Quốc tịch là phạm trù chính trị – pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững giữa Nhà nước và công dân, là dấu hiệu để xác định và phân biệt công dân của nước này với nước khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán”. Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013). Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch năm 1988) và hiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch năm 1998) . Tại các Luật này đều ghi nhận: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch.
Đối với trẻ em, quyền được khai sinh và có quốc tịch là một quyền cơ bản đã được Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016 ghi nhận: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Với những trẻ em khi sinh ra, vì một lý do nào đó mà quyền có quốc tịch này có thể bị ảnh hưởng (do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều là người không có quốc tịch; trẻ bị bỏ rơi…) thì pháp luật về quốc tịch cũng đã dự liệu các trường hợp này để đảm bảo mọi trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch.
Ngay từ Luật đầu tiên về quốc tịch (Luật quốc tịch năm 1988) đã dành 01 điều quy định về quốc tịch trẻ em (Điều 6): (1) Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (2) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (3) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc khi sinh ra cha mẹ đều có nơi thường trú ở Việt Nam, thì có quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp cha mẹ nhất trí lựa chọn quốc tịch khác. Trong trường hợp trẻ em đó sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam và khi sinh cha mẹ đều không có nơi thường trú ở Việt Nam, thì quốc tịch theo sự lựa chọn của cha mẹ; (4) Trẻ em sinh trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch và có nơi thường trú ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; (5) Trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.
Filed under: Quyền nhân thân | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.



Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










