NHỮNG QUYẾT ĐỊNH NÀO CỦA HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

 TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM) các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài và Tòa án có thẩm quyền sẽ xem xét yêu cầu đó. Song trong quá trình hoạt động trọng tài, trọng tài có thể ban hành nhiều quyết định, ví dụ như quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên (khoản 1 Điều 43, Điều 58, 59 Luật TTTM)… Do đó, việc phân biệt quyết định nào của trọng tài được coi là phán quyết trọng tài là rất cần thiết, có ý nghĩa trong thực tiễn hoạt động; bởi lẽ, Tòa án chỉ xem xét yêu cầu của đương sự về việc hủy phán quyết trọng tài khi xác định đúng quyết định nào đó của Hội đồng trọng tài là phán quyết trọng tài.

Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTTM thì: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”.

Như vậy, một quyết định của Hội đồng trọng tài chỉ được coi là phán quyết trọng tài khi nó chứa đựng hai yếu tố, một là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp; hai là quyết định này dẫn đến chấm dứt tố tụng trọng tài. Khi một quyết định của Hội đồng trọng tài hàm chứa đủ cả hai yếu tố đó thì mới coi là phán quyết trọng tài và Tòa án mới có thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy quyết định đó của Hội đồng trọng tài.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì có hai loại quyết định được xác định đó là phán quyết trọng tài:

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI HIỆU QUẢ

 LÊ HOÀNG

Sự thay đổi của hệ thống tài chính và vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải cập nhật Bộ các nguyên tắc cơ bản theo hướng đảm bảo sự độc lập của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong quá trình hoạt động, cung cấp thêm các công cụ cần thiết để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời thể hiện vai trò tích cực hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia.

Những thay đổi cơ bản

Bộ các nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện chương trình FSAP tại Việt Nam, IMF và WB cũng đã áp dụng Bộ các nguyên tắc cơ bản như một tài liệu tham khảo để đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống bảo hiểm tiền gửi.

Năm 2012, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng đã tiến hành tự đánh giá hệ thống bảo hiểm tiền gửi qua đề tài nghiên cứu ứng dụng “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” từ đó đưa ra những đề xuất cải tiến hệ thống BHTG. Bộ nguyên tắc cơ bản cũng đã được các cơ quan Chính phủ và Quốc hội tham khảo trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.

Bộ tài liệu mới đã được cơ cấu lại một cách hợp lý hơn trên cơ sở thực hiện những thay đổi cơ bản sau:

Thứ nhất: Củng cố một số nguyên tắc liên quan tới quản trị, trả tiền bảo hiểm, hạn mức BHTG, cấp vốn và tăng cường đảm bảo an toàn sử dụng vốn, trả tiền bảo hiểm, nhận thức của công chúng, hạn mức, rủi ro đạo đức, các vấn đề xuyên quốc gia…

Continue reading

NỢ XẤU NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH KHÁNH HÒA VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT NỢ XẤU

  THÁI NINH – Khoa Kế toán – Tài Chính, Đại học Nha Trang

I. Tóm tắt

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt giai đoạn từ cuối 2007 đến đầu năm 2013, hàng loạt ngân hàng trên thế giới công bố thua lỗ về kết quả hoạt động kinh doanh, mất khả năng thanh toán, nợ xấu vượt mức cho phép dẫn đến tình trạng các hàng loạt các ngân hàng bị mua lại và phá sản.

Chính phủ các quốc gia trên thế giới cũng như Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đưa nhiều giải pháp nhằm giải cứu ngành ngân hàng khỏi phá sản. Trong bối cảnh này các ngân hàng thương mại Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu cao nhất khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Ngân hàng phát triển chi nhánh Khánh Hòa cũng lâm vào tình trạng này. Tỷ lệ nợ xấu những năm qua tăng cao do tín dụng được bơm bừa bãi để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bối cảnh u ám của kinh tế toàn cầu cũng như trong nước trong những năm gần đây đã hạn chế đáng kể khả năng giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh Hòa. Vào 09/2012, hãng xếp hạng tín dụng Moody’s hạ bậc tín nhiệm đối với Việt Nam xuống mức thấp nhất từ trước đến giờ với lý do hệ thống ngân hàng cần "sự hỗ trợ đáng kể".

Để giải quyết nợ xấu ngân hàng, có nhiều phương thức như thay đổi về chính sách quản trị, thay đổi về kết cấu tài chính, bán nợ xấu…Tác giả chọn đề tài bán nợ xấu tại NHPT chi nhánh Khánh Hòa nhằm mục đích phân tích, đưa ra cái nhìn tổng quan về biện pháp giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh Hòa trong bối cảnh hiện nay nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định.

II. Quá trình nghiên cứu và các kết quả

1. Cơ sở lý luận về nợ xấu ngân hàng và mua bán nợ xấu

1.1. Nợ xấu:

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM CHẬM CẢI TỔ

 NGUYỄN THIỆN TỐNG1

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt Nam đã không đổi mới nhanh chóng để đáp ứng và hỗ trợ kịp thời cho giai đoạn phát triển nhanh về kinh tế xã hội vừa qua. Giáo dục đại học Việt Nam hầu như không phát triển trong thập niên 1980 vì ngân sách cho giáo dục đại học miễn phí rất eo hẹp. Sau khi các đại học được thu học phí, số lượng sinh viên đại học Việt Nam trong thập niên 1990 gia tăngđột biến lên 5,6 lần với tốc độ ào ạt gần 20% mỗi năm. Hậu quả là chất lượng giảm sút hết sức trầm trọng. Trong 12 năm vừa qua, số lượng sinh viên tăng 2,4 lần với tốc độ bình quân 8,4% mỗi năm, trong khi các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất – kỹ thuật chưa phát triển đủ để bảo đảm chất lượng đào tạo.

Nhiều vấn đề của giáo dục đại học có nguồn gốc từ sự thiết hụt trầm trọng nguồn tài chánh và quyền tự trị đại học. Học phí là nguồn thu đáng kể cho giáo dục đại học. Ở Việt Nam nguồn thu từ học phí chiếm 40% tổng thu của các trường đại học công lập. Vấn đề khiếm dụng và thất nghiệp trí thức lại càng trầm trọng ở Việt Nam khi cơ cấu tổ chức giáo dục đại học và chương trình đào tạo lạc hậu không phù hợp cho tình trạng đổi mới kinh tế và xã hội. Bằng chứng là sự cách biệt giữa khả năng chuyên môn và ngành nghề của những người tốt nghiệp đại học với nhu cầu kỹ năng mới của thị trường.

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”chưa đưa ra biện pháp giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng. Vì thế cần phân tích để thấy rõ rằng cuộc khủng hoảng kép về số lượng và chất lượng của giáo dục đại học nước ta kéo dài trong hơn hai thập kỷ qua có nguyên nhân chủ yếu ở việc tổ chức quản lý giáo dục đại học.

Nhược điểm lớn nhất về tổ chức quản lý của hệ thống giáo dục đại học là sự phân tán trách nhiệm quản lý cho qua nhiều bộ và nhiều tỉnh thành chủ quản. Việc chia cắt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ ngành khác đã làm cho việc quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục chồng chéo, phân tán, thiếu thống nhất. Do đó cần bải bỏ cơ chế Bộ chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Continue reading

KHOẢNG CÁCH GIỚI TOÀN CẦU: NHIỀU VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC CẢI THIỆN

  PHẠM HIỆP

Việt Nam năm 2015 đứng thứ 83, vị trí ở vào mức độ trung bình trên thế giới. So với năm 2007 là năm đầu tiên tham gia vào xếp hạng Khoảng cách giới của WEF, Việt Nam tụt đến 41 bậc. Việc tụt hạng này, một phần là vì WEF mở rộng số nước đánh giá; nhưng phần khác cũng vì các chỉ số thành phần của Việt Nam gần như không tăng, thậm chí giảm đôi chút trong gần 10 năm qua trong khi cả thế giới đều có tăng trưởng đáng kể. Mặc dù vẫn biết, không có bảng xếp hạng nào là toàn diện, rõ ràng đây vẫn là vấn đề để các nhà chính sách vĩ mô ở nước ta cần đặc biệt quan tâm trong thời gian tới. 

Những năm qua, nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tìm cách đo đạc mức độ bình đẳng giới ở nhiều cấp độ từ quốc gia cho đến quốc tế, hoặc theo từng ngành/lĩnh vực cụ thể. Trong số đó, nổi bật là báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum – WEF) với tên gọi Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap), được công bố hằng năm.

Bài viết này tóm tắt một số nội dung chính Báo cáo 2015 của tổ chức này, được xuất bản trung tuần tháng hai vừa qua.

Các chỉ số

Để đo lường vấn đề bình đẳng giới, các nhà nghiên cứu từ WEF đưa ra bốn chỉ số chính bao gồm: Sự tham gia và Cơ hội trong lĩnh vực kinh tế (Economic Participation and Opportunity), Thành tựu giáo dục (Educational Attainment), Sức khoẻ và sự sống (Health and Survival) và Phân quyền chính trị (Political Empowerment). Bốn chỉ số này lại được cấu thành từ các chỉ số con nhỏ hơn (tổng cộng có 14 chỉ số con), ví dụ Tỷ lệ sinh nữ trên nam (thuộc chỉ số Sức khoẻ và sự sống) hoặc Tỷ lệ tổng số đại biểu nữ trong Quốc hội trên tổng số đại biểu nam (thuộc chỉ số Phân quyền chính trị). Các chỉ số con này có thể do WEF trực tiếp tiến hành lấy dữ liệu hoặc lấy lại dữ liệu từ báo cáo của các tổ chức nghiên cứu/phi chính phủ uy tín khác như UNESCO, tổ chức lao động quốc tế ILO trong 2015 hoặc ở năm gần nhất mà dữ liệu sẵn có.

Continue reading

MỘT SỐ RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG KHI PHÁT HÀNH BẢO LÃNH

TS. BÙI ĐỨC GIANG Công ty Luật Audier and Partners vietnam LLC

Phát hành bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ cấp tín dụng chứa đựng rủi ro, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Ngoài các rủi ro gắn với việc truy đòi số tiền đã trả thay cho bên được bảo lãnh như trong trường hợp thu hồi khoản vay thông thường, ngân hàng phát hành bảo lãnh còn phải đối mặt với những rủi ro pháp lý khác gắn liền với cam kết bảo lãnh của mình.

1. Thanh toán số tiền bảo lãnh khi không có vi phạm

Theo khoản 18, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/ QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 và khoản 1, Điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015 về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư 07), ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.

Như vậy, pháp luật ngân hàng đã loại trừ khả năng các bên có thể thỏa thuận về việc ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng (tài chính) thực hiện nghĩa vụ của mình vốn được quy định tại Điều 361, Bộ luật Dân sự, áp dụng đối với bảo lãnh thông thường. Đây là một nét khác biệt giữa bảo lãnh ngân hàng và bảo lãnh thông thường theo quy định chung về giao dịch bảo đảm.

Tuy vậy, bảo lãnh ngân hàng không phải là một loại cam kết độc lập, tách bạch hoàn toàn với nghĩa vụ được bảo lãnh, bởi vì:

– Định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng nêu trên cho thấy ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnhkhi bên này vi phạm (không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ) nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh. Nói cách khác, nếu không có vi phạm từ phía bên được bảo lãnh thì ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh. Thông thường, trong cam kết bảo lãnh, thường đặt ra yêu cầu bên nhận bảo lãnh cung cấp bằng chứng về việc bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ khi bên nhận bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Chẳng hạn trong trường hợp bảo lãnh thanh toán, bên nhận bảo lãnh phải cung cấp cho ngân hàng hóa đơn bán hàng chưa được thanh toán, biên bản xác nhận công nợ được ký bởi bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hay biên bản nghiệm thu, hoặc thanh lý hợp đồng có chữ ký của hai bên này.

Continue reading

KHẮC PHỤC MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ mà các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khi TPP được vận hành

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI– Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của WTO, tổ chức này hiện có tới 162 thành viên[1], vì vậy một trong những nhược điểm của nó là sự khó khăn để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có SHTT. Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) khắc phục được nhược điểm này của WTO.

Có 12 nước tham gia đàm phán TPP gồm 4 quốc gia sáng lập là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, sau đó (xếp theo thứ tự thời gian tham gia) là Hoa Kỳ, Australia, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản.

Ngày 05.10.2015 các nước tham gia đàm phán TPP ký văn bản cuối cùng, TPP là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm công, doanh nghiệp nhà nước, thương mại và lao động, thương mại và môi trường, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ (SHTT),…

Để hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống pháp luật về SHTT, được đánh giá là tương đối tương thích với pháp luật về SHTT của một số quốc gia tiên tiến, nhưng tình trạng xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam vẫn không hề giảm mà đang có xu hướng gia tăng. Bài viết không dẫn chứng những đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam về tình trạng xâm phạm quyền SHTT, xin được phép dẫn nguồn từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Trong Báo cáo đặc biệt số 301 trong 2 năm liên tiếp (2014 và 2015), Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (Office of the United States Trade Representative – USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu thế giới cần ưu tiên theo dõi (Priority Watch List) về tình trạng xâm phạm quyền SHTT.[2]

Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đã và sẽ gặp những khó khăn về SHTT trong giao dịch thương mại quốc tế, mà trước hết là trong giao dịch thương mại với các quốc gia TPP, khi hiệp định này được vận hành trong thời ngắn trước mắt.

Continue reading

KHẮC PHỤC MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ MÀ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SẼ GẶP KHI TPP ĐƯỢC VẬN HÀNH

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của WTO, tổ chức này hiện có tới 162 thành viên[1], vì vậy một trong những nhược điểm của nó là sự khó khăn để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có SHTT. Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) khắc phục được nhược điểm này của WTO.

Có 12 nước tham gia đàm phán TPP gồm 4 quốc gia sáng lập là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, sau đó (xếp theo thứ tự thời gian tham gia) là Hoa Kỳ, Australia, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản.

Ngày 05.10.2015 các nước tham gia đàm phán TPP ký văn bản cuối cùng, TPP là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm công, doanh nghiệp nhà nước, thương mại và lao động, thương mại và môi trường, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ (SHTT),…

Để hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống pháp luật về SHTT, được đánh giá là tương đối tương thích với pháp luật về SHTT của một số quốc gia tiên tiến, nhưng tình trạng xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam vẫn không hề giảm mà đang có xu hướng gia tăng. Bài viết không dẫn chứng những đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam về tình trạng xâm phạm quyền SHTT, xin được phép dẫn nguồn từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Trong Báo cáo đặc biệt số 301 trong 2 năm liên tiếp (2014 và 2015), Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (Office of the United States Trade Representative – USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu thế giới cần ưu tiên theo dõi (Priority Watch List) về tình trạng xâm phạm quyền SHTT.[2]

Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đã và sẽ gặp những khó khăn về SHTT trong giao dịch thương mại quốc tế, mà trước hết là trong giao dịch thương mại với các quốc gia TPP, khi hiệp định này được vận hành trong thời ngắn trước mắt.

Continue reading