LUẬT TỤC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ TỘC NGƯỜI Ở TÂY BẮC VÀ TÂY NGUYÊN

THS. HOÀNG VĂN QUYNH – ĐẠI HỌC KHXH&NV, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người quan tâm chú ý từ rất lâu. Để bảo vệ, khai thác và quản lý vấn đề này, họ đã tạo ra những thế ứng xử hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Đó là những nguyên tắc, cách ứng xử được áp dụng trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hòa giữa con người và thế giới tự nhiên. Các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ môi trường riêng của mình, mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là các điều khoản của luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay.

1. Khái niệm luật tục

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu, luật tục là những phương ngôn, ngạn ngữ diễn đạt bằng lời nói có vần điệu, chứa đựng các quy tắc xử sự, thể hiện, phản ánh quy chuẩn phong tục, tập quán, ý chí, nguyện vọng của cộng đồng, bảo đảm thực hiện trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được cộng đồng bảo đảm thực hiện[1].

Đối với các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, các quan niệm của họ lại đi sâu phân tích làm rõ nội hàm của luật tục. Thuật ngữ luật tục hay tập quán pháp ở Việt Nam có thể gọi với nhiều tên gọi khác nhau, như là "Luật địa phương", "Luật dân gian". Đây là một hiện tượng xã hội phổ quát của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay với những mức độ khác nhau ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là các tộc người châu Á và châu Phi. Luật tục về cơ bản là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương về cách ứng xử và quản lý cộng đồng còn tồn tại ở hầu khắp các dân tộc ở nước ta, không kể đó là dân tộc gì, ít người hay đa số[2].

Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác về khái niệm luật tục, nhưng trên cơ sở các quan điểm khác nhau, sau một thời gian dài tìm hiểu, nghiên cứu, thảo luận, nhiều cuộc hội thảo quốc tế cũng như trong nước và các cuộc thảo luận chuyên đề, nhiều nhà khoa học nước ta tạm thời chấp nhận khái niệm luật tục như sau: "Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành trong lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội, nó hướng đến việc hướng dẫn các quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng. Luật tục như hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức sơ khai của luật pháp"[3].

Continue reading

CHIA TÀI SẢN CHUNG HAY BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN THỪA KẾ

  TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

Vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại BLDS năm 1995, khi BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 thì vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vẫn tiếp tục được quy định, nhưng trên thực tế các cấp Tòa án hầu như không áp dụng quy định này trong các vụ án thừa kế. Vì sao lại có hiện tượng đó? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một trường hợp tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung để bạn đọc cùng trao đổi phải áp dụng pháp luật như thế nào mới đúng, nhằm góp phần làm cho nhận thức và áp dụng pháp luật ngày càng chính xác và thống nhất.

Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2008, ngày 21/11/2008 và quá trình tố tụng, các nguyên đơn bao gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên đã khởi kiện đối với các bị đơn là các ông: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và ông Nguyễn Ngọc Tân yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ.

Các nguyên đơn trình bày: cụ Nguyễn Văn Triệu (chết tháng 9/2001) và cụ Đinh Thị My (chết tháng 1/1995) có 09 người con chung là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và Nguyễn Ngọc Tân. Sinh thời, cha mẹ các ông bà có 3 khối tài sản gồm: nhà, đất tại số 74, 99 và 33/3 phố Ng.Q, thị xã ST, thành phố HN, cụ thể:

– Nhà đất tại số 74 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 3 gian nhà ngang cấp 4; 1 gian bếp, chuồng lợn trên diện tích đất 70m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tân và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tám quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông Tân đã phá bỏ nhà ngang, bếp, chuồng lợn và xây mới bếp, nhà vệ sinh.

– Nhà đất tại số 99 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 gian nhà bếp; 1 chuồng lợn và công trình vệ sinh trên diện tích đất 92,5m2; hiện do 2 gia đình là vợ chồng ông Thắng và vợ chồng ông Sơn quản lý sử dụng. Năm 2001 vợ chồng ông Sơn đã phá bỏ 1 gian nhà cấp 4 và xây mới 1 nhà 3 tầng. Năm 2006, vợ chồng ông Thắng phá bỏ bếp cũ xây bếp mới và công trình phụ (tài sản cũ còn 2 gian nhà cấp 4).

Continue reading