TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: ÁN OAN

TÔN ÁI NHÂN

Những năm gần đây một số kỳ họp Quốc hội đã công khai đưa vấn đề án oan để chất vấn các vị Bộ trưởng ngành pháp luật một cách thẳng thắn, nghiêm túc đầy cởi mở và dân chủ để tránh những án oan, khổ đau cho người dân vô tội. Đây là việc làm đúng.

Quả thực, từ ngày thành lập nước đến nay ngành luật pháp đã có nhiều cố gắng, nhưng cũng không tránh khỏi oan sai. Xin đơn cử một số vụ điển hình:

Trước hết, phải bỏ qua các vụ án oan trong thời kỳ diệt tề trừ gian và Cải cách ruộng đất. Thời chống Pháp, nổi lên là vụ địch đã tung đòn phản gián tạo ra vụ H122 làm ta bắt oan hàng trăm người. Sau Bác Hồ chỉ thị đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp đi sửa sai. Vụ Ngô Cường, Trưởng ty Công an Quảng Yên cũng tương tự, bị bắt oan khiến ông ta  phải tự minh oan bằng cách mổ bụng tự tử tới hai lần. Mãi sau này mới minh oan!

Hoà bình lập lại, ngành luật pháp đã phấn đấu cải tiến nhiều, nhưng án oan về chính trị và hình sự vẫn tiếp diễn. Vụ Võ An Khang ở Nhà máy gỗ Cầu Đuống nghi mâu thuẫn nội bộ giết nhau bắt oan một cấp phó, nhưng thực ra ông ta tự tử. Vụ giết chị Là ở Đông Triều khiến ba công dân lương thiện: Mạch, Chồi, Tương mỗi người phải tù oan tới 11 năm. Điều đáng nói là ba công dân này vào tù tháng nào cũng viết ba đơn kêu oan gửi tới ba cơ quan Công an, Tòa án và Viện khiểm sát. Đơn kêu oan suốt mười một năm lên tới hàng ngàn, khiến ông Hoàng Quốc Việt lúc đó làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thốt lên:“Nếu không bị oan thì liệu họ có kiên trì viết đơn nhiều đến thế” Và ông đã chỉ thị cho Công an khu Hồng Quảng điều tra lại. Cái đặc biệt của vụ án là đồng chí trực tiếp điều tra sai trước đây lại tình nguyện xin điều tra lại để tìm cái sai của chính mình. Kết quả vụ án là chồng giết vợ đã ra tự thú. Ba công dân bị oan được tha. Vụ này đã đưa vào giáo trình giảng dạy ở trường Công an.

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIẾN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LS.THS. PHẠM VÂN THÀNH

Lời dẫn

Trong các Hiệp định WTO không có định nghĩa hay quy định nào về nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, Hoa Kỳ, EU và một số nước thành viên khác có quy định riêng trong quá trình xây dựng nội luật của mình liên quan đến vấn đề này. Khi đàm phán gia nhập WTO, theo yêu cầu của một số thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ, Việt Nam chấp nhận cam kết là nước có nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018, nhưng điều này không có nghĩa mặc nhiên sau năm 2018 Việt Nam sẽ được coi là nước có nền kinh tế thị trường. Vấn đề kinh tế phi thị trường có ảnh hưởng lớn tới quá trình tính toán biên độ phá giá trong vụ việc điều tra. Khi một quốc gia bị coi là có nền kinh tế phi thị trường, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá trị của một nước thứ ba (surrogate country) để tính toán giá trị thông thường (normal value) cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này làm cho biên độ phá giá không được chính xác và dẫn đến thuế chống bán phá giá áp dụng đối với hàng xuất khẩu thuộc diện bị điều tra áp thuế chống bán phá giá của Việt Nam tăng cao, không công bằng và không đúng với thực chất vốn có của các giao dịch thương mại. Trong bối cảnh các vụ điều tra chống bán phá giá ngày càng gia tăng và có xu hướng phức tạp, các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu những mức thuế chống bán phá giá cao do Việt Nam bị đối xử là nền kinh tế phi thị trường, bài viết này đề cập đến các vấn đề sau: khái quát chung về  vấn đề kinh tế phi thị trường; các quy định đối với nền kinh tế thị trường của các nước; tác động của việc bị đối xử là nước có nền kinh tế phi thị trường đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ việc chống bán phá giá; và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài.

I. Khái quát chung về vấn đề kinh tế phi thị trường

Nền kinh tế phi thị trường (non-market economy – “NME”)  là tên gọi được sử dụng cho các nền kinh tế của các nước thuộc Trung và Đông Âu, Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, Việt Nam và một số nước vào những năm cuối 1980 đầu 1990.[1] Ở các nền kinh tế đó, nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm do một cơ quan chuyên trách của Nhà nước soạn thảo và được coi là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Các nền kinh tế này hầu hết đã hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hay còn gọi là đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường.

Continue reading