VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT, HƯỚNG DẪN THI HÀNH

Kết quả hình ảnh cho intellectual property rights in the information technology THS. QUẢN TUẤN AN – CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ, BỘ VHTTDL

Theo Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31.12.2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, bài nghiên cứu này phục vụ cho công tác soạn thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ Internet, viễn thông và các dịch vụ trung gian khác liên quan đến bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan[1] trong môi trường kỹ thuật số và Internet.

1. Cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn việc truy nhập hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan:

Luật Công nghệ thông tin đặt ra quy định mang tính nguyên tắc về quản lý và sử dụng thông tin số[2], theo đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm việc truy nhập và sử dụng thuận lợi thông tin số. Tổ chức, cá nhân có quyền tự do sử dụng thông tin số vào mục đích chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Việc cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số phải bảo đảm không vi phạm quy định về nội dung thông tin số và các quy định pháp luật khác có liên quan, được liệt kê về các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm các hành vi “xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công nghệ thông tin; sản xuất, lưu hành sản phẩm công nghệ thông tin trái pháp luật”[3]. Trích dẫn thông tin số, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nêu rõ nguồn của thông tin đó, không được trích dẫn nội dung thông tin số của tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp chủ sở hữu thông tin số đã có cảnh báo hoặc pháp luật quy định việc trích dẫn thông tin là không được phép.[4]

Luật Công nghệ thông tin cũng quy định ngoại lệ về truyền đưa thông tin số của tổ chức cá nhân khác mà không phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin được lữu trữ tự động, trung gian, tạm thời do yêu cầu kỹ thuật nếu hoạt động lưu trữ tạm thời nhằm mục đích phục vụ cho việc truyền đưa thông tin và thông tin được lưu trữ trong khoảng thời gian đủ để thực hiện việc truyền đưa. Đồng thời, tổ chức, cá nhân truyền đưa thông tin số có trách nhiệm tiến hành kịp thời các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoại lệ này là phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ, kể cả trong trường hợp tạo ra bản sao tạm thời để phục vụ công tác truyền đưa thông tin do cá nhân, tổ chức thực hiện bằng các phương tiện, thiết bị của mình[5].

Continue reading

QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VÀ NGUY CƠ GIA TĂNG NỢ XẤU

Kết quả hình ảnh cho STATUTETS. BÙI ĐỨC GIANG -Giảng viên Công ty TNHH tư vấn và đào tạo BankPro

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể này mất quyền khởi kiện. Đối với các ngân hàng, do việc xử lý nợ thông qua khởi kiện là một kênh quan trọng để đòi vốn và lãi, nên những thay đổi về thời hiệu khởi kiện sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của hoạt động này.

Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng được nâng từ 2 năm theo Bộ luật dân sự 2005 lên thành 3 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429). Cần lưu ý Điều 184, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nêu rõ thời hiệu khởi kiện sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 20151.

Hạn chế dễ thấy của Bộ luật dân sự 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2017) nằm ở chỗ bộ luật này chưa có các quy định cụ thể giúp xác định ngày mà quyền và lợi ích hợp pháp của bên khởi kiện bị xâm phạm trong quan hệ hợp đồng, đặc biệt khi hành vi xâm phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau hay đối với nghĩa vụ mà các bên không thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực hiện. Điều này, sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật trừ khi ngành Tòa án có các hướng dẫn chi tiết về vấn đề này.

Thời hiệu khởi kiện hợp đồng tín dụng

Như nêu ở trên, theo quy định mới, thời hiệu để ngân hàng khởi kiện đòi lãi đối với khoản vay sẽ là 3 năm. Như vậy, ngân hàng sẽ có thêm thời gian để quyết định khởi kiện và đây là một tín hiệu tốt. Tuy nhiên, Điều 155, Bộ luật dân sự 2015 nêu 4 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện, bao gồm (i) yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản, (ii) yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, (iii) tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và (iv) trường hợp khác do luật quy định. Trong các trường hợp này có thể khởi kiện vào bất cứ thời điểm nào tính từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể liên quan bị xâm phạm, chứ không bị hạn chế bởi thời hiệu 3 năm nêu ở trên. Dễ thấy trong danh sách này không có tranh chấp về đòi lại tài sản được quy định tại Điều 159, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 – vốn là cơ sở pháp lý mà ngân hàng dựa vào để yêu cầu Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đòi nợ gốc của các khoản tín dụng đã cấp. Điều đó, có nghĩa là theo quy định mới, thời hiệu để ngân hàng khởi kiện đối với nợ gốc (thường được hiểu là bao gồm cả việc xử lý tài sản bảo đảm) về nguyên tắc dường như chỉ còn là 3 năm, trừ trường hợp Luật các tổ chức tín dụng có quy định khác2! Nói cách khác, dường như sẽ không còn có sự khác biệt về thời hiệu khởi kiện giữa việc đòi nợ gốc và đòi nợ lãi như hiện nay nữa!

Continue reading