b, khoản 2, Điều 266[1] và khoản 4, Điều 313[2] của Bộ luật này. Ngoài ra, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) cũng quy định cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án ở cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại điểm b, khoản 2, Điều 194[3] và khoản 4, Điều 242[4] của Luật TTHC năm 2015. Hoạt động áp dụng án lệ của tòa án cũng còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên vẫn còn nhiều khó khăn đặt ra cần giải quyết. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích những bất cập còn tồn tại trong hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra những kiến nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án.

1. Một số hạn chế, bất cập về hoạt động áp dụng án lệ 

Thứ nhất, pháp luật quy định Tòa án tuân theo án lệ xuất phát từ hiệu lực pháp lý của án lệ[5] sẽ dẫn đến nguy cơ Tòa án dụng án lệ một cách cứng nhắc. Mặc dù Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP cũng dự liệu trường hợp án lệ không còn phù hợp nên cho phép Tòa án có quyền năng bác bỏ án lệ nhưng Tòa án khó có thể thực hiện quyền năng này. Tại khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP quy định cho phép Tòa án không áp dụng án lệ: “Trường hợp Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ và có phân tích, lập luận nêu rõ lý do trong bản án, quyết định thì ngay sau khi tuyên án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao”. Như vậy, nếu không áp dụng án lệ thì Tòa án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ đến TANDTC.

Continue reading

QUYỀN BỀ MẶT THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS NĂM 2015 VÀ DỰ BÁO MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP

THS. LÊ ĐĂNG KHOA – Giảng viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, bao gồm 689 điều, đã có những quy định rất mới tại phần thứ hai “Quyền sở hữu và Quyền khác đối với tài sản”. Trong đó, quyền bề mặt là một trong những quyền quan trọng, cần được nghiên cứu cụ thể về lý luận để có thể đưa vào thực tiễn tiễn áp dụng một cách hiệu quả và tránh được những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện quyền này. Nội dung bài viết này nhằm khái quát một số vấn đề về quyền bề mặt đồng thời đưa ra những kiến nghị liên quan đến quy định về quyền bề mặt trong BLDS năm 2015.

1. Bản chất và phạm vi tác động của quyền bề mặt

Trong pháp luật La Mã trước đây, các Luật gia cho rằng về bản chất quan hệ tài sản do tính xác định của các quan hệ đó. Để đáp ứng một nhu cầu nào đó, một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua. Khi đã trở thành chủ sở hữu tài sản, họ có toàn quyền đối với tài sản đó, thực hiện tất cả những hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không phụ thuộc vào ý chí cũng như hành vi của người khác. Trường hợp này, họ là người có quyền tuyệt đối đối với tài sản và “hình như” chỉ tồn tại quan hệ giữa họ với tài sản, quyền tài sản ở dạng này gọi là vật quyền (quyền đối vật)[1].

Pháp luật các nước trên thế giới ghi nhận vào trong pháp luật của họ các loại vật quyền khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm pháp luật của từng nước. Trong việc phân loại các vật quyền đó, có thể phân thành vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc hoặc có thể phân loại thành quyền trên tài sản của mình và quyền trên tài sản của người khác. Quyền sở hữu là vật quyền chính yếu và là một quyền tuyệt đối tác động lên tài sản, trong đó người có quyền có thể thông qua hành vi của mình mà không phụ thuộc hành vi của người khác.

Continue reading