VỤ CÔNG TY THÀNH BƯỞI KIỆN BÁO GIAO THÔNG: TÒA ÁN CÓ QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI?

ĐỖ VIỆT (Báo Công lý)

Tóm tắt vụ việc:

Thời gian qua, báo Giao thông đăng tải một số bài viết với nội dung công ty TNHH Thành Bưởi (Doanh nghiệp Thành Bưởi) né nhiều loại phí, thuế mỗi ngày.

Sau đó, doanh nghiệp Thành Bưởi đã khiếu nại, khởi kiện ra TAND quận 5. TP.HCM vì cho rằng các bài viết của báo Giao thông là không chính xác.

Trong khi Tòa án đang thụ lý, xem xét giải quyết vấn đề thì báo Giao thông vẫn tiếp tục đăng bài. Sau khi xem xét vụ việc, TAND quận 5 đã ra Quyết định số 72/QĐ-BPKCTT, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với báo Giao thông.

Sau đó, Báo Giao thông đã có văn bản khiếu nại quyết định 72 của TAND quận 5 vì cho rằng vi phạm nghiêm trọng điều 4 Luật Báo chí về nhiệm vụ của báo chí: “tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”.

Ngày 28/3, Công ty TNHH Thành Bưởi đã gửi đơn đến TAND quận 5  TP.HCM đề nghị rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với báo Giao thông. Sau khi công ty Thành Bưởi nộp đơn rút yêu cầu, Chánh án TAND Q.5 đã ra quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc TAND quận 5 TP.HCM yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của Công ty TNHH Thành Bưởi và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vụ việc Công ty TNHH Thành Bưởi (có địa chỉ tại 266 – 268, Lê Hồng Phong, phường 4, quận 5 TP.HCM) khởi kiện báo Giao thông (Cơ quan của Bộ Giao thông Vận tải) ra TAND quận 5 TP.HCM  vì cho rằng báo này viết bài sai sự thật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp đang gây nhiều tranh cãi trong dư luận.

Có thông tin cho rằng, TAND quận 5. TP.HCM ban hành Quyết định trái pháp luật. Nhằm giúp bạn đọc có cái đa chiều về trình tự tố tụng và tình chất vụ việc PV  đã ghi nhận các ý kiến của các chuyên gia pháp lý về vấn đề này.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGUỒN PHÁP LUẬT KHÁC

Kết quả hình ảnh cho TRADE SETTLEMENTTHS. NGUYỄN MẠNH THẮNG – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7

1. Thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán thương mại

Nói đơn giản, nguồn của pháp luật là nơi chứa đựng các quy tắc pháp luật hoặc các giải pháp pháp lý để áp dụng cho các trường hợp tranh chấp xảy ra trong tương lai. Về mặt lý luận, nguồn của pháp luật được xem là hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật[1]. Các luật gia Việt Nam quan niệm hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật, và nhận định: “Trong lịch sử đã có ba hình thức được các giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)”[2]. Trong khi đó, các luật gia trên thế giới có quan niệm rộng rãi hơn về nguồn của pháp luật, có thể bao gồm:

(1) Văn bản pháp luật: văn bản lập pháp và văn bản lập pháp ủy quyền;

(2) Tiền lệ pháp: báo cáo pháp luật và án lệ;

(3) Tập quán pháp;

(4) Thói quen ứng xử;

(5) Hợp đồng giữa các bên;

(6) Học thuyết pháp lý;

(7) Lẽ công bằng.

Các loại nguồn này của pháp luật được gộp lại trong hai loại lớn hơn – đó là nguồn pháp luật thành văn và nguồn pháp luật bất thành văn. Văn bản QPPL hay các văn bản lập pháp và các văn bản lập pháp ủy quyền được xem là nguồn pháp luật thành văn. Các nguồn còn lại được xếp vào nguồn pháp luật bất thành văn vì chúng không được ban hành vào một thời điểm cụ thể bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhiều khi thuật ngữ “thành văn” hay “bất thành văn” khiến người ta liên tưởng tới việc thể hiện bằng văn bản hoặc không thể hiện bằng văn bản của các quy tắc pháp luật. Nhưng thực chất theo nghĩa pháp lý, luật thành văn là một tập hợp các quy tắc xử sự được ghi nhận hay quy định trong một hình thức văn bản nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự và thẩm quyền tại một thời điểm xác định. Các quy tắc xuất hiện thiếu một trong các đặc tính như vậy được xem là luật bất thành văn. Tập quán pháp là một trong những loại nguồn pháp luật bất thành văn, nhưng nhiều khi được người ta tập hợp và ghi chép lại dưới dạng văn bản, chẳng hạn như những sách nói về luật tục của đồng bào các dân tộc ít người hay những sách ghi chép các quy tắc tập quán thương mại do một hoặc một số tác giả nghiên cứu, sưu tập và xuất bản…

Continue reading

BÀN VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THUỘC THẨM QUYỀN ÁP DỤNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Kết quả hình ảnh cho commercial ArbitrationTHS. LƯƠNG THANH QUANG – Công ty Luật Rajah & Tann LCT Lawyers

1. Dẫn nhập

Một trong số các ưu điểm vượt trội và được đánh giá rất cao của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 là việc cho phép Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời và chính thức có hiệu lực cho đến nay, gần như không có một quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào được ban hành bởi Trọng tài thương mại[1] mà tuyệt đại đa số các vụ việc tranh chấp, nếu có nhu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đều vẫn phải nhờ Tòa án can thiệp ra quyết định như trước đây. Điều này cho thấy quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng trọng tài ban hành còn khá nhiều hạn chế, bất cập và đặc biệt là xa rời thực tiễn áp dụng.

2. Vừa thừa lại vừa thiếu

Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật TTTM, các BPKCTT thuộc thẩm quyền áp dụng của Hội đồng trọng tài bao gồm 6 biện pháp sau: (i) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; (ii) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng Trọng tài; (iii) Kê biên tài sản đang tranh chấp; (iv) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp; (v) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên; và (vi) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Quy định như vậy, theo tác giả, là vừa thừa lại vừa thiếu. "Thừa" là bởi vì trong số đó có những biện pháp mà thực tế cho thấy nếu có được áp dụng đi nữa thì cũng, hoặc là hoàn toàn vô ích, hoặc là không thể thi hành được. Còn "thiếu" là vì Luật TTTM của chúng ta quy định chỉ có 6 BPKCTT, nên khi một vài (thậm chí là một nửa) trong số đó bất khả thi hoặc vô ích, thì sự thiếu cũng là điều dễ hiểu.

Continue reading

BÌNH ĐẲNG VỀ CHỖ NGỒI

Kết quả hình ảnh cho COURTROOM ĐỨC HIỂN

Tôi đã dự rất nhiều phiên tòa, mà tại đó thay vì trả lời, tranh luận với các luận điểm, luận cứ của luật sư, thì công tố viên chỉ tuyên bố gọn lỏn: “Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, không bổ sung gì thêm”. Cho dù cái quan điểm trong cáo trạng đã được luật sư phân tích rằng vô lý, rằng sai, rằng nó lung lay, không đứng vững.

Tôi nghĩ, những oan sai cũng một phần từ đấy mà ra, khi người ta từ chối tranh luận. Ở những diễn đàn khác, từ chối tranh luận có thể hiểu là do thiếu lý lẽ, là thua. Ở đây ngược lại, cái từ chối tranh luận ấy coi như đặt thêm một bút phê bất lợi vào số phận bị cáo. Và trong những phiên tòa đó, trước quyền lực của Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước, trước quyền uy của ông công tố viên in đậm lên phán quyết, tôi cảm giác luật sư chỉ là một cái bóng mờ.

Trong một thời gian dài, tại Việt Nam, chỗ ngồi của đại diện Viện kiếm sát được bố trí cao hơn chỗ ngồi của luật sư. Công tố viên ở trên bục còn bàn luật sư thì dưới thấp. 

Thật khó để tin rằng những người tham gia tố tụng không thấy sự bất bình đẳng ấy. Và cũng thật khó để tin rằng trong tâm tư mỗi người không gợn lên suy nghĩ công tố viên uy quyền hơn, lời nói của vị này đáng được tôn trọng hơn lời biện hộ của luật sư.

15 năm trước, Pháp luật TP HCM là tờ báo đầu tiên đặt vấn đề luật sư phải ngồi ngang hàng với kiểm sát viên để bàn luận. Đó là trước khi Nghị quyết 08/2003 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp ra đời. Suốt từ đó đến nay, chúng tôi luôn đeo đuổi, đau đáu và tiếp tục cổ xúy, tiến tới hiện thực hóa đề xuất. Mỗi khi có cơ hội là chúng tôi lại đào xới, tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, người dân và những cấp quản lý. 

Bởi chúng tôi hiểu rằng chỗ ngồi không chỉ thể hiện bình đẳng về hình thức mà còn là vị thế của hai bên buộc tội và gỡ tội. Quan trọng hơn, nó đáp ứng được hình thức cho một phiên tòa tranh tụng thực sự theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm cao nhất quyền con người.

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI THỨ BA

Kết quả hình ảnh cho RIGHTS, LEGAL ASSISTANCE OF THIRD PARTY NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (THADS) đã quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Đồng thời, Khoản 4 Điều 54 Luật THADS đã quy định việc thỏa thuận chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thứ  ba. Theo đó, việc xác định người thứ ba trong các trường hợp trên đã có một số ý kiến và quan điểm khác nhau. 

1. Về nội dung một số vụ việc

Trên địa bàn tỉnh Q hiện có nhiều vụ việc khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc vợ chồng ông V và bà D vừa là người được thi hành án, vừa là người phải thi hành án đang do nhiều cơ quan THADS tổ chức thi hành, cụ thể:

(1) Vụ việc thứ nhất:

Ông V và bà D là người được thi hành án trong vụ việc tại Chi cục THADS huyện G, theo đó ông H phải trả ông V và bà D số tiền 450 triệu đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Tuy nhiên, tại Chi cục THADS huyện Đ thì ông V và bà D là người phải thi hành án  tại  04 vụ việc khác với số tiền phải thi hành án trả những người khác là: 1.744.109.000 đồng. 

Ngày 01/7/2016, ông V và bà D đề nghị xóa nợ cho ông H và yêu cầu đình chỉ thi hành án số tiền 450 triệu đồng và lãi chậm thi hành án và cam kết không khiếu nại gì.

Vấn đề đặt ra khi áp dụng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS về đình chỉ thi hành án: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Như vậy, việc xác định người thứ ba theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS có nhiều quan điểm khác nhau: người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc hay người thứ ba có thể là bất kỳ ai, có thể là người khác tại bản án khác hay không?

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT DO CHA MẸ ĐỂ LẠI

Kết quả hình ảnh cho case studyTS. NGUYỄN HẢI AN – TÒA DÂN SỰ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế xảy ra nhưng có những quan điểm giải quyết khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày về một trường hợp tranh chấp cụ thể và những ý kiến xung quanh việc giải quyết; cụ thể như sau:

Nhà trên 381m2 đất tại xã K, huyện G, thành phố H có nguồn gốc của vợ chồng cụ Minh và Bình. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết 1998 đều không để lại di chúc. Cụ Minh, cụ Bình có 03 người con là: ông Hùng, bà Yến (bị câm, điếc bẩm sinh) và bà Liên. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết năm 1998. Sau khi cụ Minh, cụ Bình chết, nhà đất đang tranh chấp do vợ chồng ông Hùng và bà Yến quản lý, sử dụng; bà Liên lấy chồng từ 1978 ở nơi khác. Năm 2003, ông Hùng kê khai, đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình ông Hùng, do ông Hùng là chủ hộ đứng tên; hộ khẩu của bà Yến cùng chung với gia đình ông Hùng. Năm 2009, vợ chồng ông Hùng chuyển nhượng 73,2 m2 trong thửa đất trên cho vợ chồng chị Lan. Bà Yến, bà Liên không đồng ý việc chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hùng nên bà Liên đã làm đơn khởi kiện đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hùng với vợ chồng chị Lan. Bà Liên cho rằng toàn bộ 381m2 đất vẫn là di sản thừa kế của bố, mẹ bà chưa chia: bà và bà Yến có quyền thừa kế đối với diện tích đất của bố mẹ để lại, vợ chồng ông Hùng không được quyền tự ý chuyển nhượng. Vì bà Yến bị câm, điếc bẩm sinh, có nhược điểm về thể chất, ít tiếp xúc với bên ngoài, giao tiếp rất hạn chế; kể cả khi mời giáo viên trường câm điếc, chuyên gia về giao tiếp bằng ký hiệu cũng không giúp cho bà Yến hiểu để bày tỏ ý chí, mà chỉ có ông Hùng, bà Liên hiểu được các dấu hiệu của bà Yến, nên cả hai người là ông Hùng và bà Liên đều nhận là đại diện cho bà Yến.

Xung quanh trường hợp nêu trên, có các quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Vì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ Minh và cụ Bình đều đã hết và không có văn bản thỏa thuận chuyển di sản thuộc sở hữu chung, nên nếu đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải căn cứ khoản 2 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 168, điểm c khoản 1 Điều 192, các khoản 3 và 4 Điều 193 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ông Hùng là người quản lý tài sản và đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có quyền sử dụng và chuyển nhượng; bà Liên không có quyền khởi kiện và không đủ tư cách đại diện cho bà Yến để khởi kiện.

Continue reading

NHÌN VÀO MÃ VẠCH HÀNG HÓA, bạn sẽ biết nó từ đâu, giả hay thật

THANH HỮU – Thư viện Pháp luật (Tổng hợp)

Dù Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng; tuy nhiên, điều tiên quyết là mình tự bảo vệ chính mình trước khi cần người khác bảo vệ mình.clip_image002

 

Bởi vậy, bài viết này xin đề cập về ý nghĩa của mã vạch của hàng hóa để mọi người hiểu rõ nhằm phần nào biết được xuất xứ của hàng hóa, nó là hàng giả hay hàng thật… một cách thuận tiện hơn.

1. Ý nghĩa của 13 con số trên mã vạch hàng hóa

Hiện nay ở Việt Nam, hàng hóa trên thị trường hầu hết áp dụng chuẩn mã vạch EAN của Tổ chức mã số vật phẩm quốc tế – EAN International với 13 con số, chia làm 4 nhóm, có cấu tạo và ý nghĩa từ trái qua phải như sau (như hình minh họa dưới):

clip_image003 clip_image004

– Nhóm 1: Từ trái sang phải, ba chữ số đầu là mã số về quốc gia (vùng lãnh thổ)

– Nhóm 2: Tiếp theo gồm bốn chữ số là mã số về doanh nghiệp.

– Nhóm 3: Tiếp theo gồm năm chữ số là mã số về hàng hóa.

– Nhóm 4: Số cuối cùng (bên phải) là số về kiểm tra.

2. Kỹ năng xem mã vạch – Bước đầu nhận biết hàng thật, hàng giả:

Thứ 1: Xem 3 chữ số đầu tiên của mã vạch và đối chiếu với bảng hệ thống mã vạch quy chuẩn dưới đây để biết được xuất xứ quốc gia của mặt hàng.

Ví dụ: Nếu 3 chũ số đầu là 893 thì mặt hàng này được sản xuất ở Việt Nam, nếu là 690, 691, 692, 693 là của Trung Quốc, 880 là của Hàn Quốc, 885 là của Thái Lan.

Continue reading

NHÌN VÀO MÃ VẠCH HÀNG HÓA, BẠN SẼ BIẾT NÓ TỪ ĐÂU, GIẢ HAY THẬT

THANH HỮU – Thư viện Pháp luật (Tổng hợp)

Dù Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng; tuy nhiên, điều tiên quyết là mình tự bảo vệ chính mình trước khi cần người khác bảo vệ mình.clip_image002

Bởi vậy, bài viết này xin đề cập về ý nghĩa của mã vạch của hàng hóa để mọi người hiểu rõ nhằm phần nào biết được xuất xứ của hàng hóa, nó là hàng giả hay hàng thật… một cách thuận tiện hơn.

1. Ý nghĩa của 13 con số trên mã vạch hàng hóa

Hiện nay ở Việt Nam, hàng hóa trên thị trường hầu hết áp dụng chuẩn mã vạch EAN của Tổ chức mã số vật phẩm quốc tế – EAN International với 13 con số, chia làm 4 nhóm, có cấu tạo và ý nghĩa từ trái qua phải như sau (như hình minh họa dưới):

clip_image003 clip_image004

 

– Nhóm 1: Từ trái sang phải, ba chữ số đầu là mã số về quốc gia (vùng lãnh thổ)

– Nhóm 2: Tiếp theo gồm bốn chữ số là mã số về doanh nghiệp.

– Nhóm 3: Tiếp theo gồm năm chữ số là mã số về hàng hóa.

– Nhóm 4: Số cuối cùng (bên phải) là số về kiểm tra.

2. Kỹ năng xem mã vạch – Bước đầu nhận biết hàng thật, hàng giả:

Thứ 1: Xem 3 chữ số đầu tiên của mã vạch và đối chiếu với bảng hệ thống mã vạch quy chuẩn dưới đây để biết được xuất xứ quốc gia của mặt hàng.

Ví dụ: Nếu 3 chũ số đầu là 893 thì mặt hàng này được sản xuất ở Việt Nam, nếu là 690, 691, 692, 693 là của Trung Quốc, 880 là của Hàn Quốc, 885 là của Thái Lan.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2017/NĐ-CP NGÀY 24 THÁNG 01 NĂM 2017 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KINH DOANH ĐẶT CƯỢC ĐUA NGỰA, ĐUA CHÓ VÀ BÓNG ĐÁ QUỐC TẾ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật đấu thầu ngày 26 tháng 11 năm 2013;

Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;

Căn cứ Luật quảng cáo ngày 21 tháng 6 năm 2012;

Căn cứ Luật thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định về kinh doanh đặt cược đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc kinh doanh, quản lý hoạt động kinh doanh và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh đặt cược đua ngựa, đặt cược đua chó và thí điểm đặt cược bóng đá quốc tế trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Đối tượng áp dụng

a) Các doanh nghiệp kinh doanh đặt cược đua ngựa, đặt cược đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế;

b) Các đối tượng được phép tham gia đặt cược;

c) Các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng liên quan đến việc cấp phép, quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh đặt cược;

d) Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh đặt cược.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2017/NQ-HĐTP NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC CÔNG BỐ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TÒA ÁN

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để áp dụng đúng và thống nhất việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn về nguyên tắc, thủ tục công bố bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án; trách nhiệm của Tòa án trong việc công bố bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

Điều 2. Nguyên tắc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án

1. Việc công bố bản án, quyết định phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo đảm an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục, bí mật điều tra, bí mật công tác, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người dưới 18 tuổi; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Việc công bố bản án, quyết định không được xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Bản án, quyết định được công bố phải bảo đảm chính xác, kịp thời, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và hướng dẫn tại Nghị quyết này.

4. Không được sử dụng bản án, quyết định công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án vào những mục đích trái pháp luật.

Điều 3. Bản án, quyết định được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án

1. Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; bản án phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

2. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; quyết định giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

4. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Continue reading

LUẬT BẢN QUYỀN TÁC GIẢ CỦA NHẬT BẢN (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho Copyright Law of JapanPhần 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Chương 1.  Những nguyên tắc căn bản

(Mục đích)

Điều 1. Luật này qui định quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm cũng như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, phát sóng hoặc truyền đạt bằng phương tiện hữu tuyến, quan tâm chú ý đến việc sử dụng khai thác các tài sản văn hóa này một cách công bình hợp lý để có thể bảo vệ quyền lợi của tác giả.v.v…nhằm đóng góp vào sự phát triển văn hóa.

(Định nghĩa)

Điều 2. Trong Luật này, thuật ngữ sử dụng trong các điều khoản được giải thích theo các điểm sau đây.

1. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo biểu hiện tư tưởng tình cảm thuộc thể loại văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật hoặc âm nhạc.

2. Tác giả là người sáng tác ra tác phẩm.

3. Biểu diễn là thể hiện một tác phẩm trên sân khấu bằng kịch, múa, hát, diễn tấu âm nhạc, ngâm đọc hoặc bằng các phương pháp trình diễn khác (bao gồm các hành vi tương tự dù không phải là diễn xuất nhưng mang tính chất nghệ thuật giải trí).

4. Người biểu diễn là diễn viên, diễn viên múa, nghệ sĩ trình tấu âm nhạc, ca sĩ, hoặc các loại biểu diễn khác cũng như người điều khiển, đạo diễn của cuộc biểu diễn.

5. Bản ghi âm là vật thể trên đó âm thanh được định hình như đĩa, băng thu âm hoặc các dạng bản ghi khác (không bao gồm các âm thanh được ghi kèm theo các tác phẩm có mục đích sử dụng chủ yếu là hình ảnh).

6. Người sản xuất bản ghi âm là người đầu tiên định hình âm thanh trên bản ghi âm.

7. Bản ghi âm thương mại là các bản ghi âm sao chép được sản xuất với mục đích thương mại.

Continue reading

CÔNG KHAI ẢNH NGHI PHẠM: CÁI SAI NỐI TIẾP CÁI SAI

Hình ảnh có liên quan PHƯƠNG DUNG – Báo Pháp luật TPHCM

Diễn đàn “Đăng ảnh nghi phạm ấu dâm: Bạn nghĩ sao?” (từ ngày 14-3 trên báo Pháp luật TP.HCM) về việc nên hay không nên đăng ảnh của nghi can ấu dâm thu hút sự quan tâm, góp ý của đông đảo bạn đọc. Không chỉ các chuyên gia xã hội học, tâm lý, bác sĩ, nhà báo mà nhiều giới khác đều quan tâm sâu sắc vấn đề này.

Đây là một dấu hiệu đáng mừng song nhìn trên tổng thể, cách lựa chọn ứng xử của đám đông lại đưa đến một mối lo ngại khác.

Đa số lựa chọn: “Đăng!”

Ngoại trừ những chuyên gia, người hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em và những bạn đọc khác, đa số ý kiến bạn đọc đều khẳng định “đăng!”. Độc giả Manh Hung nhấn mạnh: “Phải đăng để xã hội đề phòng, đăng thật nhiều trên mọi kênh thông tin”.

Đây cũng là lý do để hàng ngàn người liên tục phát tán chân dung nghi phạm với lý lẽ “mọi người đều có quyền được biết ai là kẻ bệnh hoạn, có nguy cơ cao để phòng tránh”. Thậm chí có bạn đọc còn tuyên bố mạnh mẽ như QuaSQ: “Riêng tội này dù pháp luật không cho phép tôi cũng ủng hộ đăng ảnh nghi phạm” (!?).

Nhiều người cho biết họ có tâm lý sốt ruột khi thấy vụ việc tố cáo thủ phạm ấu dâm bị chậm đưa ra ánh sáng, dù nguyên nhân có thể từ khâu thu thập chứng cứ ban đầu của nạn nhân hay sự vào cuộc chậm chạp của cơ quan chức năng. Điều đó đã thôi thúc họ tự đi tìm công lý.

Cách phản ứng này vẫn đang nhận được nhiều ý kiến ủng hộ. Những bạn đọc Minh Nhân, Linh, Quốc Bảo, Trần Hoàng Dơn… cũng đồng tình “đăng ảnh nghi phạm sẽ gây sức ép, thúc đẩy cơ quan điều tra, tiếp sức gia đình nạn nhân để vụ việc không bị chìm xuồng”.

Đăng là vi phạm pháp luật

Continue reading

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Hình ảnh có liên quan   NGUYỄN GIA NAM

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu giao lưu thương mại quốc tế được mở rộng, song song cũng xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển có yếu tố nước ngoài. Trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp được Tòa án Việt Nam thụ lý gia tăng cả về số lượng và ngày càng có tính chất phức tạp.

Quy định chung

Liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, pháp luật quy định: “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam” thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác. Như vậy, với quy định này, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển mà một bên có trụ sở hoặc chi nhánh tại VN thì chỉ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết. Hệ quả pháp lý có thể phát sinh là:

– Các bên trong hợp đồng không được quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài giải quyết.
– Trong trường hợp, vụ việc được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài quốc gia khác thì bản án, quyết định đó không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Đây là quy định được một số nước trên thế giới áp dụng để xác định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án quốc gia mình. Ví dụ theo khoản 1 Điều 403 Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga thì “Những vụ việc sau đây thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Liên bang Nga: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, nếu người vận chuyển có địa chỉ trên lãnh thổ Liên bang Nga”.

Continue reading

BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ VĂN MINH DU LỊCH (Ban hành theo Quyết định số 718/QĐ-BVHTTDL ngày 02 tháng 03 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Kết quả hình ảnh cho du lịch việt namQuyết định số 718/QĐ-BVHTTDL ngày 02 tháng 03 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có hiệu lực từ ngày ký.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Khái niệm

Bộ Quy tắc ứng xử văn minh du lịch là những Quy định mang tính chuẩn mực nhằm định hướng hành vi, thái độ, thói quen, cách thức ứng xử văn minh của tổ chức và cá nhân khi tham gia các hoạt động du lịch.

Điều 2. Đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Khách du lịch là người Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; người nước ngoài đi du lịch Việt Nam;

2. Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch;

3. Cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch.

Chương II

NỘI DUNG BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ

Điều 3. Những điều cần làm đối với khách du lịch

Mục 1. Nội dung quy tắc ứng xử

1. Tuân thủ các quy định, nội quy hoạt động, biển báo, hướng dẫn của người quản lý tại điểm đến hoặc khi sử dụng dịch vụ giao thông công cộng; quan sát, tuân thủ biển chỉ dẫn tại nhà ga, bến cảng, khu du lịch, điểm du lịch.

2. Xếp hàng theo thứ tự khi sử dụng các dịch vụ hoặc tham gia các hoạt động tại nơi công cộng; ưu tiên giúp đỡ người lớn tuổi, người tàn tật, trẻ em, phụ nữ.

3. Tuân thủ giờ giấc, tôn trọng các thành viên trong đoàn khi đi du lịch tập thể.

4. Sử dụng trang phục lịch sự, phù hợp khi đi du lịch; mặc trang phục nghiêm túc khi tham quan tại những nơi thờ tự tín ngưỡng tôn nghiêm, nghĩa trang liệt sỹ, lễ hội truyền thống.

5. Tôn trọng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của cộng đồng địa phương tại điểm đến.

6. Lên kế hoạch, tìm hiểu trước về điểm đến và dịch vụ, đặt dịch vụ trước khi đi du lịch.

7. Chuẩn bị hành lý gọn gàng, đóng gói cẩn thận, đúng trọng lượng và kích thước theo quy định.

8. Ứng xử văn minh, thân thiện, giữ trật tự nơi công cộng, vui chơi lành mạnh.

Continue reading

QUY TẮC ỨNG XỬ NƠI CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Ban hành kèm theo Quyết định số 1665/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân TP Hà Nội)

Kết quả hình ảnh cho hà nộiQuyết định số 1665/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân TP Hà Nội có hiệu lực kể từ ngày ký.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích

1. Từng bước xây dựng, hình thành những chuẩn mực văn hóa nhằm điều chỉnh lời nói, thái độ, hành vi của cá nhân, tổ chức nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại.

2. Góp phần giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của Thủ đô và đất nước, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

Điều 2. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi áp dụng của Quy tắc là nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2. Đối tượng áp dụng của Quy tắc là các tổ chức và cá nhân làm việc, sinh sống, công tác, tham quan, học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chương II

QUY TẮC ỨNG XỬ CHUNG

Điều 3. Quy tắc ứng xử chung

NÊN LÀM:

1. Tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật; nội quy, quy tắc nơi công cộng.

2. Tôn trọng không gian chung của cộng đồng.

3. Ứng xử lịch thiệp, thân thiện, nhã nhặn, đúng mực.

4. Trang phục lịch sự, phù hợp hoàn cảnh, chuẩn mực xã hội.

5. Quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ người khuyết tật, phụ nữ có thai, người già, trẻ em.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC (Ban hành kèm theo Thông tư số 07 /2017/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Thông tư số 07 /2017/TT-BGDĐT ngày 15/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2017 và thay thế các nội dung về liên kết đào tạo trình độ đại học tại Quyết định số 42/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 28 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định về hoạt động liên kết đào tạo trình độ đại học theo hình thức vừa làm vừa học (sau đây gọi là liên kết đào tạo) bao gồm: điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định thực hiện liên kết đào tạo; quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia liên kết đào tạo; chế độ báo cáo, quản lý hoạt động liên kết đào tạo, chế độ lưu trữ; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.

2. Quy định này áp dụng đối với:

a) Đại học, học viện, trường đại học, kể cả các trường đại học thành viên của đại học quốc gia, đại học vùng (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục đại học);

b) Trường cao đẳng, trường trung cấp (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục nghề nghiệp);

c) Trường của cơ quan nhà nước; trường của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; trường của lực lượng vũ trang nhân dân; trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh.

3. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Liên kết đào tạo có yếu tố nước ngoài;

b) Liên kết đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong văn bản này các từ ngữ được hiểu như sau:

Continue reading

QUY CHẾ ĐÀO TẠO VỪA LÀM VỪA HỌC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2017/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Thông tư số 06/2017/TT-BGDĐT Ngày 15 tháng 3năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2017 và bãi bỏ các nội dung về tuyển sinh, đào tạo trình độ đại học tại Quyết định số 62/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học, Thông tư số 15/2011/TT-BGDĐT ngày 9 tháng 4 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học ban hành kèm theo Quyết định số 62/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008, Quyết định số 36/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định về hoạt động đào tạo vừa làm vừa học (VLVH) trình độ đại học.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với đại học quốc gia, đại học vùng, học viện, trường đại học, bao gồm cả các trường đại học thành viên của đại học quốc gia, đại học vùng (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo) được giao nhiệm vụ đào tạo VLVH trình độ đại học; các tổ chức và cá nhân có liên quan đến quá trình đào tạo VLVH trình độ đại học.

Chương II

HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO

Điều 3. Điều kiện tuyển sinh và yêu cầu tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo

1. Cơ sở đào tạo được tuyển sinh, thực hiện chương trình đào tạo VLVH trình độ đại học đối với những ngành đã có quyết định cho phép mở ngành đào tạo hệ chính quy trình độ đại học và đã tổ chức đào tạo theo tín chỉ.

2. Đã công bố công khai Thông báo tuyển sinh VLVH trong đó nêu rõ phương thức tuyển sinh, chỉ tiêu tuyển sinh, thời điểm tuyển sinh, địa điểm tổ chức tuyển sinh chậm nhất 3 tháng trước ngày tuyển sinh.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN CƠ SỞ RÀ SOÁT BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho AMENDING AND SUPPLEMENTING THE LAW ON CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015 (BLDS) đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24-11-2015, gồm 27 chương, 689 điều. Trong điều kiện hiện nay, khi bên cạnh BLDS đã và đang tồn tại ngày càng nhiều các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động đặc thù như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật hôn nhân và gia đình, Luật Thi hành án dân sự… Như vậy, trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành, BLDS đứng ở vị trí trung tâm với tư cách là luật gốc. Trên cơ sở đạo luật gốc này, qua quá trình rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, có một số vấn đề trong pháp luật thi hành án dân sự cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Qua rà soát sơ bộ cho thấy có 16 vấn đề liên quan tại 91 điều của BLDS 2015 so với các văn bản về thi hành án dân sự (THADS). Trong số 16 vấn đề được rà soát cho thấy có 11/16 vấn đề quy định của pháp luật THADS phù hợp với quy định của BLDS 2015 được đề nghị giữ nguyên và tiếp tục thực hiện, nhưng cũng có 05 vấn đề chưa phù hợp với quy định của BLDS 2015 cần sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

1. Các quy định của pháp luật THADS phù hợp với BLDS 2015

(1) Quy định về thỏa thuận thi hành án: Điều 3 BLDS 2015; Điều 6 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 ( Luật THADS); Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự ( Nghị định 62);

(2) Quy định về hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân: Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 91, Điều 92, Điều 93 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 54 Luật THADS;

(3) Quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án: Điều 365, Điều 366, Điều 367, Điều 368, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 615 BLDS 2015; Điều 54 Luật THADS; Điều 15 Nghị định số 62;

Continue reading

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ƯU TIÊN THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN

Kết quả hình ảnh cho PRIORITY PAYMENT FOR CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN HẰNG 

Tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó”. Đồng thời, Khoản 3 Điều 47 Luật THADS quy định: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm”. Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc cụ thể cần xác định thanh toán tiền thi hành án cho đúng với quy định nêu trên còn có một số ý kiến và quan điểm khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến một vụ việc cụ thể cần có quan điểm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Nội dung vụ việc:

Bà bà Huỳnh Thị L phải thi hành 02 quyết định của Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh K, cụ thể:

* Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 79/QĐST-DS ngày 12/6/2012 xét xử, quyết định: … Bà Nguyễn Thị M và bà Huỳnh Thị L phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền nợ gốc là 596.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 04/6/2012 là 22.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 618.000.000 đồng (Sáu trăm mười tám triệu đồng). Hai bên thống nhất cách trả nợ như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Dương Thị H thỏa thuận đồng ý cho bà M và bà L cùng chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi là 618.000.000 đồng trong thời gian 05 tháng, kể từ ngày 04/6/2012 đến ngày 04/11/2012.
Hai bên tự giao nhận tiền hoặc giao nhận do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá thực hiện.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Continue reading