GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. TẬP 2: CÁC QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG

 Tác giả:

 TS. Nguyễn Ngọc Điện

 Chuyên ngành: Khoa học xã hội / Luật

 Nguồn phát hành:

 Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:
Đây là phần tiếp theo của giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Phần hai của giáo trình sẽ trình bày tập trung vào mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. 

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt ràng buộc hai người, vốn đã gắn bó với nhau do hiệu lực của hôn nhân, nghĩa là có đăng ký kết hôn, liên quan đến tài sản, nói chung là đến các lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Quan hệ tài sản của vợ chồng không tồn tại giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn . Quan hệ tài sản giữa vợ chồng bị thủ tiêu, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân bị hủy theo một bản án hoặc quyết định của Toà án. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng chấm dứt, trong trường hợp hai người chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, nhưng sau đó hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc do có một người chết.   

ISBN: Chưa xác định

Tài liệu tham khảo:
 – Bénabent A., Droit civil – La famille (gia đình), Litec, 1998. 
 – Bùi Tường Chiểu, La polygamie en droit annamite (chế độ đa thê trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1933.
 –  Colomer A., Droit civil – Régimes matrimoniaux ( Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Litec, 1998. 
 –  Comité consultatif de jurisprudence, Recueil des avis sur les coutumes des Annamites au Tonkin en matière de droit de famille, de successions et de biens cultuels (tập ý kiến về tục lệ của người Việt Nam tại Bắc Kỳ trong các lĩnh vực gia đình, thừa kế và tài sản thờ cúng), Hà Nội, 1930. 
 – Cornu G., Droit civil-La famille (gia đình), Montchrestien, 1993.
 – Cornu G., Droit civil – Les régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Presse Universitaire de France-Thémis, 1997.
 – Hồ Đắc Diệm, La puissance paternelle dans le droit annamite (phụ quyền trong luật Việt Nam), luận án Paris, 1928.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – La famille (Gia đình), Cujas, 1995.
 – Malaurie Ph. và Aynès L., Droit civil – Les Régimes matrimoniaux (Các chế độ tài sản của vợ và chồng), Cujas, 1999. 
 – Nguyễn Huy Lai, Les régimes matrimoniaux dans le droit annamite (Các chế độ tài sản của vợ và chồng trong luật Việt Nam), luận án Paris 1934.
 – Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I – Gia đình, nxb Trẻ-TP Hồ Chí Minh, 2002. 
 – Phú Đức, La veuve en droit vietnamien (người vợ goá trong luật Việt Nam), luận án Hà Nội, 1952. 
 – Nguyễn Thế Giai, Luật hôn nhân và gia đình, trả lời 120 câu hỏi, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Nguyễn Văn Thông, Hỏi đáp về Luật hôn nhân và gia đình, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
 – Philastre P.-L.-F., Code annamite (Bộ luật Gia Long), Leroux, 1909. 
 – Sicé E., Le mariage en Pays d’Annam (hôn nhân ở Việt Nam), Dijon, 1906. 
 – Trần Quang Dung, Tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nxb Tổng Hợp Đồng Nai, 2000.
 – Trịnh Đình Tiêu, La femme mariée en droit vietnamien (người đàn bà có chồng trong luật Việt Nam), Toulouse, 1958. 
 – Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994.
 – Viện Sử học Việt Nam, Bộ Quốc triều hình luật, nxb Pháp lý, 1991. 
 – Vũ Văn Hiền, Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, t. 1 và 2. 
 – Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất – Gia đình, Sài Gòn, 1962
 – Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển thứ nhất, Sài Gòn, 1971.

***************************

TẢI GIÁO TRÌNH TẠI ĐÂY: http://www.mediafire.com/?ctdw0tmp4ue (Đọc bằng phần mềm Adobe Reader)

LUẬN ÁN “PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM” CỦA NGHIÊN CỨU SINH NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG

Chuyên ngành: Luật kinh tế; Mã số: 62 38 50 01
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Kim Phụng
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Phạm Công Trứ; 2. PGS.TS. Đào Thị Hằng
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội
(Hội đồng chấm luận án theo QĐ số 5229/QĐ-BGDĐT ngày 20/9/2006)

Luận án đã phân tích và chỉ ra những nội dung còn bất cập trong Luật lao động Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện: một số quy định còn quá chi tiết, chưa hợp lý, bảo vệ người lao động chưa linh hoạt; biện pháp bảo vệ chưa hiệu quả nên họ còn bị vi phạm quyền lợi. Vì vậy, pháp luật về bảo vệ người lao động cần hoàn thiện với những nội dung cụ thể sau:

– Linh hoạt hóa các quy định về bảo vệ việc làm, thừa nhận quyền điều chuyển lao động trong các công việc tương đương, việc ưu tiên lao động nữ, lao động tàn tật phải đồng bộ với ưu đãi doanh nghiệp, bỏ sự phân biệt đối xử với người lao động theo thời hạn hợp đồng;

– Bổ sung quy định về lương tối thiểu theo vùng, theo ngày, giờ và thống nhất việc điều chỉnh tiền lương trong các thành phần kinh tế; quy định về quỹ quốc gia để điều trị, bồi thường tai nạn nghề nghiệp cho người lao động; quy định người sử dụng lao động phải bồi thường vật chất nếu vi phạm quyền nhân thân của người lao động, quy định đóng và hưởng bảo hiểm xã hội trên lương thực tế của người lao động;

– Cần chuyên trách hóa cán bộ công đoàn, hướng dẫn việc triển khai ký kết thỏa ước ngành, đơn giản hóa thủ tục đình công và bỏ giới hạn về người lãnh đạo đình công, thừa nhận án lệ trong xét xử, nâng cao mức xử phạt vi phạm căn cứ vào mức được lợi do vi phạm và sự tái phạm… Đồng thời, quy định thành lập Hội đồng ba bên quốc gia và thay đổi Điều 12, Bộ Luật lao động thành quy định chung về cơ chế ba bên để có cơ sở bảo vệ người lao động ngay từ khâu hoạch định chính sách…

Kết quả nghiên cứu luận án có khả năng ứng dụng cho việc soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (2006), có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy và trong công tác bảo vệ người lao động.

====================================

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án tiến sĩ của NCS Lê Thu Hà về đề tài “Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

Mã số: 62.38..30.01
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Họ và tên cán bộ hướng dẫn:
1. TS Định Trung Tụng
2. TS Đặng Quang Phương
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội

Tóm tắt những kết luận mới của luận án:

1. Việc phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế:

– Chưa tạo ra được mô hình tổ chức xét xử thực sự có hiệu quả;

– Án dân sự bị xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm;

– Chất lượng án xử chưa cao.

2. Cần đổi mới việc phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án với những giải pháp cụ thể sau:

– Tổ chức Toà án theo khu vực thay đổi vì tổ chức theo đơn vị hành chính như hiện nay. Hệ thống Toà án sẽ thực hiện ba cấp xét xử thay vì hai cấp xét xử. Mỗi một cấp Toà án chỉ đảm nhận một cấp xét xử. Trong mỗi cấp Toà án có các Toà chuyên sâu trong lĩnh vực dân sự và lĩnh vực hình sự, thay vì có tới năm toà chuyên trách, gồm Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính như hiện nay.

– Bổ sung vào Bộ luật tố tụng dân sự các quy định về thủ tục rút gọn; quyền sửa án của Hội đồng xét xử phúc thẩm, quyền sửa án của Hội đồng giám đốc thẩm; quyền kháng cáo của giám đốc thẩm của đương sự; nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự.

– Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo Thẩm phán, đổi mới tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán, đổi mới tư duy và phương pháp làm việc của người Thẩm phán phù hợp với yêu cầu mới của việc phát triển đất nước nói chung cũng như ngành tư pháp nói riêng, tăng cường trách nhiệm cá nhân.

3. Những kết luận trong luận án có khả năng ứng dụng hiệu quả đối với việc xây dựng và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp năm 2006-2020 với trọng tâm là cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan Toà án. Cụ thể, các nghiên cứu và kết luận của luận án có thể là cơ sở để xây dựng và triển khai:

– Đề án kiện toàn tổ chức Toà án theo khu vực;

– Đề án kiện toàn tổ chức các toà chuyên trách trong hệ thống Toà án.

– Đề án năng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán;

– Đề án đổi mới chương trình đào tạo cử nhân luật.

– Đề án đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp.

– Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự.

==================================TÌM ĐỌC TRÊN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thanh Tâm về đề tài “Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Mã số : 62 38 50 01;
Chuyên ngành : Luật kinh tế;
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Hồng Hạnh;
Cơ sở đào tạo: Đại học Luật Hà Nội;

Những kết luận mới của luận án:

 1. Sau khi nghiên cứu, NCS nhận thấy pháp luật hiện hành về quyền sở hữu công nghiệp( QSHCN) dưới góc độ thương mại ở Việt có những điểm bất cập mà chưa có công trình nào được công bố đề cập.  ·Các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp(SHCN) chủ yếu tiếp cận QSHCN ở góc độ dân sự. Chính điều này đã hạn chế không nhỏ đến việc bảo hộ, sử dụng, chuyển giao QSHCN ở nước ta trong hoạt động thương mại.  ·Các đối tượng SHCN là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, song các quy định pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong lĩnh vực này mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa đồng bộ, thiêú tínhliên thông, đã ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích thương mại của các chủ thể QSHCN.        2. Pháp luật về SHCN dưới góc độ thương mại cần được hoàn thiện với nội dung mới, cụ thể như sau:   ·Pháp luật quy định cụ thể về: góp vốn bằng QSHCN trong các dự án đầu tư, điều chỉnh có sự phân biệt rõ ràng giữa hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng và hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng SHCN; điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hợp đồng chuyển giao QSHCN trong trường hợp bên giao bị phá sản.  ·Ban hành các quy điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến việc sử dụng trái phép các đối tượng SHCN để duy trì lợi thế cạnh tranh, tiến hành cạnh tranh không lành mạnh; quy định về nhập khẩu song song, về giải quyết tranh chấp tên miền trên Internet.         3. Những kết luận mới trong luận án của NCS như: thuộc tính thương mại của các đối tượng SHCN, góp vốn bằng giá trị QSHCN, chế độ pháp lý của các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ, có khả năng ứng dụng hiệu quả cho việc xây dựng Luật sở hữư trí tuệ, Luật Doanh nghiệp dự kiến sữ được Quốc hội thông qua cuối năm 2005 và Luật chuyển giao công nghệ sẽ được thông qua năm 2006.         4.Những vấn đề cấn tiếp tục nghiên cứu: Xây dựng luật về thị trường khoa học và công nghệ; Xây dựng và hoàn thiện các quy định về SHCN với tự do hóa thương mại.

============================================

TÌM ĐỌC TRÊN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

 

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN VĂN LUẬN VỀ ĐỀ TÀI “BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: l. TS. Đinh Ngọc Hiện; 2. PGS-TS. Đoàn Năng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN
Là công trình khoa học đầu tiên đi chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ chế định pháp luật, cơ chế thực thi và thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam, trong nội dung của luận án đã có được một số đóng góp mới, cụ thể như:
l Nêu rõ mọi khía cạnh của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và từ việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam, chỉ rõ hiệu quả và những nguyên nhân, hạn chế trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam.
2. So sánh, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá với quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong một số điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước khác trên thế giới, từ đó chỉ rõ ”tính đầy đủ” và ”tính hiệu quả” của pháp luật Việt Nam và mục tiêu cụ thể cần đạt tới.
3. Xây dựng được một số khái mềm khoa học có hên quan đến ranh vực nghiên cứu như:
– Nhãn hiệu hàng hoá-đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
– Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá;
– Hành vi sản xuất hàng giả và hàng giả. . .
4. Nêu ra các khuyến nghị và giải pháp đồng bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật, tăng cường hiệu quả các hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá theo các tiêu chí ”đầy đủ” và ”hiệu quả” để các cơ quan có thẩm quyền tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và kiện toàn hệ thống các cơ quan thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá. Các khuyến nghị và giải pháp bao gồm:
– Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá, trong đó trọng tâm là sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự năm 1995 đại Phần thứ sáu quy định về nhãn hiệu hàng hoá và ban hành Luật Sở hữu trí tuệ. Đây và phương hướng tổng quát, có tính chiến lược nhằm xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, toàn diện, thống nhất đồng bộ và hiệu quả theo đòi hỏi của Hiệp định TRIPS/WTO.
– Kiện toàn và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nói riêng. Cần chú trọng đến việc chuyên môn hoá đội ngũ Thẩm phán Toà án và tổ chức Toà chuyên trách về sở hữu công nghiệp trong quá trình cải cách tư pháp đến năm 2010.

============ ************ ==============

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN CỦA NCS HÀ CÔNG TUẤN “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”

Chuyên ngành:Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật; Mã số: 62.38.01.01; Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh, TS. Trịnh Đức Thảo; Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1.      Luận án đã xây dựng khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là quá trình các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng công cụ pháp luật tác động vào các đối tượng quản lý để định hướng và điều chỉnh các hành vi xã hội nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên rừng .

2.      Luận án đã chỉ rõ bốn đặc trư­ng quản lý nhà n­ước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng gồm: sự kết hợp giữa pháp luật với luật tục, hư­ơng ­ước của các cộng đồng dân cư­ trong quản lý bảo vệ rừng; ư­u thế nổi trội của các biện pháp pháp lý trong phòng ngừa hành vi xâm hại rừng; sự kết hợp giữa biện pháp kinh tế – xã hội với biện pháp pháp lý trong quản lý bảo vệ rừng; tính đặc thù của các biện pháp kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng.

3.    Từ các mô hình quản lý bảo vệ rừng của một số n­ước và tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế, luận án đã rút ra một số bài học có thể áp dụng cho Việt Nam như: tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý bảo vệ rừng (Kiểm lâm) thống nhất từ Trung ương đến địa phương; phân chia lâm phận quốc gia thành ba loại rừng (trong khi các nước chia thành hai loại rừng) gắn với việc quy định chế độ quản lý tương ứng; xã hội hóa công tác bảo vệ rừng; kinh nghiệm về việc xử lý vi phạm trật tự quản lý bảo vệ rừng.

4.    Luận án đã đề xuất và luận giải lộ trình thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm quản lý nhà n­ước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng đến năm 2020. Trong đó, đề xuất bốn giải pháp mới là:

– Cần hệ thống hoá luật tục truyền thống, hướng dẫn, hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng dân cư xây dưng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng; kết hợp sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật với luật tục, h­ương ư­ớc của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng;

– Đề xuất các quy định về trách nhiệm quản lý rừng đối với chính quyền các cấp như: quản lý quy hoạch rừng bền vững, tổ chức các hoạt động chống chặt phá rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.

– Xác định chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm với Công an, Quân đội trong các hoạt động chống chặt phá rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng;

– Đề xuất chế độ phụ cấp ưu đãi nghề cho lực lượng Kiểm lâm (20% cho công chức công tác ở Chi cục Kiểm lâm đến 50% cho công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã); áp dụng chính sách thương binh liệt sĩ cho công chức kiểm lâm bị thương, bị hy sinh trong khi thi hành công vụ; đồng thời quy định chế độ trách nhiệm đối với công chức kiểm lâm khi để xảy ra tình trạng rừng bị xâm hại trên địa bàn quản lý.

======== ****** ==========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, THƯ VIỆN QUỐC GIA, HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN “CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH TẾ” CỦA NCS ĐINH THỊ KIM CHI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị; Mã số chuyên ngành: 5.02.01; Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Sơn Hùng, TS Trương Thị Hiền; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế của cả nước. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thị trường SLĐ trên địa bàn Thành phố đã xuất hiện sớm nhất so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Bởi vậy, đồng thời với việc nghiên cứu các điều kiện kinh tế khách quan cần thiết phải nghiên cứu các chính sách tác động tới sự hình thành và phát triển thị trường SLĐ trên địa bàn Thành phố. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc góp phần thúc đẩy sự hình thành, phát triển thị trường SLĐ ở nước ta.

Để thị trường SLĐ ở Thành phố tiếp tục hoàn thiện và phát triển, hệ thống chính sách tác động tới thị trường này cần được bổ sung và hoàn thiện một số chính sách cơ bản sau:

1.       Vấn đề chính sách tiền lương: đây là khâu đột phá kéo toàn bộ thị trường SLĐ ra khỏi sự rơi rớt, níu kéo của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và thúc đẩy thị trường này phát triển nhanh hơn nữa. Luận án kiến nghị chính sách tiền lương gắn với hiệu quả công việc, theo đó cơ cấu tiền lương chỉ gồm 2 phần:

–          Tiền lương tối thiểu: thực hiện theo quy định của pháp luật

–          Tiền lương gắn liền với hiệu quả công việc: phần tiền lương này được xác định trên cơ sở mức giá khoán cho mỗi công việc, vì hiệu quả công việc phản ánh chính xác nhất giá trị hàng hoá SLĐ.

Chính sách tiền lương này một mặt đáp ứng đầy đủ những yêu cầu, tác dụng của quy luật kinh tế thị trường, mặt khác vẫn đảm bảo sự quản lý điều tiết của Nhà nước, góp phần giảm thiểu những bất cập, hạn chế của chính sách tiền lương hiện nay.

2.       Vấn đề chính sách đào tạo:

–          Để đáơ ứng đòi hỏi của thị trường SLĐ trên địa bàn thành phố trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố đến năm 2020, chính sách đào tạo, dạy nghề phải hướng tới phát triển các ngành cơ bản như cơ khi, điện tử, tin học, ngoại ngữ, ngân hàng, tài chính, ngoại thương, marketing, du lịch, luật sư, bưu chính viễn thông, y tế, sư phạm, quản lý hành chính, phim ảnh, sân khấu nghệ thuật …

–          Cần phân biệt học phí theo ngành đào tạo, bởi mỗi ngành đòi hỏi những chi phí đào tạo khác nhau.

–          Cần đổi mới quy trình thực hiện chính sách miễn giảm học phí theo hướng vừa đảm bảo công bằng trong hoạch toán kinh tế vừa đảm bảo công bằng xã hội, theo đó, sinh viên trong diện ưu tiên vẫn phải đóng học phí toàn phần cho cơ sở đào tạo, nhưng họ được nhận phần miễn giảm từ ngân sách Nhà nước thông qua Uỷ bản nhân dân phường, xã.

3.       Về chính sách quản lý thị trường SLĐ

–          Uỷ ban nhân dân phường xã phải là nơi cấp phát sổ lao động cho người lao động, vì đây là cấp chính quyền cơ sở có khả năng quản lý chặt chẽ nhất vấn đề nhân lực lao động và biến động dân số.

–          Cần có cơ chế phối hợp giữa ngành thống kê, lao động thương binh xã hội và cơ quan hành chính địa phương, đặc biệt là cấp phường, xã trong công tác quản lý thị trường SLĐ.

4.       Về chính sách bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp

–          Trên cơ sở khái niệm thất nghiệp phù hợp với điều kiện Việt nam, cần quy định đối tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp và xây dựng trợ cấp thất nghiệp.

–          Cần tổ chức tuyên truyền rộng rãi, thường xuyên về nghĩa vụ và lợi ích của người lao động trong việc khai báo thất nghiệp

–          Để đảm bảo tính chính xác, thuận lợi, tránh chồng chéo, cần quy định thống nhất cấp phường, xã là nơi thực hiện công tác thống kê ban đầu tình hình thất nghiệp.

========= ****** ===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN PHƯƠNG LAN VỀ ĐỀ TÀI: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Lan về đề tài: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN MINH TUẤN VỀ ĐỀ TÀI “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ”.

Chuyên ngành: Luật dân sự; Mã số62.38.30.01; Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những đóng góp mới của luận án:

– Theo khái niệm truyền thống, tài sản là vật đã có và quyền tài sản trị giá được bằng tiền. Luận án phát triển khái niệm tài sản không những là vật đã có mà còn là vật đang hình thành(nhà ở đang xây dựng, hoa lợi chuẩn bị thu hoạch…), quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền và quyền yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản(quyền đối với bất động sản liền kề, quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng…).

– “Di sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết”. Đây là khái niệm chưa khoa học, chưa thể hiện được sự phát triển khách quan của sự vật. Luận án mở rộng khái niệm di sản là tất cả tài sản của người chết và các tài sản khác phát sinh khi người để lại thừa kế chết(như hoa lợi, lợi tức, tiền bảo hiểm tính mạng sức khoẻ, quyền và các lợi ích khác phát sinh từ di sản…).

– Quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản. Luận án phát triển khái niệm quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản và các quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền hưởng di sản.

– Luận án xây dựng các khái niệm mới :

+ Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và các chủ thể khác tham gia quan hệ thừa kế.

+ Thời điểm phát sịnh quyền sở hữu của người thừa kế đối với di sản, là thời điểm người thừa kế thể hiện ý chí nhận di sản mà không phụ thuộc vào việc chia di sản.

+ Di tặng là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, nhằm tặng cho người khác tài sản sau khi chết. Di tặng là hợp đồng tặng cho có điều kiện làm phát sinh hiệu lực, vì vậy người hưởng di tặng có quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng tặng cho mà không có nghĩa vụ của người thừa kế.

– Luận án làm rõ mối liên hệ giữa quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế. Quyền sở hữu tư nhân là tiền đề làm phát sinh quyền thừa kế, mặt khác quyền thừa kế là một trong những căn cứ quan trọng làm phát sinh quyền sở hữu tư nhân.

– Hiện nay, thời hiệu của thừa kế là 10 năm. Hết thời hiệu, người thừa kế mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản là 30 năm. Hai loại thời hiệu này không đồng nhất, vì vậy không xử lý được di sản đã hết thời hiệu thừa kế. Luận án làm rõ sự tương thích giữa hai loại thời hiệu này là 30 năm.

– Luận án đã đưa ra phương án sửa đổi, bổ sung   các Điều: 632, 634, 635, 636, 637, 642, 643, 644, 645 BLDS.

======= *********** ========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của NCS Đồng Ngọc Ba về đề tài ‘Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam’

Chuyên ngành:Luật kinh tế, Mã số: 62.38.50.01; Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS Nguyễn Như Phát; 2. TS Nguyễn Am Hiểu, Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội

Những kết luận mới của luận án:

1. Pháp luật hiện hành về doanh nghiệp ở Việt Nam có nhiều nội dung bất cập, lạc hậu trước đòi hỏi của đời sống kinh doanh:

– Quy định các hình thức pháp lý doanh nghiệp khác nhau dựa trên tiêu chí chủ yếu là tính chất sở hữu và thành phần kinh tế; từ đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế khác nhau khi họ thực hiện quyền tự do kinh doanh.

– Nhiều hình thức doanh nghiệp có cùng bản chất, nhưng được tổ chức theo những quy chế pháp lý khác nhau một cách bất hợp lý và bất bình đẳng.

– Các quy định về gia nhập thị trường và quản trị doanh nghiệp có nhiều nội dung chưa thống nhất, thiếu minh bạch, thiếu liên thông, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu qủa tổ chức vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư.

2. Pháp luật về doanh nghiệp cần được hoàn thiện với những nội dung cụ thể sau:

– Quy định hình thức pháp lý doanh nghiệp dựa trên tiêu chí phương thức đầu tư vốn và tính chất liên kết của các nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, pháp luật về doanh nghiệp được cấu trúc với nội dung là pháp luật về doanh nghiệp cá nhân và pháp luật về các loại hình công ty.

– Thống nhất cơ chế điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động giữa doanh nghiệp nhà nước và các loại hình công ty có cùng bản chất; các công ty do nhà nước đầu tư 100 % vốn điều được tổ chức và hoạt động theo các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

– Ghi nhận mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân đầu tư vốn và làm chủ sở hữu.

– Sửa đổi quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của tổng công ty nhà nước theo mô hình tập đoàn kinh doanh.

– Xoá bỏ phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp và tổ chức hoạt động kinh doanh.

3. Những kết luận trong Luận án có khả năng ứng dụng hiệu qủa cho việc xây dựng Luật Doanh nghiệp chung, dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét thông qua vào cuối năm 2005.

4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:

– Xây dựng và hoàn thiện quy chế pháp lý về đầu tư vốn nhà nước.

– Xây dựng quy chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với nhà đầu tưtrong kinh doanh ở những ngành nghề có nguy cơ gây rủi ro cao.

==================

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, THƯ VIỆN QUỐC GIA

 

BẢN TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 36http://www.smenet.com.vn/Shared/TrangChu/new.gif

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. L?i v�ng vo b?n quy?n ?nh v� tranh…2. B?n quy?n ph?n m?m VN: “C?n ho�n thi?n h�nh lang ph�p l�. 3. V? tranh ch?p b?n quy?n t�c ph?m “N? h�n c?a gi�”: T�c gi? Nguy?n Trung Ki�n th?a nh?n vi ph?m

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 35

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. T�n mi?n Vi?t Nam: tranh ch?p ?� x?y ra. 2. T�n mi?n v� gi?c m? tri?u ph� USD. 3. T�n mi?n xung ??t v?i ??i t??ng s? h?u tr� tu?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 34

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. H�ng gi? len l?i v�o t?ng ng� ng�ch ? Ph�p. 2. H�n Qu?c ?i�n ??u v� h�ng gi?. 3. H�ng hi?u r?m ??t kh�ch ? Trung Qu?c

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 33

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Hi?u bi?t v? s? h?u tr� tu? c�n h?n ch?. 2. L?i chuy?n tranh ch?p quy?n s? h?u nh�n hi?u. 3. VietNamNet c�ng DN b?o v? nh�n hi?u h�ng ho�!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 32

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 31

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 30

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 29

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 28

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 27

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. V? tranh ch?p quy?n ki?u d�ng c�ng nghi?p v�ng x?p Duy L?i  2. Taxi Mai Linh v� Vina Sun l?i ?�nh nhau 3. Doanh nghi?p Duy L?i: T? v? th�nh c�ng tr�n ??t M?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 26

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. X�y d?ng th??ng hi?u c� ph� Bu�n Ma Thu?t  2. Th??ng hi?u ch?ng th?m ??c ?�o 3. T�n nh�n hi?u trong ??nh v? s?n ph?m

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 25

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. VNNIC ng?ng c?p t�n mi?n 000.com.vn v� c� n?i dung sex 2. C?p ph�t t�n mi?n – tranh c�i ch?a c� h?i k?t! 3. ?� c� 6 nh� ph�n ph?i t�n mi?n .VN

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 24

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. B? nh�i nh�n hi?u: tr??ng h?p c?a Shell Flintkote 2. �i, h�ng gi?! 3. DN ”??n th??ng ??c m�” trong cu?c chi?n ch?ng h�ng gi?? 4. H�ng nh�i, h�ng gi?: Ki?u n�o c?ng c�!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 23

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh??ng quy?n trong l?nh v?c k? to�n, thu?: Qu?c t? ho� ch?t l??ng d?ch v? 2. Nh??ng quy?n kinh doanh 3. Nh??ng quy?n th??ng m?i trong ng�nh c�ng nghi?p b�n l? s? ph�t tri?n

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 22

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Microsoft b? ki?n v� ?i ki?n v? v?n ?? b?n quy?n 2. T�c quy?n: Quy?n… ???c l�m b? v?? 3. Mua b?n quy?n ca kh�c n??c ngo�i – ???ng c�n xa 4. Ai ???c h??ng quy?n t�c gi??

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 21

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh?p nh?ng nh�n hi?u 2. C�ch l�m nh�n hi?u c?a ng??i H�n 3. B?o h? nh�n hi?u: Doanh nghi?p v?n th? ? 4. Xung quanh chuy?n c�i t�n!

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 20

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Quy?t kh�ng ??ng k� s? h?u tr� tu?2. Ti?p v? x? l� vi ph?m ki?u d�ng Honda t?i V?nh Long: T&T v?n ch? l� ?nghi ph?m?? 3. Ki?u d�ng C�ng nghi?p: V?n ?? c?a th?i ??i

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 19

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Gi?i quy?t tranh ch?p t�n mi?n .vn: C?n ch�nh s�ch qu?c gia  2. Tranh ch?p t�n mi?n Internet: Doanh nghi?p ??ng “ch?t v� thi?u hi?u bi?t”!  3. Ba ?r�o c?n? t�c ??ng x?u ??n s? ph�t tri?n Internet? .

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 18

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ng�nh s?n xu?t ch?t gi?t r?a  2. VNPT c?ng c? th??ng hi?u 3. WAL- MART, T�nh hai m?t c?a ?g� kh?ng l??  4. Nokia N-Gage – “C�i ch?t c?a con thi�n nga”

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 17

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Trung Nguy�n: L?i c?nh b�o t? m?t th??ng hi?u n?i ti?ng  2. Khai m?c H?i ch? qu?c t? th??ng hi?u n?i ti?ng t?i Vi?t Nam 2005 3. ”Th??ng hi?u” c?a ng??i n?i ti?ng ch?a ???c b?o v? 4. B?o h? ch? d?n ??a l� gi�p ph�t tri?n th??ng hi?u

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 16

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Qu�n ??nh gi� th??ng hi?u khi CPH, d? n?y sinh tranh ch?p 2. ?B�ng nh�ng? s? h?u tr� tu? 3. Microsoft ??t tho? thu?n gi?i quy?t tranh ch?p th??ng m?i 4. S�ng t?i b?c tranh qu?ng c�o.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 15

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. S?n ph?m m?i ra th? tr??ng … th�nh c�ng nh? lix?ng  2. Ch�u � – mi?n ??t h?a c?a ?i?n tho?i web v� tuy?n  3. Pierre Cardin – Ng??i c� c�i t�n ??t gi� nh?t th? gi?i

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 14

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Treo gi?i cho ng??i ph�t hi?n h�ng gi? 2. Ch? 10% DN bi?t t? b?o v? m�nh ch?ng n?n h�ng gi? 3. ??? hi?u si�u gi?? ? ?thi�n ???ng mua s?m? 4. Ch?a ??y 5 n?m, g?n 400 v? h�ng gi? 5. H�ng nh�i, h�ng gi?: Ki?u n�o c?ng c�! 6. S?ng chung v?i h�ng gi?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 13

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ch?n” t�n mi?n 2. VNNIC thu h?i t�n mi?n tide.com.vn. 3. Gi? v� b?o v? th??ng hi?u tr�n Internet. 4. Qu?n l� t�n mi?n Vi?t Nam: c?n nhi?u c?i ti?n

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 12

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. B�ng nh�ng? s? h?u tr� tu?  2. Ng�nh c�ng nghi?p xe m�y VN ch?a c� b?n s?c 3. Th? c�ng m? ngh? VN y?u v? thi?t k? ki?u d�ng…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 11

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. C�i �o kh�ng l�m n�n th??ng hi?u! 2. �t ti?n v?n x�y d?ng ???c th??ng hi?u. 3. Nhi?u DN Vi?t ?� kh?i m�o cho “cu?c chi?n n?i- ngo?i ” …

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 10

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? B?n quy?n trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Ng?ng thu ti?n b?n quy?n t�c gi? ? qu�n karaoke. 2. Th?c thi quy?n t�c gi? ? ch�u � …

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 9

B?n tin S? h?u tr� tu? s? n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? Nh??ng quy?n Th??ng m?i trong l?nh v?c S? h?u tr� tu?: 1. Nh??ng quy?n th??ng m?i: C? ng??i, m?i ta. 2. Nh??ng quy?n th??ng m?i – v?a l�m v?a lo. 3. Nh??ng quy?n th??ng m?i, c? h?i v� r?i ro…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 8

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?:1. ?? ngh? EU c�ng nh?n t�n g?i xu?t x? c?a n??c m?m Ph� Qu?c. 2. B?o v? th??ng hi?u n??c m?m Ph� Qu?c. 3. C� n�n b?t bu?c ?�ng chai n??c m?m t?i Ph� Qu?c? 4. N??c m?m Ph� Qu?c: bao gi? th�i… “made in Thailand”?

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 7

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?:1. Ch? s?ch v� xanh trong th??ng hi?u. 2. H?p t�c ?nh�n ?�i th??ng hi?u?. 3. Ng�nh ch� t�m tem ??m b?o. 4. L?i h?a th??ng hi?u. 5. Th??ng hi?u Vi?t cho m?t h�ng m?i. 6. Th??ng hi?u “m?” c?a ng�nh d?t may. 7. ?�i quy?n s? h?u ? n??c ng??i. 8. B?o v? th??ng hi?u b?ng ch?t l??ng.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 6

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?: 1. Slogan ‘nh�i’ – m?t ki?u h�ng gi? m?i. 2. Nh?ng sai l?m c?n tr�nh khi ??t t�n cho doanh nghi?p. 3. ‘Nh�n hi?u’ song h�nh c�ng th??ng hi?u. 4. Coca-Cola v?n l� nh�n hi?u n?i ti?ng nh?t th? gi?i. 5. Doanh nghi?p n�n ch? ??ng b?o v? m�nh. 6. V?a ?n c?p, v?a la l�ng

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 5

B?n tin S? h?u tr� tu? tu?n n�y xin g?i ??n b?n ??c m?t s? tin t?c chung v? S? h?u tr� tu?: 1. Ng�y 9/8/2005, c�c ??i bi?u Qu?c h?i chuy�n tr�ch s? xem x�t D? th?o Lu?t S? h?u tr� tu?. 2. Lu?t S? h?u tr� tu? ph?i b?o ??m l?i �ch c?a c�ng ch�ng. 3. H?i th?o v? c�ng ??c GENEVA b?o h? nh� s?n xu?t b?n ghi �m. 4. Ai s? h?u b?n quy?n ph?n m?m Excel?…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 4

V?i m?c ?�ch cung c?p th�m th�ng tin cho c�c ??c gi? quan t�m, ch�ng t�i xin ???c gi?i thi?u th�m m?t s? v?n ?? v? B?n quy?n t�c gi? (Copyright) v� Nh�n hi?u h�ng h�a (Trademark). B?n tin n�y ch�ng t�i l??c d?ch t? b�i vi?t c?a t�c gi? Lloyd J. Jassin ? lu?t s? h?at ??ng trong l?nh v?c xu?t b?n v� c�ng nghi?p gi?i tr� ? New York ? Hoa K?.

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 3

1. Th??ng hi?u hay Nh�n hi?u h�ng ho� ? V?i m?c ?�ch cung c?p c�c th�ng tin, kh�i ni?m c? b?n v� ch? ra s? kh�c nhau gi?a 2 thu?t ng? n�y gi�p b?n ??c d? d�ng ti?p c?n v?i c�c b�i b�o vi?t v? v?n ?? li�n quan – 2. S?c m?nh c?a th??ng hi?u: V?n ?? th??ng hi?u th?t ra l� trung t�m c?a chi?n l??c marketing…

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 2

1.Ng�y 28/6/2005 t?i Th�nh ph? H? Ch� Minh ?� di?n ra H?i th?o qu?c t? v?i ch? ?? ?Th�ch th?c nh?ng Th??ng hi?u l?n? do C�ng ty PACE v� Hi?p h?i Marketing th? gi?i t? ch?c – 2.Trong hai ng�y 30/6 v� 01/7/2005, C?c S? h?u tr� tu? (SHTT) ?� ph?i h?p v?i T? ch?c S? h?u tr� tu? th? gi?i (WIPO) v� C? quan SHTT H�n Qu?c (KIPO) t? ch?c H?i th?o “Hi?p ??c h?p t�c v? s�ng ch?” …..

B?n tin S? h?u Tr� tu? s? 01

D? th?o Lu?t S? h?u tr� tu? ?ang ???c Qu?c h?i th?o lu?n s�i n?i t?i k? h?p th? 7, Qu?c h?i kho� XI. Theo d? ki?n, th�ng 10/2005 Qu?c H?i s? xem x�t th�ng qua d? lu?t n�y. Qu� tr�nh chu?n b?, x�y d?ng c?ng nh? th?o lu?n xung quanh d? th?o Lu?t s? h?u tr� tu? ???c d? lu?n trong v� ngo�i n??c ?�nh gi� cao v� s? n? l?c c?a Vi?t Nam trong vi?c x�y d?ng m?t ??o lu?t th?ng nh?t c� gi� tr? ph�p l� cao.

TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

CHỦ BIÊN: TS. PHẠM CÔNG LẠC

NỘI DUNG:

1. Khái niệm chung về tài sản và cách phan loại tài sản trong pháp luật dân sự – TS. Phạm Công Lạc;

2. Tài sản – Phương hướng hoàn thiện các qui định pháp luật về khái niệm tài sản – Ths. Nguyễn Minh Tuấn (TS)

3. Vật – Bản chất pháp lý của vật với tư cách là một loại tài sản – TS. Phạm Văn Tuyết;

4. Tiền, ngoại tệ – Bản chất và chế độ pháp lý của tiền, ngoại tệ với tư cách là một loại tài sản – TS. Bùi Đăng Hiếu;

5. Giấy tờ có giá, các loại giấy tờ có giá – Bản chất và chế độ pháp lý của các giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản – TS. Phạm Giang Thu;

6. Những bất cập trong quản lý và xử lý tranh chấp liên quan đến giấy tờ có giá và phương hướng hoàn thiện các qui định pháp luật về giấy tờ có giá – TS. Phạm Giang Thu;

7. Quyền tài sản, các loại quyền tài sản và các đặc điểm của quyền tài sản – TS. Phùng Trung Tập;

8.  Quyền sử dụng dất, đặc điểm và bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất – Ths. Trần Quang Huy;

9. Quyền yêu cầu: Đặc điểm và bản chất pháp lý của quyền yêu cầu – Ths. Vũ Thị Hải Yến;

10. Quyền sở hữu trí tuệ, đặc điểm và bản chất pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ – Ths. Lê Đình Nghị;

11. Nhưng bất cập và phương hướng hoàn thiện các qui định của pháp luật về tài sản vô hình – Ths. Nguyễn Như Quỳnh

CÁC BẠN CÓ THỂ TÌM ĐỌC TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MỘT SỐ BẢI VIẾT TRÊN CÁC TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH VỀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI

 

Đào Văn Hùng và Trần Long: Hạn chế tác động tiêu cực của Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (HĐ) tới hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 7(489)/2005, tr.45-49: Tác động tiêu cực của HĐ có thể xảy ra đối với dịch vụ tiền gửi, hoạt động tín dụng, ngoại tệ và kinh doanh ngoại tệ… Để hạn chế những tác động tiêu cực trên, cần quán triệt nội dung cam kết trong hiệp định, cơ cấu lại mô hình tổ chức, tăng cường năng lực quản trị điều hành, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Đào tạo, tuyển dụng và xây dựng một đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ ngân hàng, tận dụng tốt thành tựu về công nghệ thông tin… tăng cường phối hợp giữa các NHTM trong nước và đổi mới công tác kiểm toán nội bộ. Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM quốc doanh, hỗ trợ tài chính và thúc đẩy quá trình cải cách, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tăng cường quyền chủ động cho NHTM nhà nước về chính sách lương, thưởng. Đối với Ngân hàng nhà nước, phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng đáp ứng yêu cầu của HĐ, đổi mới công tác thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế…

Bùi Xuân Hải: Người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 – nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(29)/2005, tr.14-20: Xác định đúng ai là người quản lý công ty và áp đặt hợp lý các nghĩa vụ pháp lý cho họ sẽ góp phần làm cho việc quản trị công ty có hiệu quả, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông cũng như các bên liên quan. Theo Luật Doanh nghiệp 1999, người quản lý công ty được xác định là người có chức danh giám đốc hay tổng giám đốc. Trong khi đó, theo luật của các nước theo mô hình pháp luật Anh, Mỹ thì người điều hành hoạt động của công ty được hiểu khá rộng, bao hàm cả người có chức danh và người không có chức danh, thành phần Hội đồng giám đốc gồm cả các giám đốc điều hành và giám đốc không điều hành, trong đó giám đốc điều hành phải là người lao động của công ty, còn giám đốc không điều hành không phải là lao động của công ty. Mô hình trên có nhiều ưu điểm vì nó bao quát thực tế hơn. Thực tiễn nước ta cũng đã xảy ra các trường hợp, có doanh nghiệp tồn tại cả những giám đốc giấu mặt và cả giám đốc thực tế, trong khi pháp luật nước ta chưa quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến việc xử lý gặp khó khăn.


Nguyễn Quý Thọ: Nghị định 61/NĐ-CP về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhìn từ thực tiễn,
Tạp chí Thanh tra, số tháng 7/2005, tr.24-25: Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 61/1998/NĐ-CP, công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đã có những chuyển biến tốt, các cuộc thanh tra, kiểm tra trùng lặp giảm rõ rệt. Nhưng Nghị định cũng bộc lộ những bất cập, thiếu sót, như chưa thể hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra nói riêng, dẫn đến thanh tra trùng lắp; trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra chưa cụ thể hoá một cách đầy đủ bằng văn bản pháp luật; thời hạn thanh tra, kiểm tra không phù hợp với Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành, làm cho hiệu lực thi hành còn nhiều hạn chế; chưa quy định rõ quy chế phối hợp thống nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra. Để khắc phục những bất cập, thiếu sót trên, cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định theo hướng bổ sung các quy định về phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra; trao đổi thông tin giữa các cơ quan về chương trình thanh tra, kiểm tra; quy định lại theo hướng phân định rõ chức năng, phạm vi hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm tra; các quy định về thủ tục, thời gian thanh tra, kiểm tra phải phù hợp với các luật có liên quan.


Dương Hoài Linh: Luật Doanh nghiệp thống nhất (LDNTN) sẽ tạo ra những khác biệt thực sự, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.18-19:
LDNTN có sự khác biệt đối với hệ thống pháp luật quản lý doanh nghiệp (DN) trong những vấn đề sau: thay đổi cơ bản quan điểm về quản lý DN; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng hơn giữa các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài; chú trọng hơn đến vấn đề quản trị trong các DN. Để LDNTN đi vào cuộc sống, cần rà soát lại các văn bản pháp luật, các quy định có liên quan như Luật Đầu tư chung, Luật DN nhà nước năm 2003. Kiện toàn lại bộ máy đăng ký kinh doanh hiện nay, đồng thời rà soát lại hệ thống giấy phép hiện hành, nhằm hạn chế việc gia tăng các giấy phép con. Cuối cùng, phải nhanh chóng chuyển đổi, cổ phần hoá các DN nhà nước nhằm đưa các DN này vào diện điều chỉnh của LDNTN.

Lê Hoàng Tùng: Luật Doanh nghiệp chung (LDNC) mối quan tâm không của riêng ai, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.20-23: LDNC tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và các cơ quan giám sát bằng việc tăng yêu cầu về công khai hoá và kiểm soát thông tin đối với doanh nghiệp (DN); tăng quyền và nghĩa vụ của chủ DN đối với các khoản vốn đầu tư của mình; ràng buộc trách nhiệm trong việc định giá tài sản góp vốn, đưa ra những quy định chặt chẽ hơn trong việc chào bán cổ phần và thông qua các quyết định đối với công ty cổ phần. Nhưng một số nội dung của dự thảo cần phải được đầu tư thêm để hoàn thiện, như: định nghĩa về vốn điều lệ cần bổ sung thương hiệu là tài sản góp vốn; khái niệm về thị trường của phần góp vốn hoặc cổ phần còn rườm rà và khó hiểu trong khi chỉ cần ghi: “là mức giá hợp lý được thoả thuận giữa người mua và người bán”. Quy định về các tiêu chuẩn của giám đốc, mức thù lao.. quá chi tiết và can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ của DN, trong khi những điều này có thể quy định trong điều lệ của DN. Cần cho phép cá nhân được thành lập công ty TNHH. Ngoài ra, dự thảo đã đưa ra những quy định phân biệt đối xử giữa DN trong nước và DN đầu tư nước ngoài, trong điều kiện hiện nay, quy định như trên là một rào cản.

Việt Tuấn: Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài: những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.23-24: Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam quá nhỏ so với tiềm năng. Có nhiều lý do của tình trạng này, trong đó có lý do thủ tục quá phức tạp: Doanh nghiệp (DN) phải đáp ứng được các điều kiện, như dự án phải có tính khả thi; không nợ nghĩa vụ tài chính, thuế với nhà nước. Đồng thời, DN chỉ được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chứ chưa được phép tham gia đầu tư với hình thức mua cổ phần, cổ phiếu ở nước ngoài. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các DN còn lỏng lẻo. Các quy định xin phép, cấp giấy phép còn nhiều vướng mắc kéo dài. Để hoạt động đầu tư ra nước ngoài tương xứng với tiềm năng thì phải tạo ra môi trường pháp lý mở cửa, thông thoáng bằng cách rút ngắn thời gian, quy trình thẩm định cấp giấy phép đầu tư, chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài. Khuyến khích DN sử dụng lao động và nguyên vật liệu từ trong nước. DN cần chuẩn bị kỹ từ khâu nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật, chính sách thuế của nước sở tại

Đỗ Ngân Bình, Bất hợp lý trong một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7 năm 2005, tr.26-31: Mặc dù Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung nhưng sau hai năm đi vào cuộc sống đã thể hiện tính bất hợp lý ở một số quy định. Việc chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động bị đánh đập, bảo hiểm xã hội cho người lao động còn chưa được cụ thể, chưa chặt chẽ dễ tạo ra kẽ hở, dễ bị lợi dụng trong một số trường hợp, như: quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện, chế độ thai sản, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Đối với vai trò công đoàn ở cấp cơ sở theo quy định việc thành lập trên nguyên tắc tự nguyện. Nhà nước và người sử dụng lao động chỉ tạo điều kiện chứ không có trách nhiệm phải thành lập. Do vậy, khi doanh nghiệp không thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở vẫn không coi là có vi phạm pháp luật. Những bất hợp lý trên cần phải được sửa đổi, bổ sung một cách triệt để nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động.

Nguyễn Văn Phương, Khó khăn về xác định quyền vay vốn của doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Thương mại, số 21 tháng 6/2005, tr.11-12: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước về quy chế quản lý tài chính thì tổng giám đốc (giám đốc) có quyền quyết định và ký các hợp đồng vay theo phân cấp, uỷ quyền, nhưng giá trị của các hợp đồng vay này không được vượt quá vốn điều lệ của công ty. Do không quy định rõ thẩm quyền quyết định hợp đồng vay, nên có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người hiểu tổng giám đốc (giám đốc) được quyết định và ký kết một hay nhiều hợp đồng vay vốn có giá trị không được vượt quá vốn điều lệ, có người lại hiểu chỉ được quyết định và ký kết một hợp đồng vay vốn. Trong mỗi cách hiểu trên lại có nhiều vấn đề nảy sinh. Chính vì vậy thời gian qua, một số công ty nhà nước gặp khó khăn trong vấn đề vay vốn. Đề nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn.

Nguyễn Văn Hiệu-Nguyễn Minh Hằng, Xác định giá tính thuế theo hiệp định GATT/WTO (HĐ): Một năm nhìn lại, Tạp chí Tài chính, số 7(489) 2005, tr. 50: Qua một năm áp dụng giá tính thuế theo HĐ đã đạt được một số kết quả, như: tạo ra những thay đổi tích cực về mặt thủ tục dẫn tới sự thông thoáng cho các hoạt động xuất, nhập khẩu, doanh nghiệp đã chủ động trong việc xác định giá tính thuế… Bên cạnh đó, còn những tồn tại như hiện tượng gian lận thương mại qua giá xảy ra phổ biến, việc xây dựng, cập nhật, trao đổi thông tin về giá còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là phương thức quản lý giá tính thuế chưa phù hợp, trình độ năng lực của cán bộ Hải quan chưa đáp ứng được yêu cầu, một số lãnh đạo Hải quan địa phương chưa quan tâm đúng mức đến việc cập nhật, trao đổi, quản lý, sử dụng nguồn thông tin về giá. Các văn bản pháp luật hướng dẫn và bổ trợ cho việc áp dụng chưa được hoàn chỉnh đồng bộ. Do vậy, cần rà soát và hoàn chỉnh lại hệ thống các văn bản pháp quy, nhanh chóng hoàn thiện quy trình quản lý giá thuế, quy trình kiểm tra sau thông quan, nhanh chóng hiện đại hoá ngành Hải quan, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan, phổ biến tuyên truyền pháp luật đối với đối tượng nộp thuế.

Phan Xuân Tuy và Nguyễn Ngọc Hà, Bàn về vi phạm hợp đồng kinh tế và lợi dụng hợp đồng kinh tế để phạm tội, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 28: Vi phạm hợp đồng kinh tế chính là vi phạm quy định nào đó trong pháp luật về hợp đồng kinh tế với nhiều dạng khác nhau như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng đã ký kết. Việc chứng minh vi phạm và trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng cần tuân theo thủ tục tố tụng tại Trọng tài thương mại hoặc Toà án và việc miễn giảm trách nhiệm vật chất áp dụng theo quy định của pháp luật hợp đồng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi dụng hợp đồng kinh tế để vi phạm pháp luật là một thực tế và có xu hướng phát triển. Để hạn chế các hành vi trên, cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc phòng ngừa, đấu tranh xử lý, chống hình sự hoá các vi phạm hợp đồng kinh tế, đồng thời phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.

Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.24-32: Bài viết xem xét mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và chuyển giao công nghệ, thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Liên minh Châu Âu. Qua đó, tác giả kiến nghị nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cạnh tranh trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Luật chuyển giao công nghệ sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2006 cần có quy định về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ và xem xét nó dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, bổ sung cho các quy định hiện hành trong Luật cạnh tranh.

Nguyễn Thị Yến, Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Tạp chí Luật học số 2/2005, tr.46- 49: Do Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải là cơ quan xét xử như Toà án, không nhân danh quyền lực Nhà nước để giải quyết, do vậy cần phải được sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp, cụ thể là Toà án nhân dân và cơ quan thi hành án. Sự hỗ trợ thể hiện qua việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ việc; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, lưu trữ hồ sơ trọng tài đối với trọng tài vụ việc; huỷ hay không huỷ quyết định trọng tài; hỗ trợ trong việc thi hành quyết định trọng tài. Việc hỗ trợ của các cơ quan tư pháp với hoạt động của trọng tài là một điểm mới của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Nó làm cho hoạt động của Trọng tài thương mại có tính khả thi cao.

Nguyễn Khánh Ngọc, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và một số suy nghĩ về việc thực hiện trong mối liên hệ với Toà án, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.2-10: Quy định trong Pháp lệnh về Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam là những quy định pháp luật mới xuất hiện trong vài năm gần đây. Mục đích của những quy định này nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Qua kinh nghiệm thực hiện các quy định về chống phá giá hàng hoá nhập khẩu ở một số nước, chúng ta cần phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết các quy định của Pháp lệnh này. Ngoài ra, cần phải đào tạo các Thẩm phán có năng lực trình độ để giải quyết những vụ kiện có liên quan đến chống bán phá giá, đồng thời cũng cần xây dựng mô hình Toà án là Toà án chuyên trách chứ không xây dựng toà án theo địa bàn.

=======================

SOURCE: TRÍCH ĐĂNG TỪ NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

NHỮNG BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT DÂN SỰ TRÊN MỘT SỐ TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH

Hoàng Ngọc Thành, Một số ý kiến về giải quyết tranh chấp nợ hụi, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 5/2005, tr. 28-30: Chơi hụi, họ (hụi) có nhiều hình thức và tính chất khác nhau như­ng quy ra có hai loại. Loại hụi không có lãi, đây là loại hụi mang tính giúp đỡ lẫn nhau và là giao dịch dân sự thuần túy. Loại hụi có lãi mang tính kinh doanh, lãi nặng hoặc lừa đảo. Do tính chất phức tạp về việc chơi hụi nên hiện nay Nhà nư­ớc nghiêm cấm tất cả các hình thức chơi hụi và nếu có tranh chấp thì tùy từng mức độ mà xử lý. Mặc dù bị cấm nhưng hiện t­ượng này vẫn diễn ra và có tranh chấp. Giải quyết tình trạng này là một việc khó khăn và phức tạp. Nên cân nhắc nếu công nhận là một giao dịch dân sự hợp pháp thì phải quy định cụ thể giao dịch nào đ­ược công nhận và giao dịch nào không đ­ược công nhận. Đồng thời, phải quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Tr­ường hợp không công nhận, thì phải coi mọi giao dịch của loại hình này đều là vô hiệu.

Nguyễn Phương Lan, Một số ý kiến về việc nhận nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học, số 2/2005, tr.17-23: Theo quy định, vợ chồng có thể cùng nhận con nuôi hoặc chỉ một bên là vợ hoặc chồng cũng có thể nhận con nuôi nhưng phải có chữ ký của người kia. Do việc quy định về lĩnh vực này còn chung chung, thậm chí còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm “giới” với ” giới tính” nên việc xác định thế nào là vợ chồng đôi lúc rất khó khăn. Cần định nghĩa chính xác và khoa học hơn về vợ chồng. Theo khoản 1, Điều 36, Nghị định 69/CP ngày 10/7/2002, “… vợ chồng là những người khác giới có quan hệ hôn nhân”. Nên thay đổi là “Vợ chồng phải là những người khác giới tính có quan hệ hôn nhân hợp pháp”. Về việc quy định chỉ một người, vợ hoặc chồng nhận nuôi con thì phải có chữa ký của của người kia, để tránh việc lợi dụng việc xin nhận con nuôi vì động cơ cá nhân nên quy định chỉ chấp nhận cho nhận con nuôi khi cả hai vợ chồng cùng nhận con nuôi.

Nguyễn Thị Hương, Quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc giữa con riêng với mẹ kế cần được quy định cụ thể hơn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7/2005, tr.48-49: Do Điều 682, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về việc chăm sóc nuôi dưỡng giữa con riêng với mẹ kế chưa được cụ thể nên trong quá trình áp dụng giải quyết đã có nhiều quan điểm khác nhau. Do vậy, cần phải sửa đổi điều luật này theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn như việc chăm sóc, nuôi dưỡng đến độ tuổi nào, phạm vi mức độ, cách thể hiện ra sao; việc nuôi dưỡng có phụ thuộc vào việc cha, mẹ đẻ còn sống không.

guyễn Quang Thái, Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 5/2005, tr.43-48: Khi hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng vẫn do Tòa án thực hiện thì hầu như­ quan niệm thi hành án không có tranh luận. Nh­ưng từ khi hoạt động thi hành án đ­ược chuyển cho cơ quan của Chính phủ thì có quan điểm cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng. Như­ng có quan điểm cho rằng, đây chỉ là hoạt động quản lý hành chính tư pháp vì quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án đã chấm dứt. Tác giả không đồng nhất với hai quan điểm trên mà cho rằng, đây là một hoạt động tư pháp của Nhà nư­ớc.

Lưu Tiến Dũng, Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.10-14: Pháp luật nước ta quy định Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; Thẩm phán không được giải thích luật. Nhưng pháp luật để áp dụng không phải chỉ là Hiến pháp hoặc các đạo luật mà bao gồm cả các hướng dẫn của các cơ quan và các cá nhân có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương. Thậm chí, Thẩm phán, Hội thẩm nhiều khi chỉ áp dụng trực tiếp các văn bản hướng dẫn. Trong thực tế, Thẩm phán được giao một đặc quyền và một trọng trách vô cùng to lớn là quyết định cuối cùng việc áp dụng pháp luật. Vậy, để cho Thẩm phán thực hiện tốt trọng trách của mình trong khi pháp luật chưa cho Thẩm phán các quyền giải thích luật thì cũng cần khuyến khích họ chủ động hơn nữa trong việc độc lập áp dụng pháp luật đi kèm với trách nhiệm giải trình về sự lựa chọn của mình một cách công khai, minh bạch trong phán quyết của mình.

Lê Duy Ninh, Khái niệm và định nghĩa khái niệm trong luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.49-53: Mỗi khái niệm đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Nội hàm là chất, tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ảnh trong khái niệm. Ngoại diên là lượng của khái niệm. Hai định nghĩa thường được sử dụng là định nghĩa theo tập hợp và định nghĩa thông qua liệt kê. Mỗi cách định nghĩa đều có ưu điểm nhưng xét một cách toàn cục thì cách định nghĩa thứ nhất có lợi thế hơn. Với những văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, có tính ổn định lâu dài như bộ luật, luật thì nên đưa vào nhiều định nghĩa này, còn văn bản dưới luật thì trong trường hợp không thể khác được vẫn có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê. Về định nghĩa tập hợp, định nghĩa phải cân đối, không được lòng vòng, phải ngắn gọn, chuẩn xác, rõ ràng và không nên định nghĩa phủ định.

Trần Phương Đạt, Địa vị pháp lý của người nước ngoài ở Việt Nam tiếp cận dưới góc độ pháp luật dân sự, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 25- 27: Hiện nay nước ta chưa có một đạo luật riêng quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài, nhưng dưới góc độ pháp luật về dân sự thì địa vị pháp lý của họ đã được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như trong lĩnh vực nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, quyền sở hữu tài sản và thừa kế… Việc quy định chế độ pháp lý của người nước ngoài trong các văn bản khác nhau nhìn chung là chưa đầy đủ, có thể tạo ra sơ hở cho người nước ngoài lợi dụng để hoạt động gây phương hại đến an ninh – trật tự. Để công tác quản lý người nước ngoài nhanh chóng đi vào nề nếp, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan.

Phan Chí Hiếu, Thẩm quyền giải quyết các việc kinh doanh, th­ương mại theo Bộ luật Tố tụng dân sự: Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành, Đặc san Nghề luật, tr.32- 41: Bộ luật Tố tụng dân sự có nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng trong quá trình thực hiện sẽ gặp khó khăn vướng mắc nh­ư thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, th­ương mại. Để khắc phục cần phải có hư­ớng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao, như cần phải coi việc xác định vụ án phát sinh từ tranh chấp về kinh doanh, thư­ơng mại hay dân sự, lao động chỉ thuần túy mang tính kỹ thuật và thuộc quyền chủ động của Tòa án. Do vậy các sai sót trong việc xác định vụ án là kinh doanh thư­ơng mại hay dân sự, không bị coi là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị và để hủy án, sửa án. Nên quy định các tranh chấp về kinh doanh th­ương mại chỉ là dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự và sử dụng phương pháp loại trừ để phân định vụ án về kinh doanh, thương mại với vụ án về dân sự…

Đặng Vũ Huân, Nâng cao vai trò nhận thức xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 5/2005, tr.31-36: Sở hữu trí tuệ là những sáng tạo trí tuệ của con ng­ười, đ­ược thừa nhận và dành cho ngư­ời đó sự độc quyền trong thời hạn nhất định. Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ b­ước đầu đã đạt đư­ợc những kết quả như­ng còn khiêm tốn. Muốn đạt đ­ược hiệu quả cao hơn nữa, cần phải nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này bằng cách tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho tất cả các đối t­ượng liên quan, đồng thời phải tăng c­ường các hoạt động dịch vụ t­ư vấn, thông tin về sở hữu trí tuệ, củng cố và nâng cao vai trò của các Hội về sở hữu trí tuệ./.

Phan Chí Hiếu, Tổng thuật hội thảo “Bộ luật Tố tụng dân sự – Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”, Đặc san Nghề luật, tr.2-14: Vừa qua Học viện Tư­ pháp đã tổ chức hội thảo với nội dung “Bộ luật Tố tụng dân sự – Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”. Các đại biểu tham gia hội thảo đã phát biểu về nhiều vấn đề nh­ư chứng cứ. Về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, các quy định mới của Bộ luật có khả năng giải quyết đ­ược một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn như­ng cũng có một số v­ướng mắc cần phải có h­ướng dẫn. Về phiên tòa sơ thẩm so với các quy định trư­ớc có tiến bộ, như­ng áp dụng vào thực tế có những v­ướng mắc cần đư­ợc tháo gỡ. Ngoài các vấn đề trên, các đại biểu còn bày tỏ quan điểm về điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc tuyên án…

Vũ Lê Trung, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và vấn đề xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của Công ty Honda Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 5/2005, tr.37-42: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là sự bảo hộ của pháp luật dành cho thành quả đầu t­ư mà nhà sản xuất đã bỏ ra để đư­a sản phẩm đến đ­ược với ng­ười tiêu dùng. Trong thời gian vừa qua, tình hình vi phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra một cách phổ biến, nhất là đối với sản phẩm của Công ty Honda Việt Nam. Công ty đã dùng nhiều biện pháp để ngăn chặn nh­ưng kết quả chư­a đ­ược là bao. Nguyên nhân là do cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, các văn bản pháp luật quy định ch­ưa đ­ược thống nhất, mức độ xử phạt chư­a nghiêm khắc. Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng lớn trong thời kỳ mở cửa và hội nhập ở nước ta hiện nay.

Lê Việt Long, Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Phát luật, tháng 5/2005, tr.60-63: Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm, xâm phạm về sở hữu công nghiệp diễn ra một cách khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết là việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập và chưa có hiệu quả, các chủ sở hữu ngại tiếp xúc với Toà án, hiểu biết của xã hội nói chung và của chủ sở hữu nói riêng, cũng như việc xử lý các hành vi xâm phạm bằng biện pháp hình sự còn hạn chế. Để ngăn chặn tình trạng này, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phải xây dựng một đạo luật cũng như một cơ quan độc lập về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Nguyễn Thanh Tú, Thỏa thuận về lãi suất giữa các ngân hàng và pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2005, tr. 56-64: Tháng 7/2004, dưới sự chủ trì của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm khoảng 70% thị phần huy động vốn) đã bàn và đi đến thỏa thuận về trần lãi suất. Theo tác giả, thỏa thuận này bị cấm, không được hưởng quyền miễn trừ khi pháp luật cạnh tranh có hiệu lực và hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Ngân hàng nhà nước không thể can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng và các doanh nghiệp, hiệp hội khác cần cẩn trọng trong việc giao kết và thực thi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Chính phủ, Bộ Thương mại cần sớm hướng dẫn, phổ biến nhanh chóng Luật Cạnh tranh.

Bùi Đăng Hiếu, Tiền-một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr. 37- 40: Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa có quy định nào về tiền. Tiền có tính năng đặc biệt là khi chuyển giao thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu. Chúng ta nên phân biện nội tệ và ngoại tệ. Ngoại tệ không được coi là tiền, vì ngoại tệ không được coi là công cụ thanh toán đa năng-một tính năng quan trọng của tiền. Chỉ có những chủ thể nhất định, ví dụ như ngân hàng mới được phép xác lập giao dịch đối với nó. Cũng không nên coi ngoại tệ là giấy tờ trị giá bằng tiền hay tài sản, bởi lẽ không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó.

Đỗ Văn Đại, Quy phạm áp dụng bắt buộc trong Tư pháp quốc tế : Từ Bộ luật Dân sự Pháp đến Bộ luật Dân sự Việt Nam, Đặc san Nghề Luật, số 9/12/2004, tr. 54- 64: Quy phạm áp dụng bắt buộc là những quy phạm quốc nội mà vai trò tự nhiên của nó là điều chỉnh các quan hệ trong nước nhưng chúng được áp dụng bắt buộc để điều chỉnh trực tiếp một vài chi tiết của quan hệ có yếu tố nước ngoài, đồng thời làm vô hiệu hoá các quy phạm xung đột đáng lẽ được áp dụng. Quyphạm áp dụng bắt buộc đã tồn tại trong pháp luật Việt Nam nhưng chỉ ở một số văn bản chuyên ngành và, khi ban hành, các nhà lập pháp nêu rõ, đây là quy phạm áp dụng bắt buộc trong quan hệ có yếu tố nước ngoài. Khác với nhiều nước trên thế giới, ví dụ ở Pháp, chúng ta chưa thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại loại quy phạm này như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài. Trong thực tế, thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại của quy phạm áp dụng bắt buộc như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài là cần thiết. Chúng ta nên bổ sung loại quy phạm này trong phần VII, Bộ luật Dân sự./.

Ngô Văn Hiệp, Chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan-Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 29-34: Hiện nay có 171 trường hợp bị oan mà ngành Kiểm sát phải bồi thường nhưng chỉ có 17 người làm đơn yêu cầu. Lý do là người bị oan không am hiểu pháp luật, ngại hay sợ sệt hoặc làm đơn không kịp thời. Vì vậy, để bảo vệ tốt quyền yêu cầu đòi bồi thường, cần quy định theo hướng mở rộng thời hiệu yêu cầu bồi thường. Cần bổ sung quy định theo hướng cán bộ, công chức gây thiệt hại phải trực tiếp cùng lãnh đạo cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Đồng thời, các bằng chứng để được bồi thường cần được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, có lý, có tình.

Đỗ Văn Đại, Quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam trong BLTTDS, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr.13-20: Theo BLTTDS, Toà án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết làm rõ thế nào là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và khi nào hợp đồng được thực hiện ở Việt Nam. Bài viết cũng làm rõ câu hỏi: mặc dù được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp không? Bài viết còn cho biết, mặc dù hợp đồng không được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được thỏa thuận chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết tranh chấp không?

Phùng Trung Tập, Bàn về lỗi, một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr. 42-47: Một điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người gây thiệt hại có lỗi. Lỗi này do pháp luật quy định trước hay còn do suy đoán? Từ một số cơ sở lý luận, tác giả nhận định lỗi không phải là do suy đoán mà do pháp luật quy định trước.

Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr. 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Và khi có vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Pháp luật Việt Nam giới hạn tối đa mức phạt vi phạm: 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm trong Luật Thương mại và 5% trong Bộ luật Dân sự. Để các quy phạm pháp luật phát huy hiệu quả thì giới hạn trên không nên tồn tại. Hơn nữa, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ được sử dụng.

Ngô Thị Hường, Mối quan hệ giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 13-18: Qua phân tích các vấn đề chủ thể, bài viết cho biết điều kiện phát sinh và ranh giới giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng là hai nghĩa vụ riêng biệt và có thể thay thế cho nhau. Việc xác định mối quan hệ giữa hai nghĩa vụ này trong Luật Hôn nhân và gia đình góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng, cũng như sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật này.

Những bài khác:

Về quyền sử dụng đất: Khuất Văn Nga, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 7-10; Nguyễn Thị Mai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 8-12.

Về tài sản và quyền sở hữu: Phạm Công Lạc, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 3-9.

Về quyền tài sản: Nguyễn Ngọc Điện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 11-15; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 16-21.

Về thời hiệu khởi kiện: Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 11-12.

Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quân sự: Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 13-14; Trần Đình Hảo, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 16-21; Nguyễn Văn Vân, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-23.

Về giao dịch dân sự: Trần Hồng Thanh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 15-17; Trần Đình Hảo, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-13.

Về hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Hà Thị Mai Hiên và Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2005, tr. 21-24; số 3/2005, tr. 10-19 và số 4/2005, tr. 22-27; Lê Nết, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr 14-18.

Về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Nguyễn Thanh Hải và Nguyễn Huy Giang, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 18-20, tr. 20-22 và tr. 22-23; Vũ Thành Long, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 7-8; Phùng Trung Tập, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 2-5, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/ 2005. tr. 28-35.

Về thừa kế: Lê Hồng Hải, Trương Anh Tuấn, Nguyễn Quốc Huân, Khương Thị Minh Hằng và Vũ Thành Long, Tạp chí kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 34-35, tr. 37-38, tr. 38-39, tr. 40, tr. 40-41.

Về hụi, họ: Trần Thị ánh Nguyệt, Đinh Xuân Dụ, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005) tr. 44-45 và tr. 45-46; Trần Văn Biên, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 21-23.

Về vay tài sản: Trần Văn Biên, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2005, tr. 42-45.

Về sở hữu trí tuệ: Lê Mai Thanh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2005, tr. 33-35.

Về quan hệ có yếu tố nước ngoài: Đỗ Văn Đại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 35-39 và Đặc san Nghề luật số 9/12-2004, tr. 54-64; Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 24-32.

Về công chứng nhà nước: Lê Thị Phương Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 6-7.

Về quyền nhân thân: Lê Minh Hùng, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 3-8.

Về hoạt động của ngân hàng thương mại: Nguyễn văn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 2-6.

215 CÂU HỎI – ĐÁP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Bảo về quyền sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết phải đẩy mạnh. Để góp phần giúp bạn đọc, nhất là Thanh tra các Sở KH&CN có được những hiểu biết cơ bản về sở hữu trí tuệ và các quy định, các kỹ năng thanh tra kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ đã tài trợ cho việc biên soạn tập tài liệu này (KS Lê Văn Kiều – Chánh Thanh tra Bộ KH&CN biên soạn). Tập tài liệu bao gồm 5 phần với 196 trang. Phần I – Một số khái niệm cơ bản về sở hữu trí tuệ; Phần II – Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; Phần III – Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần IV – Xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần V – Tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về sở hữu công nghiệp. Tạp chí Hoạt động Khoa học xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn “215 câu hỏi – đáp pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp”.

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM MUA SÁCH Ở CÁC HIỆU SÁCH TIỀN PHONG/TRÀNG TIỀN

TỔNG MỤC LỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT (1975-1996)

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

1997

Mục lục

PHẦN THỨ NHẤT: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THẨM QUYỀN BAN HÀNH
PHẦN THỨ HAI: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THỜI GIAN BAN HÀNH
PHẦN THỨ BA: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO VẤN ĐỀ CHUYÊN NGÀNH

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ BÀI VIẾT VÀ NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

Lời nhà xuất bản
I. GIAI ĐOẠN 1919-1945
II. GIAI ĐOẠN 1945-1954
III. GIAI ĐOẠN 1954-1969

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên Hoàng Thế Liên 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG III. THỰC TIỄN 1 NĂM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP-THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CHƯƠNG IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP
Phụ lục

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp