LÝ THUYẾT CÔNG TY VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG VÀO CẢI CÁCH HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kết quả hình ảnh cho firm theoryTS. VÕ TRÍ HẢO – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TPHCM

1. Từ quan niệm về nhà nước – công ty đến việc nghẫm lại chức năng hiến pháp

Công ty cổ phần và nhà nước là hai thực thể nhân tạo, do con người lập ra, quay lại phục vụ con người. Nếu nhà nước phong kiến, độc tài chỉ phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ, thì nhà nước của dân do dân vì dân có bổn phận phục vụ tất cả các thành viên trong xã hội. Tương tự như vậy công ty cổ phần là của cổ đông, do cổ đông, vì cổ đông. Thế nhưng tại sao hiệu quả quản trị trong các công ty cổ phần (tư nhân) thường cao, còn quản lý nhà nước thường được các văn kiện Đảng nhắc nhở là „còn yếu kém“; tại sao hiện tượng bội tín trong các công ty cổ phần không nhiều, nhưng hiện tượng tham nhũng trong các cơ quan nhà nước lại tràn lan đến mức Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xem là một trong ba nguy cơ của quốc gia; tại sao trong cùng nền văn hóa „duy tình“ của người Việt nhưng việc tuyển dụng con cha cháu ông lại diễn ra phổ biến trong các cơ quan nhà nước, trong khi tại các công ty cổ phần tư nhân thì không?

Từ những vấn đề này tác giả muốn phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa công ty cổ phần và nhà nước của dân do dân vì dân với hy vọng đưa những tinh túy của quản trị doanh nghiệp vào trong quản lý nhà nước.

1.1. Mục đích, Nguồn gốc quyền lực

Thủa hồng hoang, khi loài người mới hình thành, thì những tập tính của động vật còn rất rõ nét, chưa có trật tự như xã hội ngày nay: khi đó con người có quyền giết người khác – tựa như việc hai con bò húc nhau không phải xin phép ai – ;nhưng mình có người quyền giết người khác thì người khác cũng có quyền giết mình. Loài người thông minh đã nhanh chóng nhận ra rằng việc để cho từng cá nhân tiếp tục nắm giữ quyền giết người này thì sẽ rất nguy hại cho sự tồn tại của loài người. Nên họ đã cùng nhau thỏa thuận trao những quyền nguy hiểm như vậy cho một chủ thể trung gian hành xử. Chủ thể trung gian này chính là tiền thân của nhà nước.

Continue reading

TRIỂN KHAI THỰC HIỆN “HỢP ĐỒNG THEO MẪU – ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG” TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

terms-and-conditions TS. DƯƠNG HỒNG PHƯƠNG

Việc Chính phủ ban hành các văn bản quy định Danh mục các loại hình dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu/điều khoản giao dịch chung nhằm cụ thể hóa hơn quyền lợi của người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ người tiêu dùng ngày 17/11/2010 là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao. Quan tâm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng là một xu thế tất yếu thể hiện sự ưu việt của nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta đã lựa chọn, do vậy, toàn ngành Ngân hàng nói chung, các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng hoàn toàn ủng hộ chủ trương bảo vệ người tiêu dùng của Chính phủ.

BLDS NĂM 2015:
Điều 405. Hợp đồng theo mẫu

… Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng.

Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật….

Điều 406. Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng (bổ sung)

… Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.

Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định của pháp luật.

CIVILLAWINFOR

Ngày 20/8/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (Quyết định 35), các NHTM nghiêm túc tuân thủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định 35, các NHTM đã gặp một số khó khăn, phát sinh thêm một số thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Continue reading

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Property conditions HOÀNG THỊ THU TRANG – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014) có hiệu lực từ 01/7/2015, đã khắc phục được nhiều bất cập, vướng mắc sau 06 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi là Luật THADS năm 2008). Tuy nhiên, để các quy định pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, về xác minh điều kiện thi hành án nói riêng tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp, bắt nhịp kịp với cuộc sống vốn dĩ sinh động này thì việc nhìn nhận một cách toàn diện thực trạng quy định pháp luật và dự liệu những khó khăn, vướng mắc sẽ gặp phải trong xác minh thi hành án dân sự để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị thiết thực, có hiệu quả là hết sức cần thiết.

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi Chấp hành viên cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chỉ có 01 quy định tại khoản 4 Điều 13 về nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên: “Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp xử lý tang vật, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án”.

Continue reading