KỸ NĂNG ĐIỀU TRA CỦA LUẬT SƯ

Kết quả hình ảnh cho lawyerTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng luật sư Hàn Sĩ Huy

Hiện nay, hoạt động điều tra, đặc biệt là trong vụ án hình sự, thường do các cơ quan điều tra Nhà nước (hệ thống cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và trong Quân đội nhân dân) thực hiện. Theo đó, các chứng cứ, bằng chứng do các cơ quan này thu thập theo trình tự tố tụng có giá trị là chứng cứ, chứng minh trong quá trình tố tụng. Việc tự điều tra của luật sư (LS)nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án/việc, tuy không bị pháp luật hiện hành cấm, nhưng không có giá trị chứng cứ, chứng minh và chưa được nghiên cứu thấu đáo trong quá trình hành nghề của LS.

1. Điều tra là gì?

Xét về từ nguyên, học giả Đào Duy Anh nhìn nhận “Điều tra” có nghĩa là “Khảo sát sự thực (enquêter, examiner)”[1]. Xét về lý luận luật học, “Điều tra” là “công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Bộ luật Tố tụng hình sự dành cả Chương VIII để quy định về điều tra”[2] (Theo Bộ luật Tố tụng hình sự mới năm 2015 là Chương X Những quy định chung về điều tra trong vụ án hình sự). Theo nhóm tác giả này, hoạt động điều tra cần làm rõ các nội dung sau[3]:

+ Có hành vi phạm tội hay không? Nếu có thì theo khoản nào của Bộ luật Hình sự?

+ Ai là người phạm tội? Cố ý hay vô ý? Ai là đồng phạm, vv… Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và mọi tình tiết cần thiết khác.

+ Thiệt hại thực tế do tội phạm gây ra.

+ Điều tra xong phải có kết luận. Tùy theo kết luận mà có biện pháp xử lý thích đáng.

Sâu hơn nữa, xét về chuyên môn điều tra, theo Nguyễn Ngọc Anh, “Điều tra” là “hoạt động thu thập thông tin tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Điều tra được tiến hành bằng nhiều hình thức, như: điều tra công khai, điều tra bí mật, điều tra trực tiếp hoặc điều tra gián tiếp…Điều tra trong tố tụng hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện (trong một số trường hợp do các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện), trong đó Cơ quan điều tra có nhiệm vụ điều tr ở giai đoạn đầu để làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án của Cơ quan điều tra và khi cần thiết cũng có thể trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, Tòa án thực hiện nhiệm vụ điều tra thông qua việc thẩm vấn công khai các tài liệu, chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Điều tra vụ án hình sự được cơ quan điều tra tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tổ chức, bộ máy, thẩm quyền cụ thể của các cơ quan điều tra được quy định tại Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành”[4]. Trong khi đó, nhóm tác giả Học viện Cảnh sát nhân dân định nghĩa “Điều tra vụ án hình sự là hoạt động điều tra của những cơ quan điều tra và những cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự, nhằm chứng minh sự thật của vụ án theo yêu cầu của pháp luật”[5] và “là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự, phục vụ cho việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng hình sự”[6].

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG: VAI TRÒ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho creditors' rights ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả…

Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và hệ thống pháp luật về ngân hàng nói riêng của Việt Nam đã và đang được xây dựng, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Hệ thống pháp luật ngân hàng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng và đã góp phần tích cực làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn thành vai trò là trung gian tài chính, huy động, cung cấp vốn và các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển năng động của nền kinh tế và quá trình hội nhập cũng làm cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong thời gian vừa qua, mặc dù được sửa đổi, bổ sung thường xuyên, nhưng hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng (TCTD). Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả, hệ thống cưỡng chế thi hành các thỏa thuận, hợp đồng không được xây dựng, vận hành có hiệu quả, chưa là chỗ dựa tin cậy cho các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới [1], thời gian bình quân để giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo con đường Tòa án là 400 ngày, với chi phí 29% giá trị khoản nợ và Chỉ số Chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18. Đồng thời, số lượng vụ việc thi hành án dân sự liên quan tín dụng ngân hàng còn tồn đọng chưa được thi hành 2016 là 15.949 việc với giá tiền tồn đọng, chưa được thi hành là 58.997 tỷ đồng [2].

Thực tế này cũng tạo điều kiện cho kỷ luật hợp đồng không được các bên liên quan tuân thủ, các quyền hợp pháp của chủ nợ (bao gồm cả các TCTD) không được bảo đảm, dẫn đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn và các ngân hàng vẫn phải cho vay chủ yếu dựa nhiều vào tài sản bảo đảm. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nợ xấu của hệ thống ngân hàng còn ở mức cao đe dọa sự ổn định, an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD. Do vậy, để xây dựng và thực thi có hiệu quả hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD, việc tăng cường nhận thức về vai trò của hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ của các bên liên quan đặc biệt là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật là rất cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD đối với doanh nghiệp và nền kinh tế và các yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hiệu quả.

Continue reading