KINH DOANH BẰNG “QUAN HỆ” HAY BẰNG PHÁP LUẬT?

NGUYÊN TẤN

“Quan hệ”, hiểu theo nghĩa trong dấu ngoặc kép như “lót tay”, “đi đêm”, “bôi trơn”… để phục vụ cho việc kinh doanh đang trở thành một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Điều này phổ biến đến mức trong không ít trường hợp “quan hệ” mới đóng vai trò yếu tố quyết định, còn pháp luật chỉ mang tính hình thức, thứ yếu. Vấn đề này nên được nhìn nhận như thế nào?

Từ “bị bắt buộc” đến tự nguyện!

Theo luật sư Trương Trọng Nghĩa, đại biểu HĐND TPHCM, “quan hệ” ở đây thực chất là một dạng tham nhũng giữa một bên là doanh nghiệp có nhu cầu xin xỏ và đưa lợi ích, còn bên kia-cán bộ công chức có quyền giải quyết và nhận lợi ích. Ông cho rằng 20 năm trước tham nhũng kiểu như trên hầu như không có hoặc rất hiếm. Lúc ấy quan chức chưa biết ra giá, họ chỉ nhận quà cáp lặt vặt và không gắn với quyền lực.

Ngược lại, bây giờ “quan chức biết ra giá, thậm chí tiền chung chi bằng đô la mới chịu lấy”, ông Nghĩa nhận xét. Để việc kinh doanh suôn sẻ, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình nhiều mối “quan hệ” chằng chịt. Vụ ông Đoàn Tiến Dũng, Phó tổng giám đốc Ngân hàng BIDV, bị bắt quả tang đang nhận hối lộ 1 tỉ đồng trong số 10 tỉ đồng đòi chung chi từ một doanh nghiệp dệt may hồi tháng 2-2010 cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải “quan hệ” với các quan chức thuộc hệ thống chính quyền mà cả với cán bộ ngân hàng để được cấp phát tín dụng.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc Văn phòng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cũng thừa nhận việc chi trả các khoản phí ngoài quy định của Nhà nước trong các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp đang ở mức độ phổ biến. Điều này được minh chứng qua kết quả khảo sát gần đây của Ernst & Young. Theo đó, có tới 96% doanh nghiệp Việt Nam được hỏi đã xác nhận từng có liên quan đến hối lộ hay tham nhũng. Tương tự, theo một cuộc điều tra khác của VCCI vào năm 2009, có 59% doanh nghiệp phải mất “phí bôi trơn”; gần 62% số doanh nghiệp được hỏi thừa nhận phải có “mối quan hệ” với cán bộ tỉnh mới tiếp cận được các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh như quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch phát triển hạ tầng…; 41% doanh nghiệp thừa nhận phải thương lượng với cán bộ thuế địa phương mới làm ăn suôn sẻ…

Cũng theo kết quả khảo sát nói trên, đáng nói là nhiều doanh nghiệp không cho rằng việc “quan hệ”, chung chi ảnh hưởng, trở ngại lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Khảo sát của Ernst & Young cho biết chỉ có 3% trong số 6.700 doanh nghiệp cho biết “tham nhũng gây khó khăn lớn” cho họ. Điều đó cho thấy đối với một số doanh nghiệp hối lộ, tham nhũng không những không còn là rào cản, không còn bị bắt buộc nữa mà ngược lại trở thành một loại công cụ cạnh tranh lợi hại. Trong mối quan hệ này, doanh nghiệp tự nguyện chủ động “bắt tay” với người có chức có quyền để cùng đạt một mục tiêu là chia nhau lợi ích. Theo luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế VCCI, có thể thấy rất rõ hiện tượng nói trên trong các lĩnh vực như giao đất, cho thuê đất; cấp phép khai thác khoáng sản; cấp phép ưu đãi đầu tư; thu thuế; hợp đồng mua sắm ở khu vực công…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ SỬA HƯ MÁY TÍNH

HOÀNG YẾN

Giữa tháng 10-2010, ông H. (ngụ quận 6, TP.HCM) đã nộp đơn đến tòa án một quận ở địa phương, khởi kiện anh thợ sửa chữa điện tử K. đòi bồi thường thiệt hại vì anh này đã làm hư máy vi tính của ông.

Khách bực anh thợ

Theo đơn khởi kiện của ông H., sáng 7-8-2009, ông giao máy cho anh K. – có cửa tiệm máy vi tính tại chợ điện tử Nhật Tảo, để sửa với giá 600.000 đồng.

Sau đó, anh K. bảo bo nguồn và bo playback bị hư hỏng phải thay mới với giá 200.000 đồng. Tuy nhiên sửa xong, anh K. không trả lại hai cái bo mạch bị hư mà đòi bán cho ông với giá 100.000 đồng. Như vậy là ông đã phải mua bo mạch đến hai lần (một lần khi mua máy vi tính và một lần mua từ anh K.) làm phí phạm tiền của. Ngoài ra, anh thợ này đã tráo đổi phụ tùng máy của ông như con IC cùng con nhiệt lượng có ba chấu…

Thấy anh thợ “chữa lành hóa què”, ông yêu cầu tòa buộc anh K. bồi thường 600.000 đồng vì anh K. đã gỡ mất nhiều thứ trong máy tính của ông. Đồng thời ông sẽ bán lại máy tính trên cho anh K. với giá rẻ là 700.000 đồng.

Khi được tòa thụ lý giải quyết, ông H. còn trình bày thêm rằng ông mua chiếc máy tính trên với giá 1 triệu đồng. Anh K. không những sửa chữa vô trách nhiệm mà còn có hành vi bỏ trốn. Nhiều lần ông tìm gặp, anh này không tiếp để nói chuyện phải trái. Máy vi tính sửa xong lúc thì xài được, lúc không khiến ông rất bực mình.

Thợ nản ông khách

Nhận được thông báo từ tòa án, anh K. liền đến tòa trình bày bức xúc bấy lâu kìm nén với khách hàng này. Anh K. thừa nhận ông H. có đến tiệm anh giao máy cho sửa. Máy sửa xong chạy tốt. Ông H. đã đem về nhà sử dụng nhưng lại làm hỏng nên đem ra sửa lần nữa. Cũng như lần đầu, sau khi sửa xong, máy chạy trơn tru, anh giao lại cho ông H.

Continue reading

Một vài vấn đề cần được nghiên cứu ĐỂ XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN AM HIỂU – Phó vụ trưởng Vụ pháp luật dân sự kinh tế, Bộ Tư pháp

Một trong các nguyên lý cơ bản của pháp luật dân sự là phải ổn định. Vì vậy, thông thường người ta chỉ chọn những vấn đề có tính ổn định, ít bị tác động của các quyết định chính trị, nhất là các quyết định chính trị ngắn hạn để quy định trong Bộ luật dân sự. Điều đó có ích lợi lớn lao cho cho sự ổn định và phát triển xã hội.

1. Năm 1995, Quốc hội đã thông qua và ban hành Bộ luật dân sự năm 1995. Về nội dung, vẫn còn những vấn đề cần bàn và chắc chắn không bao giờ hết các vấn đề cần bàn, nhưng có thể khẳng định việc ban hành Bộ luật dân sự năm 1995 có một ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với chính sách đổi mới của Việt nam. Bộ luật dân sự năm 1995 cần được coi là một trong các tuyên ngôn pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước về việc từ bỏ cơ chế quản lý tập trung kế hoặch hoá, phát triển kinh tế thị trường, tôn trọng các nguyên lý cơ bản của đời sống dân sự.[1]

2. Để giải quyết những bất cập của Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2004 Chính phủ đã trình Quốc hội việc sửa đổi Bộ luật và Quốc hội đã ban hành Bộ luật dân sự năm 2004, có hiệu lực từ năm 2005. Tuy nhiên, nội dung Chính phủ trình năm 2004 và nội dung Bộ luật dân sự năm 2004 không hoàn toàn giống nhau.[2] Một số đề nghị quan trọng của Chính phủ đã được chấp thuận liên quan đến phạm vi áp dụng, một số vấn đề cụ thể liên quan đến quyền tự do hợp đồng… Một số vấn đề khác cũng quan trọng nhưng lại chưa được chấp nhận. Ví dụ như vấn đề hộ gia đình, tổ hợp tác, giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng, thời hiệu…

3. Việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2004 đã được đặt ra ngay sau 3 năm thực hiện và công việc đang được dự kiến tiến hành trên quy mô lớn. Việc liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự trong 15 năm qua không hoàn toàn đồng nghĩa với chất lượng của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 không tốt. Về cơ bản, cả hai bộ luật đều được đánh giá cao. Tuy nhiên một số nguyên lý then chốt và xuyên suốt của pháp luật dân sự cũng như một số vấn đề chi tiết cụ thể không có tính khả thi đã dẫn tới việc cần liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về các nghiên cứu cơ bản liên quan pháp luật dân sự.

Continue reading

MỘT VÀI VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU ĐỂ XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN AM HIỂU – Phó vụ trưởng Vụ pháp luật dân sự kinh tế, Bộ Tư pháp

Một trong các nguyên lý cơ bản của pháp luật dân sự là phải ổn định. Vì vậy, thông thường người ta chỉ chọn những vấn đề có tính ổn định, ít bị tác động của các quyết định chính trị, nhất là các quyết định chính trị ngắn hạn để quy định trong Bộ luật dân sự. Điều đó có ích lợi lớn lao cho cho sự ổn định và phát triển xã hội.

1. Năm 1995, Quốc hội đã thông qua và ban hành Bộ luật dân sự năm 1995. Về nội dung, vẫn còn những vấn đề cần bàn và chắc chắn không bao giờ hết các vấn đề cần bàn, nhưng có thể khẳng định việc ban hành Bộ luật dân sự năm 1995 có một ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với chính sách đổi mới của Việt nam. Bộ luật dân sự năm 1995 cần được coi là một trong các tuyên ngôn pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước về việc từ bỏ cơ chế quản lý tập trung kế hoặch hoá, phát triển kinh tế thị trường, tôn trọng các nguyên lý cơ bản của đời sống dân sự.[1]

2. Để giải quyết những bất cập của Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2004 Chính phủ đã trình Quốc hội việc sửa đổi Bộ luật và Quốc hội đã ban hành Bộ luật dân sự năm 2004, có hiệu lực từ năm 2005. Tuy nhiên, nội dung Chính phủ trình năm 2004 và nội dung Bộ luật dân sự năm 2004 không hoàn toàn giống nhau.[2] Một số đề nghị quan trọng của Chính phủ đã được chấp thuận liên quan đến phạm vi áp dụng, một số vấn đề cụ thể liên quan đến quyền tự do hợp đồng… Một số vấn đề khác cũng quan trọng nhưng lại chưa được chấp nhận. Ví dụ như vấn đề hộ gia đình, tổ hợp tác, giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng, thời hiệu…

3. Việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2004 đã được đặt ra ngay sau 3 năm thực hiện và công việc đang được dự kiến tiến hành trên quy mô lớn. Việc liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự trong 15 năm qua không hoàn toàn đồng nghĩa với chất lượng của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 không tốt. Về cơ bản, cả hai bộ luật đều được đánh giá cao. Tuy nhiên một số nguyên lý then chốt và xuyên suốt của pháp luật dân sự cũng như một số vấn đề chi tiết cụ thể không có tính khả thi đã dẫn tới việc cần liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về các nghiên cứu cơ bản liên quan pháp luật dân sự.

Continue reading

MỘT SỐ SƠ SUẤT KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật Phước & Partners

Một khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, yếu tố "có tình" có thể tùy thuộc theo nhận định của mỗi người ở từng góc độ, hoàn cảnh khác nhau thì yếu tố "có lý" lại đòi hỏi sự thông hiểu pháp luật một cách tường tận, cũng như vận động nó trong tình huống thực tế một cách chuẩn xác.

Đơn phương chấm dứt mối quan hệ lao động với người lao động (NLĐ) một cách có tình, có lý không phải chuyện dễ dàng cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) nói chung và các trưởng phòng nhân sự, giám đốc nhân sự nói riêng (được gọi chung là “cán bộ nhân sự”).

Trong khi yếu tố “có tình” có thể tùy theo nhận định của mỗi người ở từng góc độ, hoàn cảnh khác nhau thì yếu tố “có lý” lại đòi hỏi sự thông hiểu pháp luật một cách tường tận, cũng như vận dụng nó trong tình huống thực tế một cách chuẩn xác. Dưới đây là những sơ suất phổ biến mà các cán bộ nhân sự thường mắc phải khi thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) với NLĐ.

Lý do hợp pháp để chấm dứt HĐLĐ

Trong những lý do hợp pháp mà NSDLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, có một số lý do thật sự khó khăn để chứng minh, và cũng là những trường hợp mà NSDLĐ dễ sơ suất nhất.

Trường hợp chấm dứt HĐLĐ với lý do “Thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ”. Sơ suất phổ biến nhất của cán bộ nhân sự là không tiến hành một thủ tục bắt buộc “đào tạo lại NLĐ vào công việc mới trước khi tiến hành thủ tục cho nghỉ việc”. Ngoài ra, không phải bất kỳ việc thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ nào cũng có thể là lý do chấm dứt HĐLĐ, mà chỉ áp dụng đối với việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; hay thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; hay thay đổi cơ cấu tổ chức (nếu có sự sáp nhập, giải thể một số bộ phận của doanh nghiệp).

Tuy nhiên, việc chứng minh một cách rõ ràng là máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ có năng suất lao động cao hơn hay việc thay đổi sản phẩm làm cho việc sử dụng lao động ít hơn là không phải dễ dàng. Ngoài ra, việc thay đổi một người trong một bộ phận nào đó trong doanh nghiệp thường sẽ không được xem như là thay đổi cơ cấu, trừ trường hợp bộ phận đó chỉ có một người phụ trách.

Đối với lý do chấm dứt HĐLĐ là do “Doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp”, các cụm từ “chia, tách, sáp nhập, hợp nhất” phải hiểu theo định nghĩa được quy định rõ ràng trong Luật Doanh nghiệp của Việt Nam. Sơ suất chủ yếu của các cán bộ nhân sự ở đây là cho rằng việc phân chia lại quyền quản lý công ty con tại Việt Nam giữa các công ty trong cùng một tập đoàn hay việc sáp nhập, hợp nhất các bộ phận, phòng ban trong cùng một công ty cũng giống nhau nên vận dụng sai để đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Continue reading