VỤ CÔNG TY THÀNH BƯỞI KIỆN BÁO GIAO THÔNG: TÒA ÁN CÓ QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI?

ĐỖ VIỆT (Báo Công lý)

Tóm tắt vụ việc:

Thời gian qua, báo Giao thông đăng tải một số bài viết với nội dung công ty TNHH Thành Bưởi (Doanh nghiệp Thành Bưởi) né nhiều loại phí, thuế mỗi ngày.

Sau đó, doanh nghiệp Thành Bưởi đã khiếu nại, khởi kiện ra TAND quận 5. TP.HCM vì cho rằng các bài viết của báo Giao thông là không chính xác.

Trong khi Tòa án đang thụ lý, xem xét giải quyết vấn đề thì báo Giao thông vẫn tiếp tục đăng bài. Sau khi xem xét vụ việc, TAND quận 5 đã ra Quyết định số 72/QĐ-BPKCTT, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với báo Giao thông.

Sau đó, Báo Giao thông đã có văn bản khiếu nại quyết định 72 của TAND quận 5 vì cho rằng vi phạm nghiêm trọng điều 4 Luật Báo chí về nhiệm vụ của báo chí: “tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”.

Ngày 28/3, Công ty TNHH Thành Bưởi đã gửi đơn đến TAND quận 5  TP.HCM đề nghị rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với báo Giao thông. Sau khi công ty Thành Bưởi nộp đơn rút yêu cầu, Chánh án TAND Q.5 đã ra quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc TAND quận 5 TP.HCM yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của Công ty TNHH Thành Bưởi và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vụ việc Công ty TNHH Thành Bưởi (có địa chỉ tại 266 – 268, Lê Hồng Phong, phường 4, quận 5 TP.HCM) khởi kiện báo Giao thông (Cơ quan của Bộ Giao thông Vận tải) ra TAND quận 5 TP.HCM  vì cho rằng báo này viết bài sai sự thật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp đang gây nhiều tranh cãi trong dư luận.

Có thông tin cho rằng, TAND quận 5. TP.HCM ban hành Quyết định trái pháp luật. Nhằm giúp bạn đọc có cái đa chiều về trình tự tố tụng và tình chất vụ việc PV  đã ghi nhận các ý kiến của các chuyên gia pháp lý về vấn đề này.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGUỒN PHÁP LUẬT KHÁC

Kết quả hình ảnh cho TRADE SETTLEMENTTHS. NGUYỄN MẠNH THẮNG – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7

1. Thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán thương mại

Nói đơn giản, nguồn của pháp luật là nơi chứa đựng các quy tắc pháp luật hoặc các giải pháp pháp lý để áp dụng cho các trường hợp tranh chấp xảy ra trong tương lai. Về mặt lý luận, nguồn của pháp luật được xem là hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật[1]. Các luật gia Việt Nam quan niệm hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật, và nhận định: “Trong lịch sử đã có ba hình thức được các giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)”[2]. Trong khi đó, các luật gia trên thế giới có quan niệm rộng rãi hơn về nguồn của pháp luật, có thể bao gồm:

(1) Văn bản pháp luật: văn bản lập pháp và văn bản lập pháp ủy quyền;

(2) Tiền lệ pháp: báo cáo pháp luật và án lệ;

(3) Tập quán pháp;

(4) Thói quen ứng xử;

(5) Hợp đồng giữa các bên;

(6) Học thuyết pháp lý;

(7) Lẽ công bằng.

Các loại nguồn này của pháp luật được gộp lại trong hai loại lớn hơn – đó là nguồn pháp luật thành văn và nguồn pháp luật bất thành văn. Văn bản QPPL hay các văn bản lập pháp và các văn bản lập pháp ủy quyền được xem là nguồn pháp luật thành văn. Các nguồn còn lại được xếp vào nguồn pháp luật bất thành văn vì chúng không được ban hành vào một thời điểm cụ thể bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhiều khi thuật ngữ “thành văn” hay “bất thành văn” khiến người ta liên tưởng tới việc thể hiện bằng văn bản hoặc không thể hiện bằng văn bản của các quy tắc pháp luật. Nhưng thực chất theo nghĩa pháp lý, luật thành văn là một tập hợp các quy tắc xử sự được ghi nhận hay quy định trong một hình thức văn bản nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự và thẩm quyền tại một thời điểm xác định. Các quy tắc xuất hiện thiếu một trong các đặc tính như vậy được xem là luật bất thành văn. Tập quán pháp là một trong những loại nguồn pháp luật bất thành văn, nhưng nhiều khi được người ta tập hợp và ghi chép lại dưới dạng văn bản, chẳng hạn như những sách nói về luật tục của đồng bào các dân tộc ít người hay những sách ghi chép các quy tắc tập quán thương mại do một hoặc một số tác giả nghiên cứu, sưu tập và xuất bản…

Continue reading

BÀN VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THUỘC THẨM QUYỀN ÁP DỤNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Kết quả hình ảnh cho commercial ArbitrationTHS. LƯƠNG THANH QUANG – Công ty Luật Rajah & Tann LCT Lawyers

1. Dẫn nhập

Một trong số các ưu điểm vượt trội và được đánh giá rất cao của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 là việc cho phép Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời và chính thức có hiệu lực cho đến nay, gần như không có một quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào được ban hành bởi Trọng tài thương mại[1] mà tuyệt đại đa số các vụ việc tranh chấp, nếu có nhu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đều vẫn phải nhờ Tòa án can thiệp ra quyết định như trước đây. Điều này cho thấy quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng trọng tài ban hành còn khá nhiều hạn chế, bất cập và đặc biệt là xa rời thực tiễn áp dụng.

2. Vừa thừa lại vừa thiếu

Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật TTTM, các BPKCTT thuộc thẩm quyền áp dụng của Hội đồng trọng tài bao gồm 6 biện pháp sau: (i) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; (ii) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng Trọng tài; (iii) Kê biên tài sản đang tranh chấp; (iv) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp; (v) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên; và (vi) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Quy định như vậy, theo tác giả, là vừa thừa lại vừa thiếu. "Thừa" là bởi vì trong số đó có những biện pháp mà thực tế cho thấy nếu có được áp dụng đi nữa thì cũng, hoặc là hoàn toàn vô ích, hoặc là không thể thi hành được. Còn "thiếu" là vì Luật TTTM của chúng ta quy định chỉ có 6 BPKCTT, nên khi một vài (thậm chí là một nửa) trong số đó bất khả thi hoặc vô ích, thì sự thiếu cũng là điều dễ hiểu.

Continue reading