KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM

Kết quả hình ảnh cho integrationTHS. PHẠM THANH NGỌC – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

1. Anh

Luật Ngân hàng Anh (Banking Act 2009, s255.4.f. iv) cho phép một bên thực hiện quyền được quy định trong văn bản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm mà đã thống nhất việc cần hoặc không cần tới phán quyết của tòa án. Như vậy, ngoài việc xử lý tài sản bảo đảm theo phán quyết của tòa án, các bên có thể được trao quyền tự xử lý tài sản bảo đảm mà không cần thực hiện thủ tục khởi kiện ra tòa.

2. Thái Lan

Thái Lan không có quy định đặc thù áp dụng cho xử lý tài sản đảm bảo trong lĩnh vực ngân hàng. Việc xử lý tài sản bảo đảm được áp dụng chung cho mọi chủ thể dân sự.

Trước đây, pháp luật Thái Lan yêu cầu việc xử lý tài sản bảo đảm phải thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/07/2016, sau khi Luật Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh (Business Collateral Act 2015) có hiệu lực thi hành, trong một số trường hợp quy định tại Luật thì chủ nợ có quyền tự xử lý tài sản bảo đảm. Một số điểm chính trong Luật mới Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh như sau:

– Tài sản bảo đảm bao gồm: dự án, khoản phải thu, bất động sản trực tiếp phục vụ phát triển dự án, sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ, và các loại tài sản khác theo quy định tại văn bản cấp Bộ.

– Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên vay vẫn có quyền sở hữu tài sản bảo đảm và khai thác tài sản trong suốt quá trình bảo đảm cho khoản vay. (Trước đây, pháp luật không cho phép bên vay được giữ quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm là động sản trong suốt thời gian vay).

Continue reading

QUYỀN XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM: NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Hình ảnh có liên quanAGRIBANK

Thế chấp tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự. Khi nghĩa vụ dân sự được đảm bảo không thực hiện theo cam kết, thì tài sản bảo đảm được xử lý để thực hiện nghĩa vụ. 

Trong hoạt động tín dụng, thế chấp tài sản được xem là biện pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, đây là nguồn thu thứ hai để có thể thu một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi của khoản nợ.

Trong thực tế, khi phát sinh nợ xấu phần lớn khách hàng vay khó khăn về tài chính, thậm chí ngừng hoạt động, giải thể, phá sản nên việc xử lý tài sản bảo đảm có tính quyết định trong việc thu hồi để giảm tỷ lệ nợ xấu cho mỗi TCTD nói riêng, nền kinh tế nói chung.

Để xử lý tài sản có hiệu quả, vấn đề quyền xử lý tài sản của TCTD – bên nhận bảo đảm là một trong những yếu tố có tính quyết định. Thực tế hiện nay quyền xử lý tài sản bảo đảm bảo của TCTD bị hạn chế, thậm chí bị vi phạm dẫn đến việc xử lý tài sản gặp nhiều khó khăn. Quyền xử lý tài sản của TCTD không được đảm bảo, không được bảo vệ theo những nguyên tắc của Bộ luật dân sự.  

Qua thực tế xử lý tài sản bảo đảm, bài viết sẽ nêu một số hạn chế về quyền xử lý tài sản phát sinh tại Agribank, nguyên nhân và kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đầy đủ quyền xử tài sản của các TCTD.

1. Những hạn chế, khó khăn khi thực hiện quyền xử lý tài sản

Một là: Khó khăn trong việc thực hiện quyền thu giữ tài sản

Theo quy định pháp luật, TCTD – người nhận bảo đảm là người xử lý tài sản được quyền thu giữ tài sản để xử lý tài sản bảo đảm. Theo điều 63 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Điều 9 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT- BTP-BTNMT-NHNN ngày 06 tháng 6 năm 2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản có quy định: Người giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản, hết thời hạn theo thông báo bên giữ tài sản không giao tài sản người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Người xử lý tài sản có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã và Cơ quan công an áp dụng các biện pháp để thực hiện quyền thu giữ.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho JAPAN CIVIL CODETS. NGUYỄN LAN HƯƠNG, KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bảo lãnh bằng tài sản là hình thức áp dụng phổ biến ở Nhật Bản trong quan hệ tín dụng bên cạnh bảo lãnh bằng uy tín dễ dàng thực hiện. Trong bảo lãnh bằng tài sản, người bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện cam kết bảo lãnh khi người được bảo lãnh là con nợ không hoàn trả được khoản vay.

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định nghĩa vụ duy trì bảo đảm tại Điều 504. Theo đó, để bảo đảm thu hồi khoản nợ, các ngân hàng phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Các biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện trong hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng như các giao dịch dân sự, thương mại khác.

Với lịch sử lâu đời của ngành kinh doanh ngân hàng và bề dày lịch sử tồn tại của Bộ Luật dân sự, các quy định về biện pháp bảo đảm có những đặc thù riêng và đặc biệt được áp dụng linh hoạt trong hoạt động cho vay của các ngân hàng và nhiều thỏa thuận đã được án lệ công nhận. 

Bài viết đề cập đến một số điểm đặc thù trong quy định và áp dụng biện pháp bảo đảm theo Bộ Luật dân sự Nhật Bản.

1. Quyền bảo đảm

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định về quyền bảo đảm: quyền cầm cố, quyền thế chấp và bảo lãnh. Về cơ bản, quyền cầm cố được sử dụng bảo đảm trái quyền, con nợ hoặc người thứ 3 thiết lập quyền cầm cố giao tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản cho người nhận cầm cố chiếm hữu, khi con nợ không trả được nợ, người nhận cầm cố có quyền phát mại tài sản cầm cố. Còn quyền thế chấp được gọi là quyền được thanh toán trái quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác khi con nợ thiết lập quyền thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ đi vay. Đây là các vật quyền bảo đảm thực hiện hợp đồng, cầm cố có điều kiện chuyển giao quyền chiếm hữu.

Continue reading