PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA AUSTRALIA VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ: MÔ HÌNH LẬP PHÁP, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC MỘT CÁCH HIỆU QUẢ VÀ THÔNG LỆ HÒA GIẢI PHỔ BIẾN NHẤT

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Pháp luật và thực tiễn của Australia về hoà giải ở cơ sở: Mô hình lập pháp, Quản lý nhà nước một cách hiệu quả và Thông lệ̣ Hòa giải Phổ biến nhất

1. Bộ Tư pháp Chính quyền tiểu Bang Victoria, Australia(Bộ phận xây dựng và thực thi chính sách ADR):

Bộ Tư pháp Tiểu bang Victoria đã tổng kết hoạt động giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại tiểu bang nhằm tìm hiểu thực trạng ADR và đánh giá hiệu quả của những hoạt động này trong việc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Trên cơ sở tổng kết đó, Bộ đã xây dựng Chiến lược ADR nhằm cung cấp cho người dân Victoria thêm nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém mà lại  hiệu quả. Dự án Chiến lược ADR mới triển khai đã công bố một công trình nghiên cứu thực trạng ADR tại Tiểu bang Victoria và đề xuất những kiến  nghị mới nhằm cải thiện chế định này.

Thông qua buổi thảo luận, trao đổi, Đoàn đã nắm được những vấn đề tồn tại và các thách thức trong việc xây dựng các chuơng trình ADR ở Tiểu bang Victoria, đặc biệt là những nội dung liên quan đến giám sát và quản lý hành chính. Đặc biệt, Đoàn rất quan tâm đến các thông tin đã thu nhận được về Chiến lược, chính sách, các quy định và những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các chương trình ADR tại cộng đồng – một mô hình của Australia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Những kinh nghiệm điển hình này sẽ được kiến nghị xem xét, áp dụng trong quá trình hoàn thiện thể chế về hòa giải sắp tới.

Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI ĐÃ BỊ HỦY TẠI NƯỚC GỐC THEO CÔNG ƯỚC NEWYORK NĂM 1958: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tư pháp

1. Giới thiệu vấn đề:

Công ước New York năm 1958 của Liên hợp quốc về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài[1](sau đây gọi là Công ước) là một điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế. Với hơn 4 thập kỷ huy hoàng cùng 141 quốc gia thành viên[2], Công ước đã minh chứng một công cụ hiện đại cho việc công nhận và thi hành thoả thuận trọng tài và quyết định trọng tài một cách hữu hiệu và thành công hơn bất kỳ một công cụ nào trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, mặc dù bộ máy toàn cầu về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đã được thiết lập và vận hành một cách có hiệu quả, nhưng nó vẫn không thể tránh khỏi những tồn tại nhất định sau 50 năm thi hành.  Rất nhiều điểm bất cập của Công ước đã đến lúc cần được loại bỏ để thay thế bằng những quy định mới phù hợp hơn. Trong khi việc sửa đổi Công ước chưa được tiến hành, thì sự thống nhất giữa các nước thành viên về cách hiểu và áp dụng những điều khoản của Công ước là rất cần thiết.  Việc áp dụng đúng, đồng thời phần nào linh hoạt những quy định của Công ước cũng đặc biệt quan trọng với Việt Nam, nhất là trong trường hợp pháp luật nước ta vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, mà trong trường hợp này là bản thân Công ước.

Continue reading

VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

NÔNG XUÂN TRƯỜNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Pháp luật hình sự truyền thống của Hàn Quốc được bắt đầu từ kỷ nguyên Gochosun (2333-108 trước Công nguyên), triều đại cổ xưa đầu tiên trong lịch sử của mình với đạo luật về 8 điều cấm.

Sau đó, các triều đại kết tiếp đã có những cơ quan của riêng mình để thực hiện nhiệm vụ truy tố như Cơ quan Eosadae trong triều đại Koryo (936-1391 sau Công lịch) và Saheonboo trong triều đại Chosun (1392-1910 sau công nguyên). Đặc biệt, trong triều đại Chosun có một cơ quan đặc biệt có tên là Euigumboo để duy trì sự công bằng và điều tra một cách không thiên vị các tội phạm do Hoàng Gia cáo buộc.

Tiếp đó, mặc dù chức năng truy tố và xét xử vẫn chưa được phân chia trong việc giải quyết các vụ án như những quốc gia trong thời kỳ tiền hiện đại trên thế giới, nhưng nguyên tắc xét xử theo 3 cấp đã được thiết lập nhằm tìm hiểu thận trọng những tình tiết thực tế và phương án giải quyết tối ưu vụ án. Nguyên tắc cơ bản này rất tương đồng với nguyên tắc về tính hợp pháp trong luật hình sự hiện đại bao trùm lên toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự , đặc biệt là ở triều đại Chosun.

Continue reading

LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN PHÁP

(Phần quy định – Các Nghị định của Chính phủ )

Chương II: Viện Công tố bên cạnh Toà phá án

Điều R132-1

Chức năng của Viện công tố được giao cho cá nhân Viện trưởng Viện Công tố.

Viện trưởng Viện Công tố sẽ chỉ đạo các công tố viên  tham gia thực hiện các chức năng này.

Điều R132-2

Viện trưởng phân công các phó Viện trưởng và các công tố viên quản lý những phân toà mà Viện trưởng Viện Công tố cho rằng hoạt động của họ ở đó có hiệu quả nhất.

Viện trưởng Viện Công tố có thể uỷ quyền cho các công tố viên tự do phát biểu trước phiên toà.

Điều R132-3

Đối với các vụ việc quan trọng, công tố viên phải  trao đổi với Viện trưởng về kết luận của mình.

Trường hợp Viện trưởng không đồng ý với  kết luận của công tố viên nhưng công tố viên vẫn kiên định bảo lưu ý kiến thì Viện trưởng có thể uỷ quyền cho một công tố viên khác hoặc tự mình phát biểu trước toà.

Điều R132-4

Công tố viên được xếp hạng theo thứ bậc khác nhau trong các toà và trong các buổi nghi lễ công cộng tuỳ theo thâm niên công tác.

Tuy nhiên, các thẩm phán cao cấp của Toà phá án được bổ nhiệm là công tố viên cao cấp sẽ được xếp ở hàng tương đương vào ngày được bổ nhiệm.

Cũng tương tự như vậy, các thẩm phán, sau khi đã đảm nhận chức vụ thẩm phán cao cấp của Toà phá án hoặc công tố viên cao cấp bên cạnh Toà này, và  sau khi được giao nhiệm vụ khác, được bổ nhiệm lại là công tố viên tại Toà phá án, họ sẽ nhận chức đúng vào ngày bổ nhiệm đầu tiên tại Toà.

PHẦN III: Viện Công tố bên cạnh Toà Phúc thẩm

Điều R213-21

Các chức năng của Viện Công tố được đặc biệt giao cho Viện trưởng Viện Công tố.

Viện trưởng Viện Công tố sẽ chỉ đạo các phó Viện trưởng và các công tố viên tham gia thực hiện các chức năng này.

Điều R213-22

Viện trưởng Viện Công tố  phát biểu trước toà và các phiên toà đặc biệt khi thấy cần thiết.

Điều R213-23

Các Phó Viện trưởng và các công tố viên thay mặt Viện trưởng phát biểu trước các phiên toà của Toà Phúc thẩm.

Viện trưởng phân công Công tố viên vào làm  tại các phân toà của Toà Phúc thẩm và các phòng ban khác nhau của Viện Công tố.

Điều R213-24

Trong trường hợp Viện trưởng Viện Công tố vắng mặt hoặc không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện trưởng sẽ chỉ định một phó Viện trưởngthay thế mình đảm nhận công việc được trao cho cá nhân Viện trưởng.

Trong trường hợp, phó Viện trưởng không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, công việc này sẽ được thay thế bởi một công tố viên lâu niên nhất và ở thứ bậc cao nhất của Viện Công tố.

Điều R213-25

Trong trường hợp các công tố viên vắng mặt hoặc không thể thực hiện được chức năng nhiệm vụ, các trợ lý công tố viên sẽ thay thế đảm nhận.

Điều R213-26

Trong mỗi Toà Phúc thẩm, sẽ có một danh sách thứ bậc các công tố viên của Viện công tố.

Công tố viên được xếp vào danh sách này theo trật tự như sau:

1- Viện trưởng.

2- Phó viện trưởng theo trật tự được bổ nhiệm với tư cách là Phó viện trưởng tại Toà phúc thẩm

3- Công tố viên theo trật tự được bổ nhiệm với tư cách là công tố viên tại Toà phúc thẩm.

Phần IV – Viện Công tố bên cạnh Toà sơ thẩm

Điều R311-34

(Nghị định số 2003-542 ngày 23 tháng 6 năm 2003, điều 9 Công báo ngày 25/6/2003 có hiệu lực từ ngày 15/9/2003)

Viện trưởng Viện Công tố phân công các công tố viên dưới quyền quản lý của mình về các phân toà của Toà sơ thẩm và các phòng ban khác nhau của Viện công tố.

Điều R311-35

(Nghị định số 2003-542 ngày 23 tháng 6 năm 2003 điều 9 Công báo ngày 25/6/2003 có hiệu lực từ ngày 15/9/2003)

Viện trưởng Viện Công tố có quyền phân công, sắp xếp lại công tác của các công tố viên vào bất cứ lúc nào.

Bản thân Viện trưởng Viện Công tố có thể tự mình thực thi những chức năng, nhiệm vụ đã uỷ quyền cho các công tố viên.

Điều R311-36

(Nghị định số 96-157 ngày 27 tháng 2 năm 1996 điều 7 Công báo ngày 1/3/1996)

(Nghị định số 2003-542 ngày 23 tháng 6 năm 2003 điều 9 Công báo ngày 25/6/2003 có hiệu lực từ ngày 15/9/2003)

Trong trường hợp vắng mặt hoặc không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện trưởng sẽ chỉ định một công tố viên thay thế.

Trong trường hợp công tố viên này cũng không thể đảm nhận được, thì một   công tố viên lâu niên nhất, ở thứ hạng cao nhất, được Viện trưởng chỉ định sẽ đảm nhận theo các quy  định tại Điều L.212-2.

Điều R311-37

(Nghị định số 2003-542 ngày 23 tháng 6 năm 2003, điều 9 Công báo ngày 25/6/2003 có hiệu lực từ ngày 15/9/2003)

Tại mỗi Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng có một danh sách thứ bậc các công tố viên.

Các công tố viên được ghi vào danh sách này theo trật tự như sau:

1- Viện trưởng;

2- Phó viện trưởng theo trật tự bổ nhiệm tại Toà với tư cách là Phó viện trưởng;

3- Các công tố viên theo trật tự bổ nhiệm tại Toà với tư cách là các công tố viên.

4- Các trợ lý công tố viên theo trật tự bổ nhiệm tại Toà.

Tổ chức

Thành phần các công tố viên giống thành phần của các thẩm phán xét xử. Nhìn chung, một thẩm phán trong suốt sự nghiệp công tác của mình đều có thể sẽ đảm nhận hoặc chức năng xét xử hoặc chức năng công tố.

Thành phần thay đổi tuỳ theo chức năng tài phán:

· Trong các Toà vi cảnh, đối với các vi phạm vi cảnh hạng 5 ( tội vi cảnh mức nặng nhất ) thì công tố viên Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm sẽ thực hiện quyền công tố. Còn đối với tội vi cảnh nhỏ ở cấp thấp hơn, chức năng công tố sẽ do cảnh sát trưởng đảm nhận.

· Trong Toà tiểu hình, tuỳ theo mức độ quan trọng của vụ việc, Viện trưởng Viện công tố với sự trợ giúp của một phó Viện trưởng hoặc công tố viên sẽ đảm nhận chức năng công tố.

· Trong Toà Phúc thẩm, thực hiện vai trò công tố là Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phúc thẩm, hoặc các phó Viện trưởng hoặc các công tố viên.

· Trong Toà đại hình, thực hiện chức năng công tố là Viện trưởng Viện Công tố, hoặc phó Viện trưởng hoặc Công tố viên.

· Trong Toà phá án: Viện trưởng, phó Viện trưởng và các Công tố viên Viện công  tố ( không hề thực hiện chức năng công tố ) có vai trò giống như thanh tra chính phủ trước Tham Chính viện (  hay còn được  gọi là Toà án hành chính tối cao ).

· Ở Pháp cũng tồn tại một Viện công tố bên cạnh Toà tài chính

|Thay đổi|

Thứ bậc

Viện công tố có một tổ chức thứ bậc rất chặt chẽ. Mỗi thành viên của một Viện công tố đều phải tuân lệnh cấp trên trực tiếp. Các Viện công tố cấp dưới thuộc sự chỉ đạo và giám sát của Viện công tố cấp trên và cấp tối cao là Bộ Tư pháp. Ngoài ra, Bộ trưởng Tư pháp có quyền kỷ luật đối với các công tố viên (trường hợp công tố viên bị kỷ luật, Hội đồng Thẩm phán tối cao chỉ đưa ra ý kiến về biện pháp xử lý cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi đã xác nhận các vi phạm của công tố viên, trong khi đó Hội đồng có quyền ra quyết định kỷ luật đối với một thẩm phán xét xử).

Mặc dù vậy, nguyên tắc thứ bậc này cũng có những ngoại lệ đặc biệt:

· Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự quy định rằng Bộ trưởng  Bộ Tư pháp có thể yêu cầu truy tố chứ không được yêu cầu chấm dứt truy tố.

· Các quyết định được thực hiện bởi một công tố viên cho dù trái với mệnh lệnh của cấp trên vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, công tố viên đó sẽ có nguy cơ bị kỷ luật, có thể tới mức bị cách chức.

·  Sự phục tùng cấp trên chỉ giới hạn ở văn bản viết, theo nguyên tắc bút viết thì phải xem xét, cân nhắc nhưng lời nói thì được tự do; do đó các công tố viên có thể tự do phát biểu lập luận của mình tại phiên toà, sự phục tùng chỉ giới hạn ở  bản cáo trạng.

Đăng Công báo ngày 23 tháng 12 năm 1958

Pháp lệnh số 58-1270 ngày 22 tháng 12 năm 1958

Pháp lệnh Luật  tổ chức về Quy chế thẩm phán*

Phiên bản hợp nhất ngày 27 tháng 2 năm 2003 – phiên bản công báo ban đầu

Chương I: Các điều khoản chung

Điều 1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 32 I (Công báo ngày 26/6/2001)

I –  Ngạch tư pháp bao gồm:

1 – Thẩm phán xét xử và công tố viên Viện Công tố bên cạnh Toà phá án, Toà phúc thẩm và các Toà sơ thẩm cũng như các Thẩm phán hành chính cấp trung ương của Bộ Tư pháp;

2 – Thẩm phán xét xử và công tố viên Viện Công tố dưới sự chỉ đạo tương ứng của Chánh án và Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phúc thẩm, thực hiện các chức năng ở cấp tương đương tại Toà phúc thẩm nơi họ công tác và Toà sơ thẩm  trong phạm vi quản hạt Toà phúc thẩm nói trên.

3 – Thẩm phán tập sự, Công tố viên tập sự

II. – Tất cả các thẩm phán trong suốt sự nghiệp công tác của mình đều có thể được bổ nhiệm vào các vị trí xét xử hoặc công tố.

Điều 2

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 32 I (Công báo ngày 26/6/2001 có hiệu lực từ ngày 1/1/2002)

Thứ bậc của ngạch tư pháp bao gồm hai cấp. Việc nâng từ cấp hai lên cấp một tuỳ thuộc vào sự đánh giá trong bảng danh sách của người được thăng cấp, nâng bậc.

Không có thẩm phán nào có thể được thăng cấp lên cấp một trong toà án nơi người này đã làm việc hơn 5 năm, trừ Toà phá án.

Trong nội bộ mỗi cấp lại có các bậc theo thâm niên công tác.[1]

Các chức năng do thẩm phán ở mỗi cấp thực hiện được quy định trong Nghị định của Chính phủ.

Không một thẩm phán nào có thể được bổ nhiệm vào một vị trí tương ứng với chức năng của Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng hoặc Toà sơ thẩm và chức năng của Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà ở nơi họ được điều động. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng cho thẩm phán đáp ứng một trong các chức năng này khi công việc tương ứng được nâng lên cấp bậc cao hơn.

Điều 3

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 2 (Công báo ngày 26/6/2001 có hiệu lực từ ngày 1/1/2002)

Được xếp ngoại hạng:

1- Thẩm phán của Toà phá án, trừ thẩm phán cấp hai;

2- Chánh án Toà phúc thẩm và Viện trưởng  bên cạnh các Toà nói trên;

3- Chánh án các phân toà của Toà phúc thẩm và Công tố viên bên cạnh các toà nói trên;

4- Chánh án, các phó Chánh án thứ nhất, phó Chánh án phụ trách dự thẩm của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris cũng như Viện trưởng Viện Công tố và các phó Viện trưởng bên cạnh toà này;

5- Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng Aix-en Provence, Béthune, Bobigny, Bordeaux, Créteil, Evry, Grasse, Grenoble, Lille, Lyon, Marseille, Metz, Mulhouse, Nanterre, Nantes, Nice, Pontoise, Rouen, Strasbourg, Toulouse và Versailles cũng như các Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh các Toà này.

Chính phủ ban hành Nghị định quy định số thẩm phán được xếp ngoại hạng tuỳ theo mức độ quan trọng của hoạt động xét xử, số lượng các thẩm phán, công chức của các cơ quan tư pháp và dân số trong phạm vi quản hạt, danh sách các vị trí Chánh án, phó Chánh án Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng cũng như vị trí Viện trưởng và các phó Viện trưởng Viện Công tố.

Ghi chú: Luật tổ chức 2001-539 2001-06-25 điều 2 III: điều 4 và 5 bị bãi bỏ kể từ ngày công bố Nghị định của Chính phủ nêu ở điểm cuối cùng của điều khoản này.

Điều 3-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 32 II (Công báo ngày 26/6/2001)

Khi các thẩm phán được nêu trong điểm 2 của phần I điều I không thể thực hiện được chức trách, nhiệm vụ của mình do nghỉ ốm, bệnh kéo dài, nghỉ đẻ hoặc nhận con nuôi hoặc do đang tham gia vào các khoá thực tập đào tạo hoặc được chấp nhận nghỉ phép hàng năm thì các thẩm phán cùng cấp của Toà sơ thẩm và Toà phúc thẩm sẽ tạm thời thay thế.

Ngoài ra, họ có thể được tạm thời bố trí làm việc trong các toà án này để thực hiện nhiệm vụ thay cho một vị trí trống cùng cấp nào đó trong một khoảng thời gian không được gia hạn và không quá 8 tháng.

Đối với thẩm phán cấp một, họ có thể tạm thời được bố trí vào làm ở Toà án sơ thẩm cũng như Toà phúc thẩm, trong khoảng thời gian không gia hạn và không quá 8 tháng, để tăng cường quân số của một toà án nhằm đảm bảo việc xử lý tranh chấp trong một thời hạn nhất định.

Đối với các thẩm phán xét xử và trừ khi có sự chấp thuận của họ về một sự thay đổi công việc, họ sẽ đảm nhận các chức năng cho tới khi thẩm phán mà họ thay thế quay lại, hoặc đến thời hạn ấn định đối với sự phân công tạm thời bằng một quyết định của Chánh án.

Việc điều động các thẩm phán này, tuỳ theo họ là thẩm phán xét xử hay công tố viên, do Chánh án Toà phúc thẩm hoặc Viện trưởng Viện công tố quyết định, trong đó phải ghi rõ cách thức và thời gian thay thế hoặc thay thế tạm thời.

Để đảm bảo sự thay thế hoặc điều động tạm thời,căn cứ vào các quy định trên đây, các thẩm phán này thực hiện các chức năng xét xử hoặc công tố ở cấp Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng, xét xử ở Toà phúc thẩm nơi họ công tác hoặc toà sơ thẩm thẩm quyền rộng quan trọng nhất của tỉnh nơi có Toà án nói trên.

Số lượng các thẩm phán đối với mỗi Toà phúc thẩm không thể vượt quá một phần mười lăm ( 1/15)  số công việc của các thẩm phán Toà phúc thẩm và các Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng trong phạm vi quản hạt.

Việc bổ nhiệm thẩm phán có thể, nếu được, được vượt quá số biên chế của Toà phúc thẩm trong giới hạn số lượng ngân sách tổng thể các công việc của cấp bậc họ.

Sau hai năm thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và theo yêu cầu của họ, các thẩm phán được bổ nhiệm vào làm việc tại Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Toà phúc thẩm hoặc Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng quan trọng nhất của tỉnh có toà nói trên. Việc bổ nhiệm lần lượt đối với các vị trí xét xử hoặc công tố còn trống theo cấp bậc của các thẩm phán này và vị trí họ ứng cử, trừ các vị trí của Chánh án hoặc Viện trưởng.

Các thẩm phán này không thể, trong bất cứ các trường hợp nào, thực hiện các chức năng được nêu ở điều khoản này trong một khoảng thời gian trên 6 năm. Sau khoảng thời gian này, họ sẽ được bổ nhiệm lần lượt là thẩm phán xét xử hoặc công tố viên ở cấp bậc mà họ thuộc đối tượng đã nêu ở các điều khoản trên, muộn nhất là 4 tháng trước khi kết thúc năm thứ sáu công tác của họ, họ đã đề nghị được điều động. Sau khi được bố trí công tác theo nguyện vọng, họ được bổ nhiệm vào làm việc tại Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng quan trọng nhất của tỉnh nơi có Toà phúc thẩm. Việc bổ nhiệm có thể, nếu được, vượt số ngân sách của cấp bậc mà họ thuộc đối tượng và, nếu có, vượt biên chế tổ chức của toà án. Số thẩm phán dôi dư sẽ được bố trí công việc ngay khi có vị trí trống trong cơ quan toà án.

Trong trương hợp cần, Chính phủ ban hành Nghị định quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 4

Thẩm phán xét xử được bổ nhiệm suốt đời.

Vì vậy, các Thẩm phán xét xử không thể tiếp nhận một sự điều động mới nào, kể cả thăng tiến nếu họ không chấp thuận.

Điều 5

Công tố viên bị đặt dưới sự chỉ đạo và kiểm tra của lãnh đạo cấp trên và dưới quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Công tố viên được quyền tự do phát biểu trước toà.

Điều 6

Tất cả các thẩm phán, vào thời điểm được bổ nhiệm chức vụ thẩm phán lần đầu, và trước khi nhận nhiệm vụ, đều phải tuyên thệ như sau:

“Tôi xin thề sẽ hoàn thành tốt, trung thành và làm trọn chức trách được giao, đảm bảo giữ bí mật nghị án và xét xử trung thực và giữ gìn phẩm chất của người thẩm phán.”

Trong mọi trường hợp, thẩm phán không được bỏ qua lời tuyên thệ này.

Lời tuyên thệ được đọc trước Toà phúc thẩm. Tuy nhiên đối với các thẩm phán được trực tiếp bổ nhiệm tại Toà phá án, họ phải tuyên thệ trước toà án này.

Thẩm phán đã được bổ nhiệm sẽ tuyên thệ lại khi được tái bổ nhiệm.

Điều 7

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 80-844 ngày 29 tháng 10 năm 1980 điều 3 (Công báo ngày 30/10/1980)

Lễ nhận chức của các thẩm phán mới được bổ nhiệm được tổ chức trang trọng tại toà nơi họ được bổ nhiệm và làm việc.

Trong trường hợp cần thiết, thẩm phán có thể được tổ chức thụ chức bằng văn bản sau khi đã tuyên thệ trước Toà phúc thẩm nơi họ làm việc.

Điều 8

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 14 (Công báo ngày 26/6/2001)

Thẩm phán không được kiêm nhiệm thực hiện các công việc của công chức công quyền và tất cả các hoạt động nghề nghiệp khác.

Tuy nhiên, để hướng dẫn các hoạt động xét xử trong phạm vị thẩm quyền của mình hoặc để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà không ảnh hưởng đến nhân cách và sự độc lập của thẩm phán, ngoại trừ các hoạt động hoà giải, và các trường hợp đã được quy định trong các điều khoản pháp luật hiện hành,  các thẩm phán có thể được hưởng các ngoại lệ riêng biệt bằng một quyết định của Chánh án Toà phúc thẩm .

Các thẩm phán có thể tham gia các công tác khoa học, văn chương hay nghệ thuật mà không cần xin phép.

Điều 9

Điều chỉnh bởi Luật số 2004-192 ngày 17 tháng 2 năm 2004 điều 191 1o (Công báo ngày 2/3/2004)

Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thẩm phán không được kiêm nhiệm với việc thực hiện một nhiệm kỳ ở Nghị viện, Nghị viện châu Âu hay Hội đồng kinh tế  và xã hội.

Không ai được bổ nhiệm làm thẩm phán, cũng như làm việc tại toà án trong phạm vi quản hạt của tỉnh nơi có một phần hoặc toàn bộ người thân là thương nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ.

Việc thực hiện chức trách thẩm phán cũng không kiêm nhiệm với việc thực hiện một nhiệm kỳ tỉnh trưởng, thị trưởng thành phố hoặc quận huyện cũng như  thành viên hội đồng Paris, hội đồng đảo Corse, hội đồng vùng Nouvelle Calédonie, đại diện hội đồng vùng Polynésie thuộc Pháp hoặc thành viên hội đồng đảo Wallis và Futuna trong toà án nơi thẩm phán làm việc.

Không được bổ nhiệm làm thẩm phán cũng như làm việc trong một toà án trong phạm vi quản hạt nơi họ đã thực hiện chức trách dưới 5 năm.

Các quy định của 3 khoản nói trên không áp dụng cho các thẩm phán của Toà phá án.

Điều 9-1

Sửa đổi bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 3 (Công báo ngày 8/2/1994)

Các thẩm phán và cựu thẩm phán không được hành nghề luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, thư ký toà thương mại, nhân viên hành chính tư pháp hay làm các việc có liên quan đến nghề này trong phạm vi quản hạt toà án nơi thẩm phán đã làm việc từ 5 năm trở xuống.

Các quy định của khoản trên không áp dụng cho các thẩm phán của Toà phá án.

Điều 9-1-1

Hình thành bởi Luật số 2004-192 ngày 17 tháng 2 năm 2004 điều 191 2o

(Công báo ngày 2/3/2004)

Các thẩm phán và cựu thẩm phán không được làm việc tại các cơ quan thuộc Polynésie của Pháp hoặc các cơ quan công cộng khi họ đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở Polynésie dưới hai năm.

Điều 9-2

Hình thành bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5/2/1994

điều 3 (Công báo ngày 8/2/1994)

Thẩm phán đương nhiệm hoặc thẩm phán yêu cầu được xếp vào vị trí này, khi tiến hành thực hiện một hoạt động cá nhân, phải thông báo trước cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nghĩa vụ này cũng được áp dụng trong vòng 5 năm đối với thẩm phán đã hoàn toàn thôi thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể phản đối việc thực hiện hoạt động này khi ông ta cho rằng điều đó trái với danh dự, tính trung thực, hoặc rằng do bản chất và các điều kiện thực hiện, hoạt động này làm tổn hại đến sự vận hành bình thường của luật pháp hoặc làm mất uy tín của chức danh thẩm phán.

Trong trường hợp vi phạm một điều cấm đã nêu trong điều khoản này, thẩm phán đương nhiệm có thể bị kỷ luật với các điều kiện đã nêu ở Chương VII. Thẩm phán đã về hưu, tuỳ theo các hình thức được nêu ở chương VII, có thể bị thu hồi danh hiệu hoặc bị treo tiền trợ cấp nếu cần.

Các phương thức áp dụng điều khoản này được quy định bằng một Nghị định của Chính phủ

Điều 10

Nghiêm cấm các cơ quan tư pháp tổ chức các cuộc thảo luận mang tính chính trị.

Tất cả các hành vi vi phạm nguyên tắc và hình thức tổ chức của nhà nước Cộng hoà cũng như mọi thái độ chính trị không phù hợp đều bị cấm đối với các thẩm phán.

Tất cả các hành động cản trở hay làm phương hại đến sự vận hành của toà án cũng bị nghiêm cấm.

Điều 11

Sự độc lập của các thẩm phán được quy định rõ trong Luật hình sự và các luật  chuyên biệt, các thẩm phán được bảo vệ trước tất cả các sự đe doạ, tấn công trong khi thi hành công vụ hoặc thực hiện nhiệm vụ liên quan đến chức trách, nhịêm vụ được giao.

Nhà nước phải trực tiếp đền bù thiệt hại do thẩm phán gây ra.

Điều 11-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 79-43 ngày 18/1/1979 điều 1

(Công báo ngày 19/1/1979)

Thẩm phán ngạch tư pháp chỉ phải chịu trách nhiệm về các lỗi lầm cá nhân.

Trách nhiệm của thẩm phán phạm lỗi cá nhân gắn với việc công của toà thì   Nhà nước có thể phải bồi thường.

Việc bồi thường này  được thực hiện tại một Toà dân sự của Toà phá án.

Điều 12

Các thẩm phán, ngoài chức trách của mình, không được đảm nhận các công việc công khác trừ việc tham gia nghĩa vụ quân sự.

Quy định mới quy định rõ sự tham gia của thẩm phán vào các công việc của các cơ quan hay các cơ quan ngoài ngành tư pháp phải có ý kiến của Bộ trưởng  Bộ Tư pháp.

Không một thẩm phán nào được điều động sang Nội các cũng như được thuyên chuyển sang vị trí khác nếu thẩm phán đó chưa hoàn thành 4 năm công tác trong ngành tư pháp kể từ khi bắt đầu vào ngành.

Điều 12-1

Điều chỉnh bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 2

(Công báo ngày 27/2/2003)

Hoạt động nghề nghiệp của mỗi thẩm phán sẽ được đánh giá hai năm một lần. Việc đánh giá được thực hiện trong trường hợp có sự giới thiệu trước.

Việc đánh giá được thực hiện sau khi có ý kiến của Chánh án Toà án nơi thẩm phán được bổ nhiệm hoặc làm việc hoặc lấy kiến của lãnh đạo đơn vị nơi thẩm phán thực hiện chức trách. Đối với  các Thẩm phán cơ sở, việc đánh giá được tiến hành sau khi đã trao đổi với Thẩm phán xét xử của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng phụ trách hành chính của Toà sơ thẩm trong phạm vi quản hạt của Toà cơ sở . Việc đánh giá cũng được trao đổi với chính thẩm phán có liên quan.

Thẩm phán có thể phản đối việc đánh giá các hoạt động nghề nghiệp của mình  trước Uỷ ban đề bạt. Sau khi đã tiếp nhận các nhận xét của thẩm phán và của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá, Uỷ ban đề bạt sẽ đưa ra ý kiến nhận xét và lưu vào hồ sơ của thẩm phán có liên quan.

Một Nghị định của Chính phủ quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 12-2

Hình thành bởi Luật 92-189 ngày 25/2/1992 điều 6 (Công báo ngày 29/2/1992)

Hồ sơ của thẩm phán phải bao gồm tất cả các giấy tờ liên quan đến tình hình hành chính, được đăng ký, đánh số và sắp xếp liên tục. Trong hồ sơ này không thiết lập tình trạng cũng như chính kiến hoặc các hoạt động chính trị, công đoàn, tôn giáo hay tư tưởng, cũng không có các yếu tố liên quan chặt chẽ tới đời sống riêng tư của thẩm phán.

Mọi thẩm phán đều có quyền tiếp cận hồ sơ cá nhân trong điều kiện được luật pháp quy định.

Điều 13

Các thẩm phán bị buộc phải làm việc tại trụ sở toà án nơi họ công tác.

Các ngoại lệ đặc biệt mang tính cá nhân hoặc tạm thời có thể được Bộ trưởng Bộ Tư pháp chấp thuận dựa trên sự đồng ý của Chánh án toà án.

Chương I: Về  Hội đồng  thẩm phán

Điều 13-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5/2/1994 điều 5 (Công báo ngày 8/2/1994)

Một Hội đồng thẩm phán của các Toà sơ thẩm, phúc thẩm và của Bộ tư pháp lựa chọn các thẩm phán của cơ quan tư pháp vào uỷ ban đề bạt căn cứ vào khoản 4 điều 35.

Các thành viên của Hội đồng được quy định tại khoản trên được các thẩm phán tư pháp chỉ định bằng phiếu kín trong  3 năm.

Điều 13-2

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/12/1992 điều 17 (Công báo ngày 29/2/1992)

Trong phạm viquản hạt của Toà phúc thẩm, các thẩm phán, trừ Chánh án và Viện trưởng Viện Công tố, đều được ghi tên trên một danh sách duy nhất.

Các thẩm phán cấp I và cấp II của Toà phá án được ghi tên vào danh sách các thẩm phán trong phạm vi Toà phúc thẩm Paris.

Các thẩm phán hành chính trung ương của Bộ Tư pháp và các thẩm phán đang được biệt phái được ghi tên vào một danh sách riêng.

Quy định tương tự như vậy đối với các thẩm phán làm việc tại các vùng hải ngoại.

Các thẩm phán đương nhiệm, nghỉ chế độ đặc biệt, nghỉ phép kéo dài hoặc đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, cũng như các thẩm phán tạm thời bị đình chỉ khỏi chức vụ sẽ không được ghi tên vào các danh sách trong khoảng thời gian họ rơi vào một các tình trạng trên.

Điều 13-3

Hình thành bởi Luật tổ chức số 70-642 ngày 17/7/1970 điều 1

(Công báo ngày 19/7/1970)

Các thẩm phán thành viên của Hội đồng được lựa chọn trong số các thẩm phán, khác với thẩm phán đã được xếp ngoại hạng, được ghi tên trên danh sách đã nêu ở điều 13-2.

Các thẩm phán trong mỗi phạm vi quản hạt và của mỗi loại nêu ở điều 13-2 sẽ lần lượt chỉ định các ứng cử viên ghi tên vào các danh sách.

Chỉ có thể được chỉ định vào:

a) vị trí các thẩm phán xét xử của Toà phúc thẩm: các thẩm phán của các toà này và thẩm phán theo đoạn 2 điều 13-2;

b)  vị trí thẩm phán xét xử các Toà sơ thẩm: các thẩm phán của các toà án này và các thẩm phán theo khoản 3 của điều đã dẫn.

Điều 13-4

Hội đồng thẩm phán họp tại Toà phá án theo sự triệu tập và dưới sự chủ toạ của Chánh án Toà án nói trên.

Thực hiện trình tự bỏ phiếu kín cho việc lựa chọn các thẩm phán xét xử vào Uỷ ban đề bạt. Các thẩm phán này phải được ghi tên vào danh sách đã được nêu ở điều 13-2.

Hội đồng thẩm phán phải tiến hành lựa chọn trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày họp đầu tiên.

Nếu thiếu, quyền của Hội đồng sẽ được chuyển cho đại hội đồng Toà phá án thực hiện nốt hoặc chấm dứt công việc tuyển lựa tuỳ theo từng trường hợp.

Trong trường hợp trống chỗ của một trong các thành viên đã được bầu và của người thay thế trên 6 tháng trước khi hết hạn nhiệm kỳ, vì một trong các lý do được nêu ở điều 35-1, Hội đồng thẩm phán sẽ tiến hành bầu bổ sung bằng văn bản.

Điều 13-5

Hình thành bởi Luật tổ chức số 70-642 ngày 17/7/1970 điều 1

(Công báo ngày 19/7/1970)

Chính phủ ban hành Nghị định quy định các điều kiện áp dụng chương này.

Chương II:

về tuyển dụng và đào tạo chuyên môn  nghiệp vụ của thẩm phán

Điều 14

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 19, điều 20

(Công báo ngày 29/2/1992)

Việc đào tạo chuyên môn nghề nghiệp cho các học viên tư pháp do Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia đảm nhiệm

Các thẩm phán có quyền được đào tạo bồi dưỡng liên tục. Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia tổ chức đào tạo căn cứ vào những điều kiện được quy định trong  nghị định của Chính phủ.

Ngoài ra, trường cũng đóng góp một phần đáng kể vào việc đào tạo các thẩm phán tương lai của nước ngoài và đặc biệt là các quốc gia mà nước Pháp có ký các thoả thuận hợp tác kỹ thuật về tư pháp, hoặc vào việc thông tin và nâng cao trình độ cho các thẩm phán của các nước này.

Tổ chức và điều kiện hoạt động của Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia do quy định của hành chính công xác định.

Chương II: về tuyển dụng và đào tạo chuyên môn các thẩm phán

Phần I: về tiếp cận các cơ quan tư pháp của Trường đào tạo thẩm phán quốc gia

Điều 15

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 21, điều 22

(Công báo ngày 29/2/1992)

Các học viên được tuyển dụng:

1o bằng thi cử theo các điều kiện được quy định tại điều 17

2o dựa trên chức danh

Điều 16

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5/2/1994 điều 7

(Công báo ngày 8/2/1994)

Các ứng cử viên dự thi vào trường phải:

1o có bằng đại học ít nhất là tương đương 4 năm học, bằng này hoặc phải được Nhà nước công nhận hoặc do một quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu cấp, được Bộ Tư pháp coi là tương đương sau khi có ý kiến của Uỷ ban có thẩm quyền theo các điều kiện được quy định bởi Nghị định của Chính phủ, hoặc bằng đại học do một Học viện khoa học chính trị cấp, hoặc đã có chứng chỉ chứng nhận là cựu sinh viên trường sư phạm. Các yêu cầu này không áp dụng cho các ứng cử viên theo điểm 2 và 3 của điều 17;

2o mang quốc tịch Pháp;

3o hưởng đầy đủ quyền công dân và đạo đức tốt;

4o Được chứng nhận đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự;

5o Đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết về sức khoẻ  để thức hiện chức trách  nhiệm vụ được giao hoặc đã hoàn toàn bình phục sau các tác động dẫn đến nghỉ dài hạn.

Điều 17

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 24

(Công báo ngày 29/2/1992)

Có ba hình thức thi tuyển được tổ chức để tuyển chọn các học viên tư pháp:

1o Kỳ thi thứ nhất dành cho các ứng cử viên có đủ các điều kiện được nêu ở điểm 1 điều 16;

2o Kỳ thi thứ hai, cùng trình độ, dành cho công chức ở cấp I, II, III và IV của Nhà nước ở trung ương và công chức của các chính quyền địa phương, cho các quân nhân và các nhân viên Nhà nước khác và các cơ quan công quyền chứng minh đã làm việc được 4 năm kể đến ngày 1/1 của năm tổ chức thi.

3o Kỳ thi thứ ba, cùng một trình độ, dành cho những người đã có 8 năm kinh nghiệm nghề nghiệp. Đó có thể là những người từng là đại biểu hội đồng dân cử địa phương, thành viên một hiệp hội hoặc người đã đảm nhiệm công tác xét xử không chuyên nghiệp hoặc người đã làm việc trong các ngành nghề khác. Thời gian của các hoạt động này, nhiệm kỳ hay chức trách, chỉ được tính khi họ thực hiện nhiệm vụ không phải với tư cách là thẩm phán, công chức, quân nhân hay viên chức Nhà nước.

Một khoá dự bị được mở cho những người có đủ các điều kiện nêu ở điểm 3 của điều khoản này và phải vượt qua được các bài thi lựa chọn. Các ứng cử viên đã tham gia khoá học này và trượt ở vòng thi thứ ba sẽ được tiếp nhận, trong thời hạn 2 năm kể từ khi kết thúc khoá học, tham gia kỳ thi đầu vào của  của ngạch công chức Nhà nước loại A, vào kỳ thi sát hạch đầu vào đối với các công chức loại A của bộ máy hành chính địa phương, cũng như vào kỳ thi sát hạch  đầu vào của các cơ sở y tế công cộng, theo các điều kiện được xác định bởi các quy định pháp luật về việc tổ chức kỳ sát hạch đầu vào thứ ba ở Trường hành chính quốc gia.

Chính phủ ban hành Nghị định quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 17-1

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 19 và 21

(Công báo ngày 29/2/1992)

Các quy định pháp luật về việc lùi giới hạn tuổi của kỳ thi sát hạch đầu vào đối với vị trí công tác được áp dụng theo cùng các điều kiện thi vào ngành thẩm phán.

Điều 18

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 19 và 21

(Công báo ngày 29/2/1992)

Các thí sinh vượt qua được một trong các kỳ sát hạch nêu trong điều 17 sẽ được Bộ trưởng Bộ tư pháp quyết định bổ nhiệm là thẩm phán tập sự và được hưởng lương.

Điều 18-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 30 (Công báo ngày 26/6/2001)

Những người đã có bằng thạc sĩ luật, có kinh nghiệm làm việc ít nhất là bốn năm trong lĩnh vực pháp luật, kinh tế hoặc xã hội và đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu ở điều 16 có thể được bổ nhiệm trực tiếp là thẩm phán tập sự.

Cũng tương tự như vậy, những người có bằng tiến sĩ luật, bằng đào tạo chuyên sâu hoặc những người tham gia thực hiện chức năng giảng dạy hoặc nghiên cứu về luật  của một cơ sở đào tạo đại học trong 3 năm sau khi có bằng thạc sỹ luật và có bằng đại học chuyên sâu về một chuyên ngành luật cũng có thể được trực tiếp bổ nhiệm là thẩm phán tập sự.

Số lượng các  thẩm phán tập sự được bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán của điều khoản này không vượt quá một phần năm số lượng thẩm  phán  đã vượt qua  kỳ thi sát hạch nêu ở điều 17

Các ứng cử viên theo điều khoản này được bổ nhiệm bằng một quyết định của Trưởng ấn, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, dựa trên ý kiến thuận của Uỷ ban nêu tại điều 34.

Điều 18-2

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992, điều 19, 21, 26 (Công báo ngày 29/2/1992)

Chính phủ ban hành Nghị định quy định giới hạn  độ tuổi ít hơn hay nhiều hơn của các thí sinh theo điều 18-1.

Bên cạnh đó, Nghị định này quy định các điều kiện trong đó giảm thời gian đi học của các thẩm phán tập sự đã được tuyển dụng theo điều 18-1.

Các học viên này tuân thủ một chế độ thực tập và môn học phù hợp với chuyên ngành đào tạo ban đầu.

Sau khi kết thúc thời gian học, các học viên phải thi xếp loại với nhau để phân loại học viên

Điều 19

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 19 và 21

(Công báo ngày 29/2/1992)

Các học viên tư pháp tham gia vào các hoạt động toà án theo trách nhiệm của các thẩm phán, tuy nhiên không được uỷ quyền ký.

Họ có thể:

Hỗ trợ thẩm phán dự thẩm trong tất cả các hoạt động điều tra

Hỗ trợ các Công tố viên trong việc thực hiện chức năng công tố;

Ngồi toà và tham gia với tư cách tư vấn cho các kết luận tại toà dân sự và tiểu hình;

Phát biểu luận tội và kết luận trước các toà ;

Trợ giúp vào việc nghị án của Toà đại hình.

Các học viên có thể, theo năng lực cá nhân, tiến hành thực tập một phần thời gian học tại Trường thẩm phán Quốc gia như là một cộng tác viên của luật sư ghi tên vào Đoàn luật sư. Hoạt động của họ vào chức danh này là tình nguyện.

Điều 20

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992, điều 19, 21

(Công báo ngày 29/2/1992)

Các  học viên tư pháp bị bắt buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp.

Trước mọi hoạt động, họ phải tuyên thệ trước Toà phúc thẩm như sau:

“Tôi thề giữ bí mật nghề nghiệp và cư xử như một thẩm phán trung thành và có phẩm cách”

Không có trường hợp nào được bỏ qua lời tuyên thệ này.

Chương II: về đào tạo chuyên môn nghiệp vụ thẩm phán

Sửa đổi luật tổ chức 70 – 642 1970- 07 -17 điều 2, công báo số 19 /7/1970

Chương II: về tuyển dụng và đào tạo chuyên môn  của các thẩm phán

Phần I: về tiếp cận các cơ quan tư pháp của Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia

Điều 21

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5/2/1994 điều 8

(Công báo ngày 8/2/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1996)

Một hội đồng tiến hành sắp xếp các học viên mà họ cho là thích hợp, sau khi ra trường, để thực hiện các chức năng tư pháp. Hội đồng ra thông báo về sự thích hợp của từng học viên theo chức trách  mà họ có thể đảm nhận tốt nhất và thậm chí thực hiện ngay tại lúc bổ nhiệm vào vị trí đầu tiên.

Có thể tách một học viên khỏi chức vụ này hoặc bổ nhiệm lại sau một năm học.

Danh sách  xếp hạng  được báo cáo lên Trưởng ấn,Bộ trưởng Bộ tư pháp để đăng công báo.

Điều 21-1

Hình thành bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 23

(Công báo ngày 26/6/2001)

Hai kỳ thi được tổ chức để tuyển dụng các thẩm phán cấp hai và cấp một của thứ bậc tư pháp.

Các thí sinh phải đáp ứng các điều kiện được nêu ở điều 16.

Họ phải:

1o Đối với các ứng cử viên cấp hai của bậc tư pháp, độ tuổi ít nhất từ 35 tính đến ngày 1/1 của năm tổ chức thi và chứng minh được ít nhất 10 năm hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực toà án, hành chính, kinh tế, xã hội, có phẩm chất đặc biệt để thực hiện các chức năng tư pháp;

2o Đối với các ứng cử viên cấp một của bậc tư pháp, độ tuổi ít nhất là 50 tính đến ngày 1/1 của năm tổ chức thi và chứng minh ít nhất 15 năm hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp, hành chính, kinh tế, xã hội, có phẩm chất đặc biệt để thực hiện các chức năng tư pháp;

Các ứng cử viên được tiếp nhận sẽ được đào tạo tại Trường đào tạo thẩm phán Quốc gia. Họ được trả lương trong khoảng thời gian này, bao gồm cả thực tập trong các điều kiện được nêu ở điều 19 và  khoản đầu tiên của điều 20.

Trước khi thực hiện mọi hoạt động, họ phải tuyên thệ trước Toà thượng thẩm như sau: “Tôi xin thề giữ gìn bí mật các tài liệu về công tố, tài liệu dự thẩm và phán quyết mà tôi được biết trong quá trình thực tập”. Không có trường hợp nào được bỏ qua lời tuyên thệ này.

Sau giai đoạn đào tạo này, họ được bổ nhiệm, dưới các dạng được nêu ở điều 28, vào các vị trí công việc mà họ đã từng được tuyển dụng. Các quy định tại điều 27-1 không được áp dụng.

Những năm hoạt động chuyên môn được các thẩm phán hoàn thành theo điều khoản này sẽ được tính đối với việc nâng bậc và thăng tiến.

Các quy định của điều 25-4 được áp dụng cho các thẩm phán được tuyển dụng theo quy định của điều khoản này.

Số lượng tổng cộng các vị trí đối với các kỳ thi tuyển trong một năm được xác định không vượt quá:

1o Đối với các kỳ thi tuyển vào bậc hai của thứ bậc tư pháp, một phần năm tổng số tuyển dụng vào bậc hai của năm trước đó, tuy nhiên tỷ lệ này có thể tăng lên do phần không sử dụng hết của năm này các khả năng bổ nhiệm được quy định tại điều 25;

2o Đối với các kỳ thi tuyển vào bậc một của thứ bậc tư pháp, một phần mười tổng số bổ nhiệm vào bậc một được công bố trong năm trước đó.

Chính phủ ban hành quy định xác định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Ghi chú: Luật tổ chức 2001-539 2001-06-25 điều 31: đối với mỗi năm 2002 và 2003, bằng các quy định riêng so với điều khoản 21-1, việc tuyển dụng bằng thi cử các thẩm phán cấp hai của thứ bậc tư pháp được phép trong giới hạn 125 vị trí.

Phần II:  Sự  chuyển ngạch trực tiếp trong các cơ quan tư pháp

Điều 22

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 19, điều 28 (Công báo ngày 29 tháng 2 năm 1992)

Có thể được bổ nhiệm trực tiếp vào chức vụ bậc II của thứ bậc tư pháp với điều kiện ở độ tuổi ít nhất là 35:

1o Những người đáp ứng đầy đủ các điều kiện được nêu ở điều 16 và chứng minh đã làm việc tối thiểu 7 năm trong lĩnh vực tư pháp;

2o Thư ký toà và các hội đồng hoà giải và chứng minh đã làm việc 7 năm trong đơn vị đó.

3o Các công chức loại A của Bộ Tư pháp không đáp ứng đủ điều kiện đã nêu ở điểm 1 của điều 16 nhưng chứng minh đã làm việc ít nhất 7 năm ở vị trí này.

Điều 23

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 I (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Có thể được bổ nhiệm trực tiếp vào vị trí bậc một của thứ bậc tư pháp:

1o Những người đáp ứng đủ điều kiện nêu ở điều 16 và chứng minh đã làm việc tối thiểu 17 năm trong lĩnh vực tư pháp;

2o Thư ký toà và thành viên của Hội đồng hoà giải đáp ứng đủ các điều kiện về cấp bậc được quy định trong nghị định của Chính phủ và năng lực, kinh nghiệm của họ đặc biệt được đánh giá cao để thực hiện các chức trách tư pháp theo điều khoản này.

Điều 24

Bãi bỏ bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ 1/1/2002)

Điều 25

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 24 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Trong vòng 1 năm xác định, việc bổ nhiệm vào các chức danh của điều 22 không vượt quá một phần năm trên tổng số thẩm phán tuyển dụng vào cấp II của năm trước đó.

Điều 25-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/ 6/ 2001 điều 8 II, III (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1/ 1 / 2002)

Trong vòng 1 năm được xác định, việc bổ nhiệm vào các chức danh của điều 23 không vượt quá một phần mười năm trên tổng số được thăng tiến vào bậc một của năm trước đó.

Điều 25-2

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 IV, điều 11 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1/ 1/ 2002)

Việc bổ nhiệm vào các chức danh của điều 22 và 23  được thực hiện sau khi có ý kiến tán thành của uỷ ban nêu ở điều 34.

Hiệu trưởng Trường Đào tạo thẩm phán Quốc gia và chủ tịch hội đồng thi tuyển vào trường tham gia với tư cách tư vấn cho các kết luận của Uỷ ban.

Uỷ ban xác định cấp bậc, nhóm, thứ hạng và chức trách mà ứng cử viên có thể được bổ nhiệm. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban này có thể quyết định yêu cầu  thẩm phán hoàn thành  khoá đào tạo trước khi đảm nhận chức vụ.

Những năm hoạt động nghề nghiệp mà thẩm phán được tuyển dụng đã hoàn thành ở chức danh của điều 22 được gộp vào thời gian làm việc tính cho việc thăng tiến trong giới hạn 2 năm. Các quy định này được áp dụng cho các thẩm phán có liên quan được bổ nhiệm cách 10 năm trước ngày có hiệu lực của Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 về địa vị thẩm phán và Hội đồng thẩm phán cấp cao.

Điều 25-3

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 IV (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Trước khi công bố, uỷ ban có thể quyết định bổ nhiệm một ứng cử viên vào một chức danh của điều 22 và 23 khi  hoàn thành một khoá thực tập ở toà án do Trường Đào tạo thẩm phán Quốc gia tổ chức theo các trình tự được nêu ở điều 19.

Ứng cử viên được nhận vào thực tập bị bắt buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp và tuyên thệ khi bắt đầu thực tập, trước Toà phúc thẩm ở nơi thực tập: “Tôi xin thể gìn giữ bí mật các tài liệu công tố, dự thẩm và phán quyết mà tôi được biết trong quá trình thực tập của tôi”.

Hiệu trưởng Trường Đào tạo thẩm phán Quốc gia lập bản tổng kết quá trình thực tập của mỗi ứng cử viên dưới dạng báo cáo và gửi tới hội đồng nêu ở điều 21.

Sau khi trao đổi với ứng cử viên, hội đồng công bố khả năng của họ đối với việc thực hiện chức trách tư pháp và chuyển ý kiến của mình tới Uỷ ban nêu ở điều 34.

Một nghị định của Chính phủ xác định các điều kiện áp dụng điều 25-2 và điều khoản này, nhất là các điều kiện đảm bảo việc trả lương và bảo hiểm xã hội cho những người đã hoàn thành giai đoạn thực tập.

Điều 25-4

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 IV (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Chính phủ ban hành nghị định quy định các điều kiện theo đó những người được bổ nhiệm trực tiếp vào ngành thẩm phán theo chức danh tại điều 22 và 23 có thể được tính gộp các năm công tác trước khi được bổ nhiệm là thẩm phán để tính chế độ hưu trí. Đối với những năm công tác trước khi được bổ nhịêm làm thẩm phán, Nhà nước sẽ thay thế các thẩm phán đó để nhận số tiền hưu được hưởng ( chế độ hưu trí cơ bản và chế độ hưu trí bổ sung ) trong phạm vi mức đóng góp bắt buộc tối thiểu.

Cách tính này phụ thuộc vào việc đóng góp mà Nghị định trên xác định mức độ và phương thức đóng góp.

Nhà nước sẽ thay mặt người đó để thu những khoản tiền mà người đó được hưởng như lương hưu cơ bản và lương hưu bổ sung trong thời gian công tác trước đây, sau đó nhập vào lương hưu thẩm phán để trả sau này.

Ngoài ra, Nghị định này chỉ rõ các điều kiện theo đó các luật sư, công chứng viên, nhân viên thi hành án và các thư ký Toà thương mại được bổ nhiệm trực tiếp vào ngành thẩm phán trước ngày có hiệu lực của luật tổ chức số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều chỉnh pháp lệnh số 58-1270 ngày 22 tháng 12 năm 1958 liên quan đến chức danh thẩm phán, có thể được hưởng các quy định của điều khoản này.

Ghi chú : Luật tổ chức 2001-539 2001-06-25 điều 9 : các quy định của điều 25-4 được áp dụng cho những người được bổ nhiệm vào ngành thẩm phán với chức danh ở điều 24 cùng pháp lệnh trước khi luật tổ chức này có hiệu lực cũng như đối với các thẩm phán được tuyển dụng qua các kỳ thi đặc biệt.

Chương III : về các thẩm phán cấp I và cấp II

Điều 26

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 10 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Tổng thống nước Cộng hòa bổ nhiệm các thẩm phán tập sự vào vị trí bậc hai của thứ bậc tư pháp theo đề nghị của Bộ trưởng  Bộ Tư pháp.

Theo thứ bậc xếp hạng của họ và theo danh sách được đề xuất, thẩm phán tập sự cần thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp vị trí mà họ mong muốn được bổ nhiệm.

Thẩm phán tập sự nào không tự đề xuất sự lựa chọn sẽ được bố trí bổ nhiệm vào một vị trí nhất định và nếu họ không chấp nhận đề xuất này, bị coi đã từ nhiệm.

Dựa trên những sự lựa chọn này, Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ lấy ý kiến của Ban có  thẩm quyền của  Hội đồng thẩm phán tối cao.

Trong trường hợp có ý kiến không ủng hộ việc đề cử một thẩm phán tập sự vào vị trí xét xử, một đề xuất bổ nhiệm mới sẽ được đưa ra sau khi đã tham khảo thẩm phán tập sự đó và tuân thủ ý kiến của Hội đồng thẩm phán tối cao. Trong trường hợp ý kiến không ủng hộ việc bổ nhiệm một thẩm phán thực tập vào vị trí công tố, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể bỏ qua hay đưa ra một đề xuất mới sau khi đã tham khảo ý kiến của thẩm phán đó và phải tuân thủ ý kiến của Hội đồng thẩm phán tối cao.

Nếu thẩm phán tập sự từ chối đề xuất mới, coi như đã từ nhiệm.

Thâm niên công tác của thẩm phán được tuyển dụng qua kỳ thi tuyển thứ hai và thứ ba vào Trường Đào tạo thẩm phán Quốc gia cũng như những người được tuyển vào chức danh ở điều 18-1 của Pháp lệnh này được tính để xếp hạng thứ bậc và thăng tiến của họ. Những quy định này được áp dụng cho các thẩm phán liên quan được bổ nhiệm cách 10 năm trước khi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 kể trên có hiệu lực.

Một nghị định của Chính phủ quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 27

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 V (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Hàng năm, danh sách các thẩm phán được giới thiệu, theo thứ tự khả năng, để đăng ký vào bản đánh giá đề bạt được người có thẩm quyền gửi cho Bộ trưởng  Bộ Tư pháp. Những danh sách này được thông báo cho các thẩm phán. Những thẩm phán không được giới thiệu có thể gửi yêu cầu tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp để được đăng ký.

Một nghị định của Chính phủ quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 27-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 10

(Công báo ngày 8/2/1994)

Đề án bổ nhiệm vào thẩm phán cấp một hay cấp hai và danh sách các ứng cử viên vào vị trí này được thông báo, đối với các vị trí xét xử hay công tố, cho Hội đồng thẩm phán cấp cao.

Đề án bổ nhiệm được gửi cho Chánh án Toà phá án, Chánh án Toà phúc thẩm, Tổng thanh tra cơ quan toà án cũng như các giám đốc và trưởng các đơn vị hành chính trung ương của Bộ Tư pháp để phổ biến tới các thẩm phán đang đương nhiệm trong toà án đó và trong các cơ quan, phòng ban của toà án đó. Tài liệu này cũng được gửi cho công đoàn và các tổ chức nghề nghiệp đại diện cho các thẩm phán, và theo yêu cầu của họ, cho các thẩm phán đang đảm nhận  một vị trí công tác khác.

Mọi nhận xét về một ứng cử viên liên quan đến đề án bổ nhiệm phải được gửi cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp và cho Hội đồng thẩm phán tối cao.

Các quy định của điều khoản này không áp dụng cho các đề án bổ nhiệm các thư ký toà án. Các quy định này cũng không được áp dụng cho các đề xuất bổ nhiệm được nêu ở điều 26, cũng không cho các đề án bổ nhiệm thực hiện theo quyết định nêu ở điểm 2, 3 và 5 của điều 45 và đoạn 2 của điều 46.

Điều 28

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 VI (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Nghị định về việc bổ nhiệm Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng hay thẩm phán cấp hai Toà phá án do Tổng thống nước Cộng hoà ban hành dựa trên đề nghị của Hội đồng Thẩm phán tối cao.

Các nghị định về thăng bậc hay bổ nhiệm thẩm phán khác với các chức danh đã nêu ở đoạn nói trên đây sẽ do Tổng thống nước Cộng hoà ban hành dựa trên đề xuất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi có ý kiến thuận của Hội đồng thẩm phán tối cao về những gì liên quan đến Thẩm phán xét xử và sau khi có ý kiến của Ban có thẩm quyền của Hội đồng thẩm phán tối cao về những gì liên quan đến Công tố viên. Những quy định bổ nhiệm Công tố viên cũng được áp dụng cho các thẩm phán hành chính trung ương của Bộ Tư pháp.

Thời gian thực hiện chức trách của  thẩm phán cấp hai là 10 năm; không gia hạn, không kéo dài.

Điều 28-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 VII (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Muộn nhất là 9 tháng trước khi kết thúc năm thứ 10 tại vị, thẩm phán cấp hai  phải thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp vị trí mong muốn được điều động đến, ở thứ bậc tương đương, ít nhất là trong ba phân toà khác nhau của Toà phúc thẩm. Các yêu cầu điều động của thẩm phán cấp hai được nêu ở điều khoản này thường nhằm vào vị trí Chánh án  của một toà án hay Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh một toà án.

Muộn nhất là 6 tháng trước khi kết thúc năm thứ 10 tại vị của thẩm phán có liên quan, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể mời những người này nêu 3 yêu cầu bổ sung điều động đến 3 toà án khác thuộc các phân toà của Toà phúc thẩm.

Quá 10 năm thực hiện chức trách Thẩm phán cấp hai, các thẩm phán này được bổ nhiệm vào một các chức trách mà họ đã đề nghị trong các điều kiện đã nêu ở hai đoạn trên.

Nếu các thẩm phán này không bày tỏ mong muốn điều động trong các điều kiện quy định ở khoản thứ nhất và thứ hai của điều này, trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề xuất với họ về một sự điều động, ngang với thứ bậc của họ, vào các vị trí xét xử tại ba toà án. Nếu chập thuận trong thời gian 1 tháng, họ sẽ được bổ nhiệm vào một trong ba toà án ở vị trí dành cho họ sau 10 năm thực hiện chức trách thẩm phán cấp hai.

Việc bổ nhiệm được quy định ở điều khoản này được công bố, nếu cần thiết, vượt qúa số ngân sách hiện có ở cấp của thẩm phán cấp hai  và nếu có thể, vượt quá biên chế tổ chức hiện có của toà án.

Các thẩm phán được bổ nhiệm vào vị trí trống dôi dư đầu tiên phù hợp với chức trách nhiệm vụ thực hiện ở Toà nơi được bổ nhiệm.

Các thẩm phán được nêu trong điều khoản này không  được bổ nhiệm vào vị trí thẩm phán ngoại hạng của Toà phá án theo các điều kiện quy định ở điều 39 trước 3 năm kết thúc công việc hiện tại hoặc biệt phái hoặc ở các Toà án mà những người này được bổ nhiệm sau khi đã thực hiện chức trách thẩm phán cấp hai.

Điều 28-2

Hình thành bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 3 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Chức năng Chánh án và Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng hoặc sơ thẩm cấp 1 được thực hiện lần lượt bởi một thẩm phán hay một Công tố viên của Toà phúc thẩm trong phạm vi quản hạt của toà, được chỉ định theo các hình thức được nêu ở điều 28.

Ngoại lệ của khoản trước là : chức năng Chánh án và Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm thuộc phạm vi của một Toà phúc thẩm cấp trên, được thực hiện lần lượt bởi một thẩm phán xét xử hay một công tố viên cấp một của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris.

Chức năng Chánh án và Viện trưởng Viện công tố bên cạnh một Toà phúc thẩm cấp trên được thực hiện lần lượt bởi một thẩm phán xét xử hay công tố viên của Toà phúc thẩm Paris.

Nếu không đảm nhận chức vụ này, theo sự chỉ định của Chánh án hay Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng, Toà sơ thẩm hay Toà phúc thẩm cấp trên phù hợp với các khoản trước, thẩm phán được bổ nhiệm đồng thời hoặc vào vị trí Thẩm phán xét xử hoặc vị trí Công tố viên của Toà phúc thẩm hoặc vào một vị trí thẩm phán cấp một của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris. Việc bổ nhiệm này được công bố, trong trường hợp cần thiết, vượt quá biên chế tổ chức  hiện hành của Toà phúc thẩm hay Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng. Số dôi ra sẽ được phân bổ vào vị trí trống cần thiết đầu tiên trong toà này.

Không ai được giữ chức quá 7 năm ở vị trí Chánh án hay Viện trưởng Viện công tố ở cùng một Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Toà sơ thẩm hoặc Toà phúc  thẩm cấp trên. Hết thời hạn này, nếu không nhận được một sự điều động khác, thẩm phán được bãi miến khỏi vị trí này bằng một quyết định của Tổng thống  nước Cộng hoà và tiếp tục làm việc tại Toà phúc thẩm hay Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng với những chức năng mà họ đã được bổ nhiệm lúc đầu. Tương tự như vậy, trước thời hạn này, thẩm phán được bãi miễn  khỏi vị trí này theo yêu cầu cá nhân hoặc theo quy định của  điều 45.

Ghi chú : Luật 2001-539 2001-06-25 điều 13 : các quy định của điều 28-2 áp dụng cho việc bổ nhiệm kể từ 1/1/2002.

Điều 28-3

Điều chỉnh bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 3

(Công báo ngày 27/2/2003)

Các chức năng của thẩm phán dự thẩm, thẩm phán phụ trách trẻ vị thành niên, thẩm phán áp dụng hình phạt tại Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm và chức năng thẩm phán của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng phụ trách công tác của Toà sơ thẩm do một thẩm phán xét xử của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm thực hiện, được chỉ định theo các hình thức được quy định ở điều 28.

Nếu họ không đảm nhận vị trí này khi được chỉ định, thẩm phán dự thẩm, thẩm phán phụ trách trẻ vị thành niên, thẩm phán áp dụng hình phạt tại Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm và thẩm  phán của một Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng phụ trách công tác của Toà sơ thẩm phù hợp với các khoản trên, thẩm phán được bổ nhiệm đồng thời vào vị trí thẩm phán xét xử của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm. Việc bổ nhiệm này được công bố, trong trường hợp cần thiết, vượt quá số lượng biên chế tổ chức của toà. Số dôi ra sẽ được bổ sung vào vị trí trống cần thiết đầu tiên trong toà này.

Không ai được làm việc quá 10 năm ở vị trí thẩm phán dự thẩm, thẩm phán phụ trách trẻ vị thành niên, thẩm phán áp dụng hình phạt tại Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm và thẩm phán của một Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng phụ trách công tác của Toà sơ thẩm ở trong cùng một Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm. Hết thời hạn này, nếu không nhận được một sự điều động khác, thẩm phán được rút khỏi vị trí này bằng một quyết định của Tổng thống nước Cộng hoà và tiếp tục làm việc  tại  Toà  sơ  thẩm hay Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng với những chức năng thẩm phán  xét xử đã được bổ nhiệm ban đầu. Sẽ tương tự như vậy trong trường hợp trước thời hạn này, thẩm phán được rút khỏi chức trách này theo yêu cầu cá nhân hoặc quy định của điều 45.

Chương III : Về các Thẩm phán cấp 1 và cấp 2

*Tiêu đề thay đổi : Luật tổ chức 67-130 1967-02-20 điều 3 Công báo

ngày 21/2/1967*

Điều 29

Bãi bỏ  bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 54 (Công báo ngày 29/2/1992)

Điều 29

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 15 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Để có các biện pháp phù hợp với sự vận hành tốt của các cơ quan và các đặc tính riêng của tổ chức toà án, việc bổ nhiệm các thẩm phán phải tính đến cả tình trạng gia đình của họ.

Các quy định của Luật ngày 30 tháng 12 năm 1921 liên quan đến những công chức được kết hôn  hoặc là với các công chức của tỉnh, hoặc là  kết hôn với những công chức mà chỗ ở của họ đã được xác định, không được áp dụng cho các thẩm phán.

Chương III : về các thẩm phán cấp 1 và cấp 2

Điều 30

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 54

(Công báo ngày 29/2/1992)

Chính phủ ban hành Nghị định ấn định các điều kiện trong đó luật sư, công chứng viên, thừa phát lại được chuyển trực tiếp sang ngạch thẩm phán theo chức danh của điều khoản này có thể được nhận, trung bình được rót một khoản phụ cấp mà nghị định này quy định định mức và phương thức, cho việc hưởng phụ cấp hưu trí nhà nước hay trợ cấp hàng năm, những năm công tác mà họ đã hoàn thành trước khi được bổ nhiệm làm thẩm phán. Nghị định này cũng sẽ làm rõ các điều kiện theo đó những người được tuyển dụng trước ngày có hiệu lực của Luật tổ chức số 80-844 ngày 29 tháng 10 năm 1980 có thể được hưởng các quy định của điều khoản này.

Chương III : Về các thẩm phán cấp 1 và cấp 2

*Tiêu đề thay đổi : luật tổ chức 67-130 1967-02-20 điều 3 Công báo ngày 21/2/1967*

Điều 30-1

Bãi bỏt bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 54 (Công báo ngày 29/2/1992)

Điều 30-2

Bãi bỏt bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 54 (Công báo ngày 29/2/1992)

Chương III : Về các thẩm phán cấp 1 và cấp 2

Điều 31

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 VII (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Khi tiến hành giải thể một toà án, các thẩm phán xét xử và công tố viên sẽ nhận được một sự điều động mới theo các điều kiện được ấn định sau đây và theo các hình thức được quy định ở hai khoản đầu tiên của điều 28.

Muộn nhất là 9 tháng trước khi giải thể toà án, các thẩm phán xét xử phải báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp yêu cầu được điều động vào vị trí tương đương ở một trong những toà có thẩm quyền toàn bộ hay một phần  trong phạm vi của toà án bị giải thể

Trường hợp thẩm phán không thể hiện yêu cầu được điều động này, họ nêu rõ ba sự điều động mà họ mong muốn được nhận, ở cấp tương đương, một trong những toà án có thẩm quyền toàn bộ hay một phần của toà bị giải thể nhưng ở những vị trí khác với những gì họ đã đảm nhiệm, hoặc trong cùng loại hình toà án. Muộn nhất là sáu tháng trước ngày được nêu ở khoản trên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể mời các thẩm phán trình bày ba nguyện vọng điều động bổ sung. Các yêu cầu điều động được quy định ở khoản này chỉ có thể dành đặc quyền cho vị trí Chánh án toà án.

Vào ngày giải thể Toà án, các thẩm phán này được bổ nhiệm vào một trong các vị trí công tác mà họ yêu cầu được điều động.

Nếu những thẩm phán  không bày tỏ nguyện vọng đề nghị được bố trí công tác, họ được bổ nhiệm vào một trong những Toà có thẩm quyền toàn bộ hay một phần trong phạm vi của Toà bị bãi bỏ theo những chức năng, vị trí họ đã đảm nhận trước đó.

Việc bổ nhiệm được nêu trong 4 khoản trước được công bố, trong trường hợp cần thiết, vượt quá số biên chế ngân sách của bậc thẩm phán có liên quan và biên chế tổ chức của toà án. Số dư ra được bổ sung vào chỗ trống đầu tiên trong toà án và phù hợp với chức trách được thực hiện.

Muộn nhất là 9 tháng trước khi giải thể toà án, các công tố viên thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp biết vị trí công tác mà họ mong muốn được điều động. Muộn nhất là 6 tháng trước ngày này, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể mời các công tố viên đến trình bày nguyện vọng điều động bố trí công tác bổ sung. Yêu cầu điều động bố trí công tác của họ không được nhằm vào các vị trí thủ trưởng các cơ quan toà án.

Vào ngày giải thể toà án, số dôi dư theo các điều kiện được quy định ở đoạn 6, nếu có thể,  họ được bổ nhiệm ngay vào một vị trí mới.

Chương III : Về các thẩm phán bậc 1 và bậc 2

*Tiêu đề thay đổi : luật tổ chức 67-130 1967-02-20 điều 3 Công báo ngày 21/2/1967*

Điều 32

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 76-120 ngày 5 tháng 2 năm 1976 điều 6 (Công báo ngày 6 tháng 2 năm 1976)

Không ai được bổ nhiệm làm thẩm phán trong phạm vi quản hạt của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng nơi họ đã hành nghề luật sư, công chứng viên, thừa phát lại hay trợ lý tại Toà Thương mại từ 5 năm trở lại. Tuy nhiên, việc loại trừ này còn được mở rộng đến một hay nhiều toà khác trong phạm vi quản hạt của Toà phúc thẩm ngay khi Uỷ ban được nêu ở điều 34 đã có ý kiến về việc này.

Điều 33

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 46

(Công báo ngày 29/2/1992)

Thư ký các toà án khác nhau của các tỉnh Bas-Rhin, Haut-Rhin và Moselle có thể được bổ nhiệm là thẩm phán  phụ trách quản lý đất đai theo các điều kiện được quy định bởi quy chế hành chính công.

Sau 3 năm thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình, các thẩm phán phụ trách quản lý đất đai có thể chuyển sang các chức trách của thẩm phán bậc hai khác ; đối với những người không có bằng cử nhân luật, với điều kiện là có ý kiến thuận của uỷ ban được nêu ở điều 34 cũng được chuyển đổi nhưng trước khi quyết định, Uỷ ban có thể yêu cầu  họ phải hoàn thành kỳ thực tập ở toà án; hoặc cũng có thể yêu cầu họ phải qua một kỳ đào tạo trước khi nhận chức trách mới.

Chương IV : về Uỷ ban đánh giá đề bạt

Điều 34

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 13 (Công báo ngày 8/2/1994)

Một Uỷ ban chịu trách nhiệm về lập và quyết định danh sách những người đủ khả năng đảm nhận chức vụ. Uỷ ban này là chung cho cả các thẩm phán xét xử và  công tố viên.

Bảng thăng tiến được trao đổi với mỗi ban có thẩm quyền Hội đồng thẩm phán  tối cao trước khi được Tổng thống nước Cộng hoà ký.

Uỷ ban đánh giá đề bạt có thể yêu cầu những người có thẩm quyền đánh giá hoạt động nghề nghiệp của ứng cử viên đăng ký vào danh sách thẩm phán đủ khả năng hoặc đăng ký vào bảng thăng tiến những chi tiết trên nội dung hồ sơ. Những chi tiết và nhận xét của từng ứng cử viên được lưu vào hồ sơ của thẩm phán. Uỷ ban cũng có thể gửi những nhận xét mà Uỷ ban cho là có lợi đối với các hồ sơ được xem xét tới những người có thẩm quyền đánh giá hoạt động nghề nghiệp của thẩm phán.

Hàng năm, Uỷ ban đánh giá đề bạt phải lập báo cáo về các hoạt động để công bố công khai.

Điều 35

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 46 (Công báo ngày 29/2/1992)

Uỷ ban đánh giá đề bạt, ngoài Chánh án Toà phá án, gồm có  Chánh án và Viện trưởng  Viện Công tố bên cạnh toà liên quan:

1o Chánh thanh tra các cơ quan tư pháp  hoặc phó Chánh thanh tra ( trường hợp vắng )  và thủ trưởng các cơ quan tư pháp, hoặc trong trường hợp vắng, đại diện của người này ở cấp ít nhất là tương đương cấp phó thủ trưởng và có tư cách thẩm phán;

2o Hai thẩm phán ngoại hạng của Toà phá án, một thẩm phán xét xử và một công tố viên, được toàn thể các thẩm phán ngoại hạng của các toà án liên quan bầu ra;

3o Hai Chánh án và hai Viện trưởng  Viện Công tố bên cạnh Toà thượng thẩm được toàn bộ các Chánh án và Viện trưởng Viện Công tố của toà này bầu ra.

4o Mười thẩm phán của cơ quan tư pháp, ba thẩm phán bậc 1 và 7 thẩm phán bậc 2 được Hội đồng thẩm phán bầu ra theo các điều kiện được nêu ở chương I.b

Khi bầu chọn mỗi uỷ viên chính thức theo quy định của điểm 2, 3 và 4 Uỷ ban cũng tiến hành lựa chọn một uỷ viên dự khuyết theo cùng các phương thức.

Điều 35-1

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 14

(Công báo ngày 8/2/1994)

Thời hạn nhiệm kỳ của uỷ viên chính thức và dự khuyết của Uỷ ban đánh giá đề bạt theo điểm 2, 3 và 4 của điều 35 là 3 năm và không gia hạn.

Khi vị trí của một trong các thành viên theo điểm 2, 3 và 4 của điều 35 trở nên  bỏ trống vì lý do chết, ngừng hoàn toàn, từ nhiệm hay trong trường hợp mất phẩm chất đối với chức danh đã được bầu,  vị trí này sẽ được uỷ viên dự khuyết thay thế đến khi kết thúc nhiệm kỳ. Uỷ viên dự khuyết có thể thay thế uỷ viên chính thức tạm thời vắng mặt. Họ không thể cùng nhau đảm nhận vị trí cùng một thời điểm.

Điều 35-2

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 46 (Công báo ngày 29/2/1992)

Trong thời gian nhiệm kỳ của mình, các uỷ viên được bầu của Uỷ ban đánh giá đề bạt, bao gồm cả uỷ viên dự khuyết, không được hưởng thăng tiến cấp bậc, kể cả thăng tiến vào một vị trí ngoại hạng.

(Những quy định này bị coi không phù hợp với Hiến pháp bằng quyết định của Hội đồng hiến pháp số 92-305 DC ngày 21/2/1992).

Điều 36

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 8 VII (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Bảng thăng tiến được lập hàng năm. Bảng thăng tiến được lập cho một năm có giá trị đến ngày công bố bảng thăng tiến của năm tiếp theo.

Danh sách thẩm phán đủ khả năng  được lập ít nhất  mỗi năm một lần. Việc đăng ký tên vào các danh sách này được ấn định, quyết định xoá tên dược áp dụng cùng thể thức như ghi tên.

Một bản quy chế hành chính công sẽ cụ thể hoá các chức năng chỉ có thể được giao sau khi  đã đăng ký tên vào danh sách thẩm phán đủ năng lực.

Quy định này xác định các điều kiện cần để nêu trong bảng thăng tiến hoặc trên danh sách thẩm phán đủ năng lực cũng như các thể thức soạn thảo và lập bảng hàng năm, các bảng bổ sung thường xuyên và danh sách thẩm phán đủ năng lực.

Ngoài ra, quy định này cũng có thể xác định:

1o thời hạn chức trách cần phải hoàn thành trước khi được bổ nhiệm là thẩm phán duy nhất;

2o thời hạn chức trách cần phải hoàn thành như là thẩm phán duy nhất trước khi được bổ nhiệm là Chánh án toà án hay Viện trưởng Viện Công tố.

Chương IV: về Uỷ ban tư vấn của Viện công tố

Điều 36-1

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 36-2

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 36-3

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 36-4

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 36-5

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Chương V: các thẩm phán ngoại hạng

Điều 37

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 4 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Các thẩm phán xét xử ngoại hạng được bổ nhiệm bằng nghị định của Tổng thống  nước Cộng hoà theo các điều kiện được nêu ở điều 65 của Hiến pháp.

Chức trách của Chánh án Toà phúc thẩm được thực hiện bởi một thẩm phán ngoại hạng của Toà phá án, được chỉ định theo các hình thức được nêu ở đoạn trên.

Nếu chưa đảm nhiệm vị trí công việc này khi chỉ định họ là Chánh án phù hợp với khoản trên, thẩm phán được bổ nhiệm đồng thời vào vị trí thẩm phán xét xử ngoại hạng của Toà phá án. Trong trường hợp này, các quy định của khoản thứ 3 điều 39 không được áp dụng. Việc bổ nhiệm này được công bố, trong trường hợp cần, vượt quá số  biên chế cơ cấu Toà phá án. Số dôi ra này được bổ sung vào chỗ trống đầu tiên cần thiết trong Toà án này.

Không ai được đảm nhận vị trí Chánh án ở cùng một Toà phúc thẩm quá 7 năm.

Ít nhất 6 tháng trước khi hết thời hạn, Chánh án có thể đề nghị được bổ nhiệm vào vị trí phó Chánh thanh tra các cơ quan tư pháp. Việc bổ nhiệm này có tính đến thời gian 7 năm đảm nhận chức trách nhiệm vụ.

Quá thời hạn này, nếu họ không nhận một sự điều động khác, Chánh án được rut khỏi vị trí này bằng một nghị định của Tổng thống nước Cộng hoà và thực hiện ngay tại Toà phá án các chức trách mà họ đã được bổ nhiệm ban đầu. Cũng như vậy trong trường hợp, trước thời hạn, họ rút khỏi vị trí này theo yêu cầu nguyện vọng cá nhân hoặc theo các quy định của điều 45.

Ghi chú: Luật 2001-539 2001-06-25 điều 13: các quy định của điều 37 trong  việc soạn thảo điều 4 của Luật tổ chức này áp dụng cho việc bổ nhiệm kể từ  ngày 1/1/2002.

Điều 37-1

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 46 (Công báo ngày 29/2/1992)

Các quy định tại điều 27-1 được áp dụng cho việc bổ nhiệm vào chức vụ ngoại hạng, ngoại trừ các chức trách mà Hội đồng Thẩm phán tối cao đề xuất, các vị trí Chánh thanh tra và phó Chánh thanh tra các cơ quan tư pháp, cũng như các vị trí Công tố viên bên cạnh Toà phá án và Viện trưởng Viện Công tố  bên cạnh Toà phúc thẩm.

Điều 38

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 15 (Công báo ngày 8/2/1994)

Tổng thống nước Cộng hoà ban hành nghị định bổ nhiệm Công tố viên Viện công tố ngoại hạng sau khi có ý kiến của Hội đồng thẩm phán tối cao, trừ những vị trí được quy định tại Hội đồng Bộ trưởng phù hợp với các quy định của Pháp lệnh số 58-1136 ngày 28/11/1958 về Luật tổ chức liên quan đến việc bổ nhiệm các vị trí dân sự và quân sự của Nhà nước.

Điều 38-1

Hình thành bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 6 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Không ai được phép đảm nhận chức vụ Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh cùng một Toà án quá 7 năm.

Ghi chú: Luật 2001-539 2001-06-25 điều 13: các quy định của điều 38-1 áp dụng cho việc bổ nhiệm kể từ ngày 1/1/2002.

Điều 38-2

Hình thành bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 6 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Các vị trí Chánh án và Viện trưởng Viện Công tố ngoại hạng bên cạnh một Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng hay sơ thẩm được thực hiện lần lượt bởi một Chánh án và một Viện trưởng Viện Công tố của Toà phúc thẩm trong phạm vi Toà này hoạt động, được chỉ định theo các hình thức thức được nêu ở điều 37 và 38.

Ngoại lệ của khoản trước, các vị trí Chánh án và Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris được thực hiện lần lượt bởi một thẩm phán cao cấp và một  Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phá án.

Nếu chưa đảm nhận vị trí này khi chỉ định họ với tư cách là Chánh án hay Viện trưởng Viện Công tố phù hợp với khoản thứ nhất và thứ hai của điều  này, thẩm phán được bổ nhiệm đồng thời vào vị trí Chánh án toà án hoặc Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phúc thẩm, hoặc vào một vị trí thẩm phán cao cấp hay Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phá án. Trong trường hợp này, các quy định của khoản thứ ba điều 39 không được áp dụng. Việc bổ nhiệm này được công bố, trong trường hợp cần thiết, vượt quá biên chế tỏ chức của toà án. Số dôi ra này sẽ được bố tri vào chỗ trống đầu tiên cần thiết ở toà này.

Không ai được đảm nhận vị trí Chánh án hay Viện trưởng Viện Công tố trong cùng một Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng và sơ thẩm quá 7 năm.

Quá thời hạn này, nếu không nhận được một sự điều động khác, thẩm phán được rút khỏi chức trách này bằng một nghị định của Tổng thống nước Cộng hoà và thực hiện ngay tại Toà phúc thẩm hay Toà phá án các chức trách mà họ đã được bổ nhiệm ban đầu. Cũng như vậy trong trường hợp, trước thời hạn này, họ được dời khỏi vị trí này theo nguyện vọng cá nhân hoặc theo quy định của điều 45.

Ghi chú: Luật 2001-539 2001-06-25 điều 13: các quy định của điều 38-2 áp dụng cho việc bổ nhiệm kể từ 1/1/2002.

Điều 39

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 7 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002)

Các quy định về việc đánh giá, đề bạt không áp dụng cho việc bổ nhiệm các thẩm phán ngoại hạng.

Trừ Thẩm phán cấp hai của Toà phá án, không một thẩm phán nào có thể được bổ nhiệm vào một vị trí ngoại hạng nếu họ không đảm nhận hai chức năng khi họ là thẩm phán cấp một. Nếu những chức năng này mang tính xét xử, thì chúng phải được thực hiện tại hai toà khác nhau.

Không một thẩm phán nào có thể được bổ nhiệm vào vị trí ngoại hạng của Toà phá án nếu họ chưa hay chưa từng là thẩm phán ngoại hạng hoặc nếu không còn đảm nhận một vị trí nào khác của cấp một, sau khi đã thực hiện chức năng Thẩm phán cấp hai của Toà phá án.

Các quy định của điều 12-1 không áp dụng cho các thẩm phán ngoại hạng của Toà phá án, Chánh án và Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phúc thẩm.

Điều 40

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 29 (Công báo ngày 29/2/1992)

Có thể được bổ nhiệm trực tiếp vào vị trí ngoại hạng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện được nêu ở điều 16 trên đây:

1o Các thẩm phán cao cấp đương chức;

2o Các thẩm phán của ngạch tư pháp được biệt phái vào các vị trí giám đốc hay trưởng các phòng ban của Bộ Tư pháp hoặc hiệu trưởng Trường Đào tạo thẩm phán Quốc gia; tuy nhiên, để chuyển thẳng từ vị trí Giám đốc hay trưởng các phòng ban sang các vị trí ngoại hạng của Toà phá án, họ phải chứng minh đã được biệt phái làm việc 5 năm với tư cách là Giám đốc hay trưởng các phòng ban;

3o Thẩm phán cấp ba của Tham Chính viện đã có ít nhất 10 năm thực hiện chức trách này ;

4o Các giáo sư khoa Luật của Nhà nước đã giảng dạy ít nhất 10 năm với tư cách giáo sư hay thạc sĩ;

5o Các thẩm phán của Tham chính viện và Toà phá án, uỷ viên hoặc cựu uỷ viên của Đoàn luật sư, có ít nhất 20 năm thực hiện nghề nghiệp của mình.

Cũng có thể được bổ nhiệm vào vị trí ngoại hạng của Toà phúc thẩm, tuy nhiên ngoại trừ các vị trí Chánh án và Viện trưởng, các luật sư có tên tại một Đoàn luật sư Pháp chứng minh đã hành nghề ít nhất 25 năm.

Các ứng cử viên theo điểm 3, 4 và 5 cũng như các ứng cử viên theo khoản thứ 7 của điều này chỉ có thể được bổ nhiệm sau khi có ý kiến của Uỷ ban được nêu ở điều 34.

Đối với những người được bổ nhiệm làm thẩm phán mà trước đây là luật sư tại Tham chính viện và tại Toà phá án hoặc thuộc một Đoàn luật sư của Cộng hoà Pháp, Chính phủ ban hành một Nghị định quy định chi tiết điều kiện tính gộp các năm công tác trước khi được bổ nhiệm thẩm phán để tính chế độ hưu trí. Để được hưởng chế độ như trên, người đó phải trả một khoản đóng góp theo mức và theo thể thức do Nghị  định trên quy định. Đối với những năm công tác trước khi được bổ nhiệm là thẩm phán, Nhà nước thay thể các thẩm phán đó để nhận số tiền hưu được hưởng (chế độ hưu trí cơ bản và chế độ hưu trí bổ sung ) trong phạm vi mức đóng góp bắt buộc tối thiểu.

Nghị định này xác định các điều kiện theo đó những người được tuyển dụng trước ngày có hiệu lực của Luật tổ chức số 92-189 ngày 25/2/1992 kể trên có thể hưởng các quy định của điều khoản này.

Chương V: về các Thẩm phán cao cấp và Công tố viên cao cấp của Toà phá án đảm nhận các công việc đặc biệt

Điều 40-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25 tháng 6 năm 2001 điều 25 (Công báo ngày 26 tháng 6 năm 2001)

Những thẩm phán mà năng lực và hoạt động của họ chứng tỏ rằng họ có thể đảm nhận được các chức năng tư pháp tại Toà phá án thì có thể được bổ nhiệm là Thẩm phán cao cấp hoặc Công tố viên cao cấp phụ trách những công việc đặc biệt bên cạnh Toà phá án nếu đáp ứng các điều kiện nêu ở điều 16 trên đây và nếu chứng minh được đã hành nghề ít nhất 25 năm.

Thẩm phán đảm nhận công việc đặc biệt thực hiện các chức năng quyền hạn của thẩm phán cao cấp tại Toà phá án.

Công tố viên đảm nhận các công việc đặc biệt thực hiện các chức năng quyền hạn dành cho Viện công tố  bên cạnh Toà phá án.

Số lượng thẩm phán  và công tố viên  đảm nhận các công việc đặc biệt chỉ có thể vượt quá một phần mười số lượng các thẩm phán ngoài thứ bậc của Toà phá án và một phần mười số lượng các công tố viên ngoại hạng của Viện công tố bên cạnh  toà nói trên.

Điều 40-2

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 36 (Công báo ngày 29/2/1992)

Thẩm phán và Công tố viên  đảm nhận công việc đặc biệt được bổ nhiệm trong một khoảng thời gian là 5 năm không gia hạn, theo các hình thức tương ứng được quy định về việc bổ nhiệm các thẩm phán xét xử của Toà phá án và bổ nhiệm Công tố viên bên cạnh  toà này.

Chính phủ ban hành nghị định quy định các điều kiện tiếp nhận và thẩm tra các hồ sơ ứng cử viên thực hiện chức năng tư pháp trong các công việc đặc biệt.

Các chức trách của thẩm phán và công tố viên  bên cạnh Toà phá án có thể được chấm dứt theo đề nghị của họ hoặc trong trường hợp phải chịu hình phạt được quy định ở điểm 6 và 7 của điều 45 và điều 40-3. Việc chấm dứt các chức năng nhiệm vụ đặc biệt của thẩm phán và công tố viên, nếu có thể, áp dụng các quy định của điều 40-5.

Điều 40-3

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 36 (Công báo ngày 29/2/1992)

Quyền kỷ luật đối với các thẩm phán và công tố viên đảm nhận công tác đặc biệt bên cạnh Toà phá án được thực hiện riêng bởi các nhà chức trách có  thẩm quyền theo các điều kiện được nêu ở chương VII. Các nhà chức trách này có thể, độc lập với những hình phạt được nêu ở điều 45, tuyên bố tất cả các hình thức kỷ luật khác, chấm dứt chức năng thẩm phán hoặc công tố viên đảm nhận công tác đặc biệt bên cạnh Toà phá án.

Điều 40-4

Sửa đổi bởi Luật số 95-64 ngày 19/1/1995, điều 9 Công báo ngày 20/1/1995

Thẩm phán và công tố viên đảm nhận công việc đặc biệt phải tuân thủ theo quy chế thẩm phán.

Tuy nhiên, họ không phải là thành viên của Hội đồng thẩm phán tối cao hay Uỷ ban đánh giá đề bạt cũng không tham gia chỉ định các thành viên của các toà này.

Họ không được nhận bất cử một sự đề bạt thăng chức nào cũng như không bị thuyên chuyển trong ngạch tư pháp.

Trong thời gian một năm sau khi thôi đảm nhận chức trách của mình, thẩm phán đó không được thực hiện bất cứ công việc nào liên quan đến chức năng, nhiệm vụ mà họ đã thực hiện ở Toà phá án.

Điều 40-5

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 36 (Công báo ngày 29/2/1992)

Thẩm phán và công tố viên đảm nhận công việc đặc biệt được biệt phái khỏi ngạch tư pháp với tư cách là công chức nhà nước. Trong thời gian đảm nhận nhiệm vụ mới này, họ không được đề bạt bất cứ chức vụ gì ở cơ quan mới này.

Khi một trong các hình phạt được nêu ở điểm 4, 5, 6 và 7 của điều 45 bị áp dụng đối với một thẩm phán hay công tố viên đảm nhận công tác đặc biệt của Toà phá án với tư cách là công chức, hình phạt đó phát sinh cùng hiệu lực đối với ngạch gốc.

Khi hết thời hạn đảm nhận nhiệm vụ biệt phái, thẩm phán và công tố viên  đảm nhận công tác đặc biệt của Toà phá án được biệt phái với tư cách là công chức được tái điều động về cơ quan cũ ở bậc tương đương với sự thăng tiến trung bình mà các thành viên khác của cơ quan này được hưởng, đến ngày biệt phái, cùng bậc, cấp với họ, tiếp nhận sự điều động cần thiết trong trường hợp dôi dư theo các điều kiện được nêu ở điều khoản này.

Một Uỷ ban, do phó Chánh án của Tham chính viện chủ trì, chịu trách nhiệm theo dõi điều kiện của việc tái điều động các công chức được biệt phái để bổ nhiệm các thẩm phán hoặc công tố viên đảm nhận công tác đặc biệt của Toà phá án. Uỷ ban này gồm có một thẩm phán của Tham chính viện đương nhiệm được Đại hội đồng của Tham chính viện chỉ định, một thẩm phán Toà phá án được toàn thể các thẩm phán ngoại của toà này chỉ định, một thẩm phán của Viện Thẩm kế được chỉ định bởi các thẩm phán thành viên của Viện,  Tổng Giám đốc hành chính và công vụ, và tuỳ theo từng trường hợp, Giám đốc nhân sự của bộ mà cơ quan của người có liên quan trực thuộc hoặc trưởng cơ quan này. Trong trường hợp số phiếu của uỷ ban bằng nhau, số phiếu bên phía của Phó Chánh án có ý nghĩa quyết định.

Ít nhất là 3 tháng trước khi kết thúc thời hạn biệt phái, thẩm phán được biệt phái thông báo cho Uỷ ban trên công việc mà họ muốn đảm nhận cũng như nơi sẽ được điều động đến . Trong hai tháng tiếp sau yêu cầu tái điều động, Uỷ ban mời họ lựa chọn trên một danh sách có 3 vị trí điều động công việc mà họ sẽ được bổ nhiệm.

Uỷ ban quyết định danh sách điều động được nêu trên theo đề xuất của các bộ phận tiếp nhận của các cơ quan chức năng, trong trường hợp tiếp nhận thẩm phán biệt phái. Nếu công chức được biệt phái không chấp nhận bất cứ vị trí nào dành cho họ, hoặc thiếu các đề xuất cho phép Uỷ ban lập danh sách điều động, Uỷ ban này quyết định vị trí mà họ sẽ được bổ nhiệm khi hết thời hạn được biệt phái.

Trong vòng hai năm kể từ khi tái điều động vào chức trách của công chức được biệt phái, không một thay đổi nào về nhiệm vụ hoặc điều động của họ được thực hiện mà không có ý kiến thuận của Uỷ ban.

Chính phủ  ban hành Nghị định quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 40-6

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 36 (Công báo ngày 29/2/1992)

Trước khi bổ nhiệm thẩm phán hoặc công tố viên, một hợp đồng lao động có lợi cho thẩm phán và công tố viên đảm nhận công việc đặc biệt, theo yêu cầu của họ, được tạm ngưng cho đến hết thời hạn đảm nhận chức trách ngay khi họ chứng minh được với người sử dụng họ là đã có ít nhất tối thiểu một năm làm việc kể từ ngày điều động.

Việc tạm ngưng có hiệu lực 15 ngày sau khi thông báo gửi đến người sử dụng lao động, theo yêu cầu của họ bằng thư giới thiệu với đề nghị có ý kiến tiếp nhận.

Chậm nhất trong vòng hai tháng sau khi hết hạn biệt phái, thẩm phán hoặc công tố viên đảm nhận công việc đặc biệt phải trình bày nguyện vọng quay trở lại công việc cũ đồng thời gửi cho người sử dụng lao động một thư giới thiệu với yêu cầu có ý kiến tiếp nhận.

Họ được trở lại công việc trước đây hoặc một công việc khác có mức lương tương đương trong hai tháng sau khi họ đã đề nghị chủ  sử dụng lao động của mình. Họ được tạo điều kiện thuận lợi nghề nghiệp trong khi thực hiện chức trách ở Toà phá án. Mặt khác, theo nhu cầu, họ còn được hưởng sự tái thích nghi nghề nghiệp trong trường hợp thay đổi kỹ thuật hay phương pháp làm việc.

Điều 40-7

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 36 (Công báo ngày 29/2/1992)

Thẩm phán và công tố viên đảm nhận công việc đặc biệt với cách là công chức nhà nước, công chức chính quyền địa phương, công chức các cơ sở bệnh viện phải tuân theo chế độ pháp lý xã hội dành riêng cho họ.

Thẩm phán và công tố viên hoạt động với tư cách khác những tư cách đã nêu ở đoạn trên thì tuân thủ theo chế độ sau:

1o Về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, các quy định áp dụng cho họ thuộc quyển IV của luật bảo hiểm xã hội giống như các điều kiện đối với các viên chức không thuộc Nhà nước;

2o Việc bảo đảm thanh toán rủi ro bệnh tật, tuổi già, thương binh, chết và sinh nở được tính theo chế độ bảo hiểm xã hội mà họ hưởng hoặc chế độ bảo hiểm xã hội chung mà họ đã tham gia đóng góp ;

3o Thay vì thuộc  chế độ bổ sung hưu trí đặc biệt, họ được hưởng chế độ dành cho các viên chức không phải của Nhà nước  theo các điều kiện quy định cho những người này.

Đối với việc áp dụng ba khoản trên đây, các nghĩa vụ của người sử dụng lao động, nếu được, gồm cả nghĩa vụ liên quan đến chế độ hưu trí bổ sung do Nhà nước đảm trách.

Chính phủ  ban hành Nghị định quy định các phương thức áp dụng điều khoản này.

Chương V: về các Thẩm phán ngoại hạng

Điều 41

Hợp nhất bởi Luật tổ chức số 76-120 ngày 5 tháng 2 năm 1976 điều 11 (Công báo ngày 6 tháng 2 năm 1976)

Chương V ( thứ ba ): về biệt phái tư pháp

Điều 41

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 37 (Công báo ngày 29 tháng 2 năm 1992)

Các nhân viên toà án được tuyển dụng thông qua Trường Đào tạo Thẩm phán Quốc gia và các giáo sư, giảng viên các Trường đại học, trong các điều kiện được nêu ở các điều khoản sau, có thể thuộc đối tượng biệt phái tư pháp để thực hiện các chức trách ở bậc một và bậc hai.

Điều 41-1

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/ 6 / 2001 điều 8 IX, X (Công báo ngày 26/ 6/ 2001 có hiệu lực từ ngày 1/ 1/ 2002)

Đối tượng biệt phái tư pháp để thực hiện các chức trách ở bậc hai là những người nêu ở điều 41 chứng minh đã có ít nhất 4 năm làm một hay nhiều công việc với tư cách nêu ở điều 41.

Đối tượng biệt phái tư pháp để thực hiện các chức trách ở bậc một những người được nêu ở điều 41 chứng minh đã có ít nhất 7 năm làm một hay nhiều công việc với tư cách này.

Điều 41-2

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 / 2/ 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Việc biệt phái tư pháp được công bố, sau khi có ý kiến thuận của Uỷ ban được nêu ở điều 34, bằng một quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, hoặc trong trường hợp cần thiết là Thứ trưởng Bộ phụ trách đơn vị có người được biệt phái. Uỷ ban xác định các chức trách mà một người được biệt phái sẽ đảm nhận.

Những người nêu ở điều 41 thuộc đối tượng biệt phái tư pháp đặc biệt phải tuân thủ quy chế  này.

Điều 41-3

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Trước khi thực hiện chức trách tư pháp, những người đã nêu ở điều 41 thuộc đối tượng biệt phái tư pháp phải hoàn thành một kỳ thực tập dài 6 tháng theo nội dung được uỷ ban quy định ở điều 34.

Trong quá trình thực tập, những người nêu ở điều 41 phải tuân thủ các quy định của điều 19 và của khoản đầu tiên của điều 20. Trước khi bắt đầu kỳ thực tập, những người này phải tuyên thệ trước Toà phúc thẩm ở nơi thực tập như sau: “Tôi xin thề giữ bí mật  về các tài liệu công tố, điều tra và phán quyết của toà mà tôi được biết trong quá trình thực tập”.

Điều 41-4

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Những người được nêu ở điều 41,  thuộc đối tượng biệt phái tư pháp được bổ nhiệm vào một chức danh tư pháp theo các hình thức được nêu ở điều 28.

Trước khi được điều động vào một chức danh tư pháp, những người này phải tuyên thệ theo các điều kiện quy định ở điều 6.

Điều 41-5

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Biệt phái tư pháp có thời hạn 5 năm và không được gia hạn.

Trong thời gian biệt phái này, chỉ có thể chấm dứt sự biệt phái theo yêu cầu của họ hoặc trong trường hợphọ bị kỷ luật theo điểm 6 và 7 của điều 45 và khoản đầu tiên của điều 41-6. Nếu việc biệt phái chấm dứt sẽ áp dụng các quy định ở điều 41-7.

Điều 41-6

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Quyền kỷ luật những người nêu ở điều 41 thuộc đối tượng biệt phái tư pháp được thực hiện bởi người có thẩm quyền theo các điều kiện được quy định ở chương VII. Người có thẩm quyền có thể quyết định, độc lập với các hình phạt quy định ở điều 45, theo một hình phạt khác với những hình thức kỷ luật,  chấm dứt biệt phái đối với người đươck biệt phái.

Khi hình thức kỷ luật được áp dụng đối với những người nêu ở điều 41 đối tượng cho việc biệt phái tư pháp là những hình thức được nêu ở điểm 4, 5, 6 và 7 của điều 45, các hình thức phạt này có cùng hiệu lực đối với ngạch gốc.

Điều 41-7

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Áp dụng điều 41-9, những người thuộc đối tượng biệt phái tư pháp sau khi kết thúc biệt phái được quay trở lại ngạch gốc tương đương với ngạch, bậc mà những người cùng cơ quan với họ được hưởng theo các điều kiện được nêu ở điều khoản này.

Uỷ ban được nêu ở điều 40-5 chịu trách nhiệm giám sát các điều kiện tái điều động công vụ của cán bộ được biệt phái.

Muộn nhất là 3 tháng trước khi hết hạn biệt phái tư pháp, cán bộ được biệt phái thông báo cho Uỷ ban trên loại công việc mà họ mong muốn thực hiện cũng như nơi điều động được điều đến. Trong hai tháng tiếp theo yêu cầu tái điều động, Uỷ ban này mời họ lựa chọn trên một danh sách 3 sự điều động công việc mà họ sẽ được bổ nhiệm.

Uỷ ban quyết định danh sách điều động nêu ở khoản trên theo đề xuất của các  bộ phận tiếp nhận của các cơ quan có thẩm quyền  nhận người được điều động. Nếu người được điều động không chấp nhận bất cứ vị trí nào dành cho họ hoặc thiếu các đề xuất cho phép Uỷ ban thiết lập danh sách điều động, Uỷ ban sẽ ngừng vị trí sẽ bổ nhiệm khi họ kết thúc thời gian biệt phái.

Trong vòng 2 năm kể từ khi tái điều động chức trách nhiệm vụ của người được biệt phái, không một thay đổi về chức trách hay điều động nào có thể can thiệp mà không có ý kiến tán thành của Uỷ ban.

Chính phủ ban hành nghị định quy định rõ các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 41-8

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992

điều 37 (Công báo ngày 29/2/1992)

Số cán bộ biệt phái tư pháp không thể vượt quá một phần hai mươi ví trí công tác của mỗi bậc.

Điều 41-9

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/ 6/ 2001 điều 8 IX, X (Công báo ngày 26/ 6/ 2001 có hiệu lực từ ngày 1/ 1 / 2002)

Những người được biệt phái có thể được bổ nhiệm vào vị trí bậc một và bậc hai theo thứ bậc tư pháp ít nhất là 3 năm trong các cơ quan tư pháp.

Đối với việc bổ nhiệm vào vị trí bậc một, những người được điều động phải chứng minh đã làm việc ít nhất 7 năm ở các cơ quan tư pháp và một hay nhiều các cơ quan đã liệt kê ở điều 41.

Việc bổ nhiệm được công bố áp dụng các khoản trên dựa trên định mức bổ nhiệm ấn định cho mỗi cấp thứ bậc ở điểm 1 điều 25 và điều 25-1. Việc bổ nhiệm này tuân theo các điều kiện nêu ở điều 25-2. Tuy nhiên, câu cuối cùng của khoản cuối của điều 25 không được áp dụng.

Chương V  thứ tư : về các thẩm phán thực hiện chức danh tạm thời

Điều 41-10

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Có thể được bổ nhiệm để thực hiện các chức năng thẩm phán sơ thẩm hay hội thẩm  trong hội đồng xét xử của Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, những người dưới 65 tuổi có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ này.

Những người này hoặc phải đáp ứng đủ các điều kiện nêu ở điểm 1, 2 hoặc 3 của điều 22, hoặc là uỷ viên hay cựu uỷ viên các đoàn nghề nghiệp tư pháp và pháp lý tự do tuân thủ quy chế pháp lý hoặc chức danh được công nhận và chứng minh được  có ít nhất 7 năm hành nghề chuyên môn.

Điều 41-11

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Khi được điều động tới một Toà án sơ thẩm, các thẩm phán được tuyển dụng trong khuôn khổ của chương này được phân bổ vào các cơ quan khác nhau của Toà án theo các phương thức xác định trong Pháp lệnh hàng năm quy định ở Luật tổ chức toà án và giải quyết những tranh chấp về dân sự và hình sự trừ sự phân định của Hội đồng hoà giải lao động. Họ không được đảm nhận các công việc của toà án mà họ phái điều động đi nữa.

Khi được điều động với tư cách là hội thẩm trong hội đồng xét xử của Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, các thẩm phán này được phân bổ vào các cơ quan khác nhau của toà án theo các phương thức được xác định trong Pháp lệnh hàng năm được quy định ở Luật tổ chức toà án và giải quyết các tranh chấp về hình sự và dân sự.

Điều 41-12

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 98-105 ngày 24 tháng 12 năm 1998 điều 8 (Công báo ngày 26/2/1998)

Các Thẩm phán được tuyển dụng trong khuôn khổ chương này được bổ nhiệm trong một khoảng thời gian là 7 năm không gia hạn theo các hình thức được quy định áp dụng cho các thẩm phán xét xử.

Việc bổ nhiệm được tiến hành, sau khi có ý kiến thuận của Uỷ ban nêu ở điều 34, trong số các ứng cử viên do Đại hội đồng Thẩm phán xét xử của Toà phúc thẩm đề nghị. Điều 27-1 không áp dụng cho những người này.

Những Thẩm phán được bổ nhiệm sau một khoá đào tạo do Trường đào tạo Thẩm phán Quốc gia tổ chức và thực tập tại toà án theo các hình thức được quy định ở điều 19.

Trước khoá đào tạo này, các Thẩm phán phải tuyên thệ theo các điều kiện nêu ở điều 6.

Chính phủ ban hành quy định xác định các điều kiện nộp và nghiên cứu các hồ sơ ứng cử viên, phương thức tổ chức và thời gian thực tập cũng như các điều kiện trong đó việc trả lương và bảo hiểm xã hội cho các thực tập sinh nêu ở điều khoản này được đảm bảo.

Điều 41-13

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Các Thẩm phán được tuyển dụng trong khuôn khổ chương này tuân thủ theo quy chế này.

Tuy nhiên, họ không thể là uỷ viên của Hội đồng thẩm phán tối cao, cũng không phải là uỷ viên của Uỷ ban đề bạt và không tham gia chỉ định các uỷ viên khác của các  toà cấp này.

Các điều 13 và 76 không áp dụng đối với những đối tượng này.

Các Thẩm phán được hưởng phụ cấp theo các điều kiện được quy định trong Nghị định của Chính phủ.

Điều 41-14

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Ngoại lệ của điều 8, các thẩm phán được tuyển dụng trong khuôn khổ chương này có thể thực hiện một hoạt động nghề nghiệp đồng thời với chức năng tư pháp, với điều kiện hoạt động này không ảnh hưởng đến danh dự của thẩm phán và sự độc lập của họ. Các thành viên hành nghề pháp lý và tư pháp tự do phải tuân thủ quy chế pháp lý hoặc chức danh được công nhận chỉ có thể thực hiện các chức năng tư pháp trong phạm vi của Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng nơi người này hành nghề chuyên môn.

Các thẩm phán này không thể thực hiện đồng thời bất cứ một hoạt động nào của công chức nhà nước trừ công việc giáo sư và giảng viên của các trường đại học.

Trong trường hợp thay đổi hoạt động nghề nghiệp, Thẩm phán thông báo điều đó với Chánh án Toà phúc thẩm, người có thể, nếu được, cho họ biết rằng công việc mới  đó của họ không phù hợp với việc thực hiện các chức năng tư pháp.

Thẩm phán  không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp xảy ra giữa mối quan hệ với  hoạt động nghề nghiệp chuyên môn của mình hoặc khi  họ muốn giữ mối quan hệ nghề nghiệp với một trong các bên. Theo giả thuyết này, Chánh án Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hoặc Thẩm phán phụ trách hành chính của toà án nơi họ làm việc sẽ quyết định, theo yêu cầu của thẩm phán hay của một trong các bên, rằng vụ việc sẽ chuyển cho một thẩm phán khác của toà phụ trách hoặc nếu họ thực hiện chức năng hội thẩm, vụ việc sẽ được chuyển cho một hội đồng xét xử khác. Quyết định chuyển này không bị kháng cáo.

Điều 41-15

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Quyền kỷ luật đối với các thẩm phán được tuyển dụng trong phạm vi chương này được thực hiện bởi người có thẩm quyền theo các điều kiện được quy định ở chương VII. Người có thẩm quyền này có thể tuyên bố hình phạt chấm dứt chức năng thẩm phán theo hình phạt được quy định ở điểm 1 của điều 45 một cách độc lập với các hình thức kỷ luật khác.

Điều 41-16

Hình thành bởi Luật số 95-64 ngày 19 tháng 1 năm 1995 điều 1 (Công báo ngày 20/1/1995)

Thẩm phán tuyển dụng trong phạm vi chương này chỉ có thể bị chấm dứt chức năng nhiệm vụ theo đề nghị của họ hoặc trong trường hợp họ bị kỷ luật theo quy định tại điều 41-15.

Trong vòng một năm kể từ khi chấm dứt các chức trách tư pháp, các thẩm phán này sẽ không tham gia bất cứ vị trí công vụ nào có liên quan tới các chức trách tư pháp mà họ đã thực hiện.

Chương V thứ năm: về các Thẩm phán cơ sở

Điều 41-17

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Có thể được bổ nhiệm là thẩm phán cơ sở, để thực hiện một phần giới hạn chức trách Thẩm phán  của Toà án sơ thẩm, nếu họ đáp ứng đủ các điều kiện quy định ở khoản 2 và 5 của điều 16:

1o Các cựu Thẩm phán của cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính ;

2o Những người từ 35 tuổi trở lên có đủ năng lực và kinh nghiệm đảm nhiệm chức trách thẩm phán. Những người này phải đáp ứng đủ các điều kiện ấn định ở điểm 1 điều 16, hoặc là uỷ viên hay cựu uỷ viên các hội nghề nghiệp tư pháp và pháp lý tự do theo quy chế pháp lý. Ngoài ra, những người này phải chứng minh đã hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp được ít nhất  là 4 năm.

3o Những người chứng minh đã hoạt động ít nhất 25 năm ở các vị trí quản lý trong lĩnh vực pháp lý có thể thực hiện các chức trách tư pháp ;

4o Những cựu công chức trong các cơ quan tư pháp loại A và B mà kinh nghiệm của họ cho phép họ có thể đảm đương các chức trách tư pháp ;

5o Những hoà giải viên tư pháp đã hành nghề ít nhất là 5 năm.

Điều 41-18

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Thẩm phán xét xử phụ trách hành chính của Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng tổ chức hoạt động và công việc của Toà án cơ sở .

Việc phân bổ các Thẩm phán cơ sở vào các cơ quan khác nhau của Toà án hàng năm do Pháp lệnh quy định.

Pháp lệnh này được quy định theo hình thức đã nêu trong Luật tổ chức toà án.

Điều 41-19

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Các thẩm phán cơ sở được bổ nhiệm 7 năm không gia hạn, theo các hình thức đã  quy định như đối với thẩm phán xét xử.

Điều 27-1 không áp dụng đối với những thẩm phán cơ sở này.

Trước khi ra quyết định, Hội đồng Thẩm phán tối cao có thể quyết định cho họ tham gia học một khoá đào tạo cơ bản do Trường Đào tạo Thẩm phán Quốc gia tổ chức và một kỳ thực tập ở toà án được tiến hành theo các phương thức quy định ở điều 19. Khoản 2, điều 25-3 được áp dụng đối với các thực tập sinh.

Hiệu trưởng, Trường Đào tạo Thẩm phán Quốc gia lập ra một bản danh sách thí sinh thực tập ban đầu, dưới hình thức bản báo cáo, gửi đến Hội đồng Thẩm phán tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Trước khi thực hiện nhiệm vụ, các Thẩm phán cơ sở phải tuyên thề theo các điều kiện được quy định ở điều16.

Các thẩm phán cơ sở không phải tham gia khoá đào tạo cơ bản theo quy định của khoản 3 sau khoá đào tạo do Trường thẩm phán Quốc gia tổ chức và một kỳ thực tập tại toà án theo quy định của điều 19.

Chính phủ ban hành quy định xác định các điều kiện nộp và hướng dẫn hồ sơ của các ứng cử viên, các phương thức tổ chức và thời gian đào tạo cũng như các điều kiện đảm bảo về phụ cấp và bảo hiểm xã hội của các thực tập sinh được nêu ở điều khoản này .

Điều 41-20

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Các Thẩm phán cơ sở phải tuân thủ quy chế này.

Tuy nhiên, họ không thể là uỷ viên Hội đồng Thẩm phán tối cao hay uỷ viên của Uỷ ban đề bạt, cũng như không tham gia vào việc chỉ định các thành viên của các cơ quan này.

Họ không thể được đề bạt thăng tiến bất cứ cấp bậc gì. Họ không thể bị thuyên chuyển nếu không họ không đồng ý.

Các điều 13 và 76 không áp dụng cho những thẩm phán này.

Điều 41-21

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Các thẩm phán cơ sở thực hiện chức trách của mình theo chế độ bán thời gian. Họ được nhận trợ cấp theo các điều kiện được quy định trong Nghị định của Chính phủ

Điều 41-22

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Ngoại lệ ở khoản thứ nhất của điều 8 là các thẩm phán cơ sở có thể thực hiện một hoạt động nghề nghiệp đồng thời với các chức trách tư pháp với điều kiện là hoạt động này không làm ảnh hưởng đến danh dự chức năng và sự độc lập của họ. Các thành viên tổ chức nghề nghiệp pháp lý và tư pháp tự do phải tuân thủ quy chế pháp lý hoặc chức danh được công nhận và những nhân viên của họ chỉ có thể thực hiện các chức năng thẩm phán cơ sở trong phạm vi của Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng nơi họ hành nghề; họ không thể thực hiện một hoạt động nghề nghiệp nào trong phạm vi Toà án cơ sở nơi mà họ được điều động đến.

Không có ngoại lệ áp dụng cho các quy định của khoản hai điều 8, các Thẩm phán  không thể thực hiện đồng thời bất cứ một hoạt động công vụ nào, trừ trường hợp thực hiện công vụ với tư cách giáo sư và giảng viên các trường đại học.

Trong trường hợp thay đổi hoạt động nghề nghiệp, thẩm phán cơ sở thông báo điều đó cho Chánh án Toà phúc thẩm trong phạm vi họ được điều động, người có thẩm quyền cho họ biết, nếu có thể, rằng hoạt động mới của họ không phù hợp với việc thực hiện chức năng tư pháp của họ.

Các Thẩm phán cơ sở không  thể giải quyết các tranh chấp về một mối quan hệ với các hoạt động nghề nghiệp của họ hoặc khi họ giữ mối quan hệ nghề nghiệp với một trong các bên. Trong trường hợp này, Chánh án Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng trong phạm vi cơ quan nơi người này làm việc quyết định, theo đề nghị của một trong các bên, rằng vụ việc được chuyển cho một Thẩm phán cơ sở khác của toà. Quyết định chuyển này không bị kháng cáo.

Các Thẩm phán cơ sở không được đề cập đến nội dung các tài liệu liên quan đến hoạt động chuyên môn của mình trong lúc còn công tác cũng như sau khi nghỉ công tác.

Điều 41-23

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Quyền cảnh cáo và kỷ luật đối với các thẩm phán cơ sở được thực hiện theo các điều kiện được xác định ở chương VII. Độc lập với hình phạt cảnh cáo được quy định ở điều 44 và hình phạt phạt  nêu ở điểm 1 điều 45, việc chấm dứt chức trách có thể được áp dụng theo danh nghĩa phạt kỷ luật.

Điều 41-24

Hình thành bởi Luật số 2003-153 ngày 26 tháng 2 năm 2003 điều 1 (Công báo ngày 27 tháng 2 năm 2003)

Các Thẩm phán cơ sở không thể đảm nhận chức trách nhiệm vụ khi đã quá tuổi 75.

Thẩm phán cơ sở chỉ có thể ngừng đảm nhận chức năng, nhiệm vụ nếu họ yêu cầu hoặc trong trường hợp  họ bị  kỷ luật ngừng đảm nhận chức năng, nhiệm vụ được quy định ở điều 41-23.

Trong vòng một năm kể từ khi ngừng đảm nhận chức năng tư pháp, các Thẩm phán cơ sở không tham gia các vị trí công vụ liên quan đến chức năng này.

Chương VI : về thù lao

Điều 42

Các Thẩm phán nhận thù lao bao gồm cả lương và các khoản phụ kèm theo.

Lương của các Thẩm phán do  Nghị định của Chính phủ quy định

Chương VII : Kỷ luật

Phần I : Các quy định chung

Điều 43

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 79-43 ngày 18 tháng 1 năm 1979 điều 7 I, V (Công báo ngày 19 tháng 1 năm 1979 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 1979)

Thẩm phán không hoàn thành chức trách, mất danh dự, phẩm giá, thiếu sự tế nhị đều coi như vi phạm kỷ luật.

Lỗi này cũng được áp dụng đối với công tố viên hoặc thẩm phán hành chính trung ương trực thuộc Bộ Tư pháp có tính đến nghĩa vụ phát sinh từ sự  phụ thuộc thứ bậc.

Điều 44

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 38 (Công báo ngày 29/2/1992)

Bên cạnh hình thức kỷ luật, Chánh thanh tra các cơ quan tư pháp, Chánh án,  Viện trưởng, Giám đốc và  thủ trưởng các cơ quan hành chính trung ương có quyền cảnh cáo đối với các thẩm phán dưới quyền của họ.

Sự cảnh cáo bị tự động xoá khỏi hồ sơ sau 3 năm nếu không có bất kỳ sự cảnh cáo hay một hình thức kỷ luật nào được áp dụng đối với họ trong khoảng thời gian này.

Điều 45

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 16 (Công báo ngày 26/6/2001)

Các hình thức kỷ luật áp dụng cho các Thẩm phán:

1o Khiển trách  kem theo ghi tên vào hồ sơ;

2o Thuyên chuyển nơi công tác;

3o Cấm làm một số  công việc;

4o Hạ bậc;

4o b  Tạm đình chỉ công tác trong thời gian tối đa một năm kèm theo trừ toàn bộ hay một phần lương;

5o Hạ bậc;

6o Buộc vê hưu không được quyền hưởng trợ cấp hưu trí;

7o Miễn nhiệm có thể hoặc không kèm theo cắt mọi chế độ.

Điều 46

Nếu một Thẩm phán bị truy tố cùng lúc vì nhiều lỗi thì chỉ áp dụng một trong các hình thức kỷ luật  được quy định ở điều trên.

Một một lỗi chỉ có thể chịu một trong các hình thức kỷ luật đã nêu. Tuy nhiên, các mức kỷ luật ở điểm 3,4 và 5 của điều trên có thể ghép với hình thức thuyên chuyển.

Điều 47

Hợp nhất bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 54 (Công báo ngày 29/2/1992)

Điều 48

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 17 (Công báo ngày 8/2/1994)

Quyền thi hành kỷ luật đối với các Thẩm phán xét xử do Hội đồng Thẩm phán tối cao quyết định và đối với Công tố viên hoặc Thẩm phán hành chính trung ương của Bộ Tư pháp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định.

Đối với các Thẩm phán ở vị trí biệt phái hoặc tạm nghỉ việc, hoặc đã nghỉ hẳn, việc tiến hành kỷ luật do Hội đồng Thẩm phán tối cấp quyết định hoặc do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định đối với Công tố viên hoặc thẩm phán hành chính.

Phần II: kỷ luật các Thẩm phán xét xử

Điều 49

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 18 (Công báo ngày 8/2/1994)

Hội đồng kỷ luật các Thẩm phán xét xử được thành lập phù hợp với quy định ở điều 17 của Luật tổ chức về Hội đồng Thẩm phán tối cao.

Điều 50

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 39 (Công báo ngày 29 tháng 2 năm 1992)

Bộ trưởng Bộ tư pháp có thể, trong trường hợp khẩn cấp và sau khi có ý kiến của lãnh đạo cấp trên, đề xuất với Hội đồng Thẩm phán tối cao cấm các Thẩm phán xét xử, đối tượng bị điều tra, được đảm nhận chức trách cho đến khi có quyết định cuối cùng về thi hành kỷ luật. Quyết định cấm tạm thời không được công bố rộng rãi vì lợi ích của cơ quan. Quyết định cấm tạm thời không kèm theo việc tước quyền hưởng lương.

Nếu hết thời hạn 2 tháng, Bộ trưởng  Bộ Tư pháp không có ý kiến đề xuất gì lên Hội đồng thẩm phán tối cao theo các điều kiện nêu ở điều 50-1, lệnh cấm đảm nhận công tác tạm thời hoàn toàn không còn hiệu lực.

Điều 50-1

Hình thành bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 40 (Công báo ngày 29/2/1992)

Hội đồng thẩm phán tối cao tiếp nhận những đơn tố cáo về những hành vi vi phạm của thẩm phán do Bộ trưởng Bộ Tư pháp gửi đến.

Điều 50-2

Hình thành bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 17 (Công báo ngày 26/6/2001)

Hội đồng Thẩm phán cấp cao cũng  tiếp nhận các đơn tố cáo về các hành vi vi phạm của thẩm phán do Chánh án Toà phúc thẩm hay Chánh án toà phúc thẩm cấp trên gửi đến.

Một bản sao được gửi tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người có quyền yêu cầu điều tra, thanh tra  các cơ quan tư pháp.

Điều 51

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25 tháng 2 năm 1992 điều 37 (Công báo ngày 29 tháng 2 năm 1992)

Ngay khi Hội đồng kỷ luật được thành lập, thẩm phán bị điều tra có quyền trao đổi về hồ sơ của mình và các văn bản điều tra sơ bộ nếu được tiến hành.

Chánh án Toà phá án, với tư cách chủ tịch Hội đồng kỷ luật, chỉ định một báo cáo viên trong số các uỷ viên của Hội đồng. Người này có trách nhiệm tiến hành điều tra.

Hội đồng Thẩm phán tối cao có thể cấm thẩm phán đang bị điều tra, ngay cả trước khi trao đổi về hồ sơ của họ, được hành nghề cho đến khi có quyết định cuối cùng. Lệnh cấm này không bao gồm việc tước quyền hưởng lương. Quyết định này không được công bố công khai.

Điều 52

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 70-642 ngày 17/7/1970 điều 10 (Công báo ngày 19/7/1970)

Trong quá trình điều tra, báo cáo viên tìm hiểu các vấn đề thông qua chính thẩm phán bị điều tra hoặc tìm hiểu thông qua một thẩm phán ít nhất cùng cấp bậc với họ và nếu có thể cả nguyên đơn và nhân chứng. Báo cáo viên phải hoàn thành tất cả các hoạt động điều tra cần thiết.

Thẩm phán phạm tội có thể yêu cầu sự trơ giúp của một trong các đồng nghiệp, Thẩm phán của Tham chính viện và thẩm phán của Toà phá án hoặc một luật sư có tên trong Đoàn luật sư.

Thủ tục phải được thông báo cho người có liên quan và Hội đồng ít nhất là 48 giờ trước mỗi phiên xử.

Điều 53

Khi kết quả một cuộc điều tra xét thấy là không cần thiết phải xử hoặc khi cuộc điều tra kết thúc, Thẩm phán bị yêu cầu trình diện trước Hội đồng kỷ luật.

Điều 54

Thẩm phán đã nêu được yêu cầu đến trình diện.Trong trường hợp ốm hay vắng mặt có lý do chính đáng họ có thể yêu cầu nhờ sự trợ giúp và đại diện bởi một trong các đồng nghiệp, một Thẩm phán của Tham chính viện hoặc một Thẩm phán của Toà phá án hoặc  một luật sư có tên trong Đoàn luật sư.

Điều 55

Thẩm phán có quyền được trao đổi về hồ sơ của mình tất cả các văn bản điều tra và  bản báo cáo do báo cáo viên lập ra. Hội đồng  kỷ luật có quyền tiếp cận chính các tài liệu này.

Điều 56

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 18 (Công báo ngày 26/6/2001)

Vào ngày xét xử, sau khi nghe người đứng đầu cơ quan tư pháp trình bày và sau khi đọc báo cáo, thẩm phán bị xét xử được mời trình bày giải trình và lý lẽ bào chữa đối với lỗi mà họ bị khiển trách.

Trong trường hợp vắng mặt người đứng đầu cơ quan tư pháp, một thẩm phán trong ban lãnh đạo ở cấp ít nhất là tương đương với cấp phó sẽ đảm nhận thay thế.

Điều 57

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 19 (Công báo ngày 26/6/2001)

Phiên toà của Hội đồng kỷ luật là công khai. Tuy nhiên, nếu có yêu cầu cần bảo vệ trật tự công hay đời sống riêng tư hoặc nếu xảy ra tình huống đặc biệt ảnh hưởng đến quyền lợi của công lý, Hội đồng kỷ luật có thể cấm công chúng  tham dự toàn bộ phiên toà xét xử hoặc một phần phiên xét xử.

Hội đồng kỷ luật nghị án kín.

Quyết định được công bố công khai.

Nếu Thẩm phán nói trên được triệu tập không trình diện tại toà, trừ trường hợp bất khả kháng, có thể bị cưỡng chế.

Điều 58

Quyết định đã tuyên được thông báo cho Thẩm phán có liên quan theo thủ tục hành chính. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày thông báo.

Phần III: kỷ luật Công tố viên

Điều 58-1

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 19 (Công báo ngày 8/2/1994)

Bộ trưởng Bộ Tư pháp, sau khi nhận đơn kiện hay được thông báo về hành vi vi phạm có thể dẫn đến thi hành kỷ luật đối với công tố viên, trong trường hợp  khẩn cấp và theo đề nghị của lãnh đạo các cấp và sau khi có ý kiến của Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao đối với Công tố viên Viện công tố, cấm công tố viên đang bị điều tra thực hiện chức trách của mình cho đến khi có quyết định cuối cùng về thi hành kỷ luật. Quyết định cấm tạm thời không được công bố công khai vì lợi ích của cơ quan. Quyết định cấm tạm thời không kèm theo việc tước hưởng lương.

Nếu hết thời hạn hai tháng, Hội đồng Thẩm phán cấp cao không giải quyết, việc cấm tạm thời sẽ ngừng hiệu lực.

Điều 59

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 20 (Công báo ngày 8/2/1994)

Không một hình thức kỷ luật nào được áp dụng đối với Công tố viên mà không có ý kiến của Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao.

Các quy định  của phần này được áp dụng cho các Thẩm phán hành chính trung ương của Bộ Tư pháp.

Điều 60

Bãi bỏ bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 61

Bãi bỏ bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 62

Bãi bỏ bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 63

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 20 (Công báo ngày 26/6/2001)

Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông báo cho Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà phá án, chủ tịch Ban có thâm quyền của Hội đồng thẩm phán tối cao về việc kỷ luật các Công tố viên, về các hành vi dẫn đến kỷ luật một Công tố viên.

Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án cũng được Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phúc thẩm hoặc Viện trưởng Viện công tố bên cạnh toà phúc thẩm cấp trên thông báo về các hành vi vi phạm dẫn đến việc thi hành kỷ luật công tố viên.

Bản sao các văn bản được gửi cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người có quyền yêu cầu các cơ quan tư pháp mở cuộc điều tra.

Ngay từ khâu này, công tố viên bị điều tra có quyền trao đổi về hồ sơ của mình và các tài liệu điều tra ban đầu nếu đã được tiến hành.

Chủ tịch của Ban kỷ luật chỉ định một thành viên Ban làm báo cáo viên. Người này chịu trách nhiệm tiến hành điều tra. Hình thức được áp dụng giống các quy định tại điều 52.

Điều 64

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 21 (Công báo ngày 8/2/1994)

Khi một cuộc điều tra được xét thấy là không cần thiết phải xét xử hoặc đã kết thúc, công tố viên liên quan được yêu cầu có mặt trước Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao.

Các quy định được nêu ở điều 54, 55 và 56 được áp dụng theo các thủ tục trước Ban này.

Điều 65

Điều chỉnh bởi Luật tổ chức số 2001-539 ngày 25/6/2001 điều 21 (Công báo ngày 26/6/2001)

Nếu công tố viên nói trên được triệu tập ra toà, trừ trường hợp bất khả kháng, không thể có mặt có thể bị cưỡng chế. Phiên xử lý kỷ luật của Ban có thẩm quyền của Hội đồng thẩm phán tối cao đựơc xử lý công khai. Tuy nhiên, nếu cần thiết để bảo vệ trật tự công hay cuộc sống riêng tư hoặc có những tình huống đặc biệt ảnh hưởng đến quyền lợi của công lý, Ban có thẩm quyền của Hội đồng thẩm phán tối cao có thể cấm công chúng tham dự toàn bộ hoặc một phần phiên toà xét xử.

Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao đưa ra ý kiến về hình thức kỷ luật hành vi vi phạm của công tố viên; ý kiến này được chuyển tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 65-1

Bãi bỏ  bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Điều 66

Điều chỉnh bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 21 (Công báo ngày 8/2/1994)

Khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định kỷ luật nặng hơn mức đề nghị của Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao, Bộ trưởng phải tham khảo lại ý kiến của Hội đồng thẩm phán tối cao. Sau khi đã nghe những nhận xét đánh giá về công tố viên bị kỷ luật, Hội đồng thẩm phán tối cao đồng ý với hình thức kỷ luật mới thì quyết định này được lưu vào hồ sơ của công tố viên có liên quan.

Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp được gửi tới công tố viên có liên quan theo thủ tục hành chính. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày thông báo.

Điều 66-1

Bãi bỏ bởi Luật số 94-101 ngày 5 tháng 2 năm 1994 điều 24 (Công báo ngày 8/2/1994)

Chương VIII: Vị trí

Điều 67

Điều chỉnh bởi Luật số 92-189 ngày 25/2/1992 điều 12 (Công báo ngày 29/2/1992)

Tất cả các Thẩm phán được xếp vào một trong các vị trí sau:

1o Đang công tác;

2o Biệt phái;

3o Chờ việc;

4o Tham gia nghĩa vụ quân sự ;

5o Nghỉ đẻ ;

Các phương thức xếp hạng các thẩm phán biệt phái vào các cơ quan công quyền Nhà nước được quy định bởi quy chế đặc biệt của các cơ quan này.

Điều 68

Các quy định về quy chế chung đối với công chức liên quan đến các vị trí được  liệt kê trên đây áp dụng cho các Thẩm phán với điều kiện không trái với các quy định của ngạch tư pháp và các quy định riêng dưới đây.

Điều 69

Bãi bỏ bởi Luật tổ chức số 67-130 ngày 20 tháng 2 năm 1967 điều 8 (Công báo ngày 21/2/1967)

Điều 70

Tổng số thẩm phán được xếp vào vị trí biệt phái không thể vượt quá 20%  biên chế của cơ quan tư pháp.

Giới hạn này không áp dụng cho các Thẩm phán nêu ở đoạn hai của điều 69 trên đây.

Điều 71

Hết thời gian tạm nghỉ và sau khi đã đi làm lại, trong trường hợp nghỉ dài hạn,  nếu còn khả năng các thẩm phán được tái điều động về bậc của mình. Nếu không đủ khả năng, họ được ngừng đảm nhận chức trách nhiệm vụ và nếu có thể, được xem xét nghỉ hưu.

Thẩm phán từ chối vị trí dành cho họ theo các điều kiện kể trên được bổ nhiệm vào chức vụ khác tương đương với cấp bậc của họ; nếu từ chối vị trí này, họ được chấp nhận tạm thôi đảm nhận chức vụ và nếu có thể có quyền về hưu.

Điều 72

Điều chỉnh bởi Luật số 95-64 ngày 19/1/1995 điều 10 (Công báo ngày 20/1/1995)

Tổng thống nước Cộng hoà, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và sau khi có ý kiến của Ban có thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán tối cao đối với các Thẩm phán tuỳ theo họ thực hiện chức năng xét xử hay công tố quyết định việc biệt phái, nghị tạm thời hoặc tham gia nghĩa vụ quân sự. Ý kiến này căn cứ vào các quy định của đoạn 3 điều 12, điều 68 và điều 4, nếu đó là một Thẩm phán xét xử.

Các Nghị định về biệt phái được ký nháy bởi  Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính, bởi Bộ trưởng nơi thẩm phán được biệt phái đến. Tuy nhiên, trong trường hợp biệt phái để thực hiện các chức năng ở một quốc gia có ký kết với Pháp các hiệp định hợp tác kỹ thuật, ở một tổ chức quốc tế hay ở một nước khác, chỉ cần có ký nháy của Bộ trưởng có liên quan. Trong trường hợp gia hạn biệt phái nếu các điều kiện giống hệt với những điều kiẹn được nêu ở Nghị định ban đầu thì không cần thiết Bộ trưởng phải ký nháy.

Việc tái điều động các Thẩm phán được công bố phù hợp với các quy định của các điều 28, 37 và 38 của Pháp lệnh này.

Chương IX: ngừng chức trách

Điều 73

Điều chỉnh bởi Luật số 92-125 ngày 6/2/1992 điều 3 (Công báo ngày 8/2/1992)

Ngừng vĩnh viễn chức trách nhiệm vụ kéo theo việc từ bỏ ngạch công chức theo các điều kiện quy định ở điều 77 dưới đây, tước tư cách thẩm phán, kết quả:

10 Từ chức hoặc chấp nhận từ chức;

20 Nghỉ hưu hoặc ngừng chức trách nhiệm vụ và không được hưởng tiền trợ cấp;

3o Bãi chức;

4o Bổ nhiệm trực tiếp vào một trong các cơ quan hành chính trung ương của Nhà nước; các cơ quan hành chính địa phương hoặc những cơ sở công của Nhà nước phù hợp với những quy định của điều 72 – 2 dưới đây.

Điều 74

Ngoài trường hợp từ chức đương nhiên, đương sự có thể có đơn yêu cầu xin từ chức. Việc từ chức chỉ được chấp nhận bởi người có thẩm quyền bổ nhiệm và có hiệu lực kể từ ngày người có thẩm quyền quyết định.

Điều 75

Quyết định từ chức là không thể huỷ hỏ. Quyết định không phải là vật cản cho việc thực hiện hình thức kỷ luật vì những hành vi đã nêu sau quyết định này.

Điều 76

Sửa đổi bởi luật tổ chức số 84 – 833 ngày 13/9/1984 điều 1

( công báo ngày 14/9/1984 )

Đều kiện lùi giới hạn độ tuổi có thể tham khảo các văn bản áp dụng giống như toàn bộ nhân viên Nhà nước, giới hạn độ tuổi đối với thẩm phán ngạch tư pháp được quy định là 65 tuổi.

Tuy nhiên, đối với thẩm phán đảm nhận chức vụ Chánh án và Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án, độ tuổi giới hạn là 68 tuổi.

Điều 76-1

Sửa đổi bởi luật số 95 – 64 ngày 19/1/1995 điều 11

( công báo ngày 20/1/1995 )

Các tẩm phán đảm nhận chức vụ, trừ yêu cầu khác, đến ngày 30/6 sau ngày họ đạt đến giới hạn tuổi.

Điều 76 -2

Sửa đổi bởi luật số 92 – 189 ngày 25/1/1992 điều 13 ( công báo ngày 29/1/1992 )

Các thẩm phán có thể yêu cầu được biệt phái, hoặc được trở lại vị trí công tác cũ sau khi hết thời hạn biệt phái, hoặc được bổ nhiệm vào một ngạch mới được Trường hành chính Quốc gia tuyển chọn theo các điều kiện và thể thức được quy định bởi quy chế đặc biệt của ngạch nói trên đối với những công chức xuất thân từ ngạch khác.

Các thẩm phán có thể được biệt phái, được trở lại vị trí công tác sau khi biệt phái vào các ngạch giảng viên và giáo sư các trường đại học theo các điều kiện được quy định bởi quy chế đặc biệt của ngạch nói trên.

Điều 76 -3

Hình thành bởi luật số 92 – 189 ngày 25/2/1992 điều 14

(Công báo ngày 29/2/1992 )

Chính phủ ban hành Nghị định ấn định danh sách các Thẩm phán được Trường hành chính Quốc gia tuyển chọn, được nêu ở điều 76 -2

Điều 77

Sửa đổi bởi Luật tổ chức số 94 -101 ngày 5/2/1994 điều 22

( Công báo ngày 8/2/1994 )

Tất cả các Thẩm phán  được chấp nhận nghỉ hưu được hưởng chức danh thẩm phán danh dự. Tuy nhiên, chức danh thẩm phán danh dự có thể bị rút lại vào thời điểm nghỉ hưu của thẩm phán bằng một quyết định của người có thẩm quyền quyết định nghỉ hưu sau khi có ý kiến của Hội đồng Thẩm phán tối cao.

Khi thẩm phán nghỉ hưu, nếu họ thuộc đối tượng bị kỷ luật, họ sẽ không được hưởng chức danh danh dự trước khi hoàn tất thủ tục kỷ luật và chức danh danh dự có thể bị từ chối theo các điều kiện quy định ở khoản 1, ít nhất là hai tháng sau khi  chấm dứt thủ tục này.

Điều 78

Các thẩm phán danh dự được gắn với tư cách này ở cấp xét xử mà họ công tác.

Họ tiếp tục được hưởng những danh dự và đặc quyền gắn với chức danh này và có thể tham dự những nghi lễ quan trọng của cơ quan xét xử.

Họ đứng sau hàng các thẩm phán cùng bậc.

Điều 79

Sửa đổi bởi Luật tổ chức số 94 -101 ngày 5/2/1994 điều 23

( Công báo ngày 8/2/1994 )

Các thẩm phán danh dự tuân thủ các điều kiện dành cho họ.

Việc rút chức danh thẩm phán danh dự có thể được áp dụng đối với các thẩm phán khi nghỉ hưu hoặc đối vi phạm kỷ luật theo điều 43, vi phạm trong thời gian đảm nhận nhiệm vụ thẩm phán.

Chức danh  thẩm phán danh dự chỉ được rút lại theo các hình thức quy định ở chương VII.

Điều 79 -1

Xây dựng bởi luật số 92 – 189 ngày 25/2/1992 điều 15

( Công báo ngày 29/2/1992 )

( Các quy định được công bố không phù hợp với Hiến pháp bởi quyết định  của Hội đồng lập hiến số 92 – 303 DC ngày 21/2/1992 )

( Các quy định được công bố không thể tách dời các điều của luật này bởi quyết định của Hội đồng lập hiến số 92 – 305 DC ngày 21/2/1992 )

Chương X: Các quy định khác và các quyết định chuyển tiếp

Điều 80

Quy chế hành chính công xác định ngày có hiệu lực của Pháp lệnh này và quyết định các thể thức áp dụng cũng như các biện pháp chuyển tiếp cần thiết cho việc thi hành. Nhất là, quy chế sẽ quy định các điều kiện của thẩm phán ngạch hành chính trung ương thuộc Bộ Tư pháp, các điều kiện trong đó các thẩm phán hoà giải, căn cứ vào ngày có hiệu lực của Pháp lệnh này, sẽ được xếp vào ngạch tư pháp mới. Đối với các thẩm phán hoà giải không được xếp hạng và sẽ có quy định riêng biệt,  phần ngoại lệ ở điều 2 của quy chế này, sẽ được áp dụng đối với họ.

Nghị định số 58-1277 ngày 22 /12/1958 xếp hạng lại các thẩm phán hoà giải theo ngạch tư pháp mới.

Điều 80-1

Xây dựng bởi luật tổ chức sô 67 – 130 ngày 20/2/1967 điều 4

( Công báo ngày 21/2/1967 )

Một nghị định hành chính công sẽ quy định các điều kiện  bổ sung vào chức vụ thẩm phán cấp hai của Toà phá án. Có thể sẽ dự kiến các biện pháp chuyển tiếp cần thiết áp dụng các quy định này và các quy định nêu ở khoản hai điều 28.

Điều 81

Các thẩm phán ở khu vực hải ngoại của Pháp là một bộ phận của các cơ quan tư pháp cũng áp dụng quy chế này.

Một quy chế hành chính công sẽ quy định các thể thức áp dụng khoản trước. Văn bản này xác định tập trung vào các điều kiện đặc biệt đối với việc xếp hạng thẩm phán của Pháp ngoài hải ngoại theo ngạch tư pháp. Ban hành quyết định chuyển tiếp các quy định đặc biệt về bổ dụng và giới hạn độ tuổi.

Điều 82

Bãi bỏ bởi luật tổ chức số 94-101 ngày 5/2/1994 điều 24

( Công báo ngày 8/2/1994 )

Điều 83

Sửa đổi bởi Luật tổ chức số 60-87 ngày 26/2/1960 điều 1

( Công báo ngày 28/2/1960 )

Trong thời gian 5 năm kể từ ngày 1/1/1960, các công dân Pháp có nguồn gốc đạo hồi của bộ phận người Angeri, người Oasis và Saoura, để được tuyển chọn  là các học viên tư pháp, họ phải tham gia kỳ thi được tổ chức theo điều 17 ở trên, điều kiện tham dự giống như những điều kiện của các thí sinh khác, hoặc sẽ phải làm các bài thi bình thường của kỳ thi này hoặc các bài thi không bắt buộc theo những điều kiện được quy định bởi quy chế hành chính công, điều 23 của pháp lệnh này.

Ngoài ra, giới hạn độ tuổi sẽ được xác định rõ trong quy  chế hành chính công, đối với các thí sinh là đạo hồi của pháp sẽ được tính lùi lại 5 tuổi.

Những quy định của khoản trước sẽ có hiệu lực đến ngày 1/1/1966.

Điều 84

Tất cả các quy định  liên quan đến thẩm phán được nêu trong quy chế trái với luật này  đều bị bãi bỏ và nhất là:

Điều 81, 82 và 84 của quyết nghị tổ chức của Nghị viên nguyên lão về Hiến pháp ngày 16 tháng nóng ( lịch Cộng hoà Pháp ) năm thứ X;

Các điều 48,49,50,57,58,59,60,61.64 và 65 của luật sửa đổi ngày 20/4/1810 về tổ chức của các cơ quan tư pháp và hành chính;

Điều 77 Nghị định ngày 6/7/1810 quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Toà hoàng  gia, Toà đại hình và Toà đặc biệt;

Nghị định  ngày 1/3/1852 về chế độ nghỉ hưu và kỷ luật thẩm phán;

Điều 10 và 18 của luật sửa đổi ngày 30/8/1833 về cải cách tổ chức cơ quan tư pháp;

Điêu 20, 21,22,24 và 25b của luật sửa đổi ngày 12/7/1905 về: 1o thẩm quyền của thẩm phán hoà giải; 2o cơ cấu tổ chức lại các toà hoà giải;

Điều 38 luật ngày 17/4/1906 quy định về ngân sách  thu – chi chung;

Phần I của sắc lệnh ngày 13/2/1908 quy định về quy chế hành chính chung đối với việc tuyển chọn và đề bạt các thẩm phán.

Phần II, III và IV của luật sửa đổi ngày 28/4/1919 về tổ chức tư pháp, lương bổng, tuyển chọn và đề bạt thẩm phán;

Nghị định  ngày 28/5/1923 về đề bạt các thẩm phán biệt phái;

Nghị định ngày 18/5/1926 sửa đổi các quy định  về sự tuyên thề của thẩm phán;

Nghị định ngày 5/11/1926 về các điều kiện bỏ nhiệm thẩm phán hoà giải;

Nghị định ngày 21/7/1927 quy định về đề bạt thẩm phán;

Nghị định ngày 2/10/1927 mở rộng áp dụng cho thẩm phán của Marốc, sắc lệnh ngày 21/7/1927 quy định về đề bạt thẩm phán;

Nghị định sửa đổi ngày 5/6/1934 về bãi chức, hạ ngạch, thuyên chuyển của các thẩm phán công tố khi bị kỷ luật;

Luật ngày 30/7/1947 về tổ chức toà hoà giải;

Điều 1đến Đ 5 của luật số 51 – 346 ngày 20/3/1951 mở rộng cho các thẩm phán theo trật tự tư pháp, một vài quy định của luật ngày 19/10/1946 về cơ chế chung cho công chức;

Điều 4 của luật ngày 31/12/1954 về phát triển tín dụng chi tiêu cho Bộ tư pháp để thực hiện năm 1955;

Nghị định ngày 11/3/1957 quy định về công vụ và thi cử đối với việc bổ nhiệm thẩm phán hoà giải.

Nghị định số 58 – 1277 ngày 22/12/1958 về việc sắp xếp lại thẩm phán hoà giải theo ngạch tư pháp mới.

Điều 85

Pháp lệnh này sẽ đượng công bố trên Công báo của nước cộng hoà Pháp và thực hiện như Luật tổ chức.


[1] Thẩm phán trong pháp lệnh này được hiểu là cả thẩm phán xét xử và thẩm phán công tố ( hay còn gọi là Công tố viên )

©2008 VKSNDTC. All rights reserved.

CƠ QUAN CÔNG TỐ AUSTRALIA

THS. NGUYỄN ĐĂNG THẮNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Australia là một quốc gia nằm trong hệ thống khối liên hiệp thịnh vượng chung trong đó có Vương quốc Anh và một số quốc gia khác (gồm các quốc gia độc lập và quốc gia phụ thuộc). Năm 1901, Australia giành quyền độc lập trên cơ sở là thuộc địa cũ của Vương quốc Anh. Cũng như một số Nhà nước tư sản trên thế giới, tổ chức bộ máy Nhà nước Australia được thành lập trên nguyên tắc học thuyết Tam quyền phân lập, hệ thống pháp luật đồng thời cũng mang nhiều dấu ấn đặc trưng của hệ thống pháp luật Vương quốc Anh. Theo Hiếp pháp năm 1901, tổ chức bộ máy nhà nước Australia gồm 3 hệ thống: Cơ quan lập pháp (Quốc hội liên bang), Cơ quan hành pháp (Chính phủ liên bang) và Cơ quan tư pháp (Tòa án liên bang). Hệ thống các cơ quan này hoạt động độc lập và chế ước lẫn nhau. Từ những xuất phát điểm nêu trên, hệ thống cơ quan công tố Australia mang đậm những nét đặc trưng của hệ thống Luật án lệ (Common law) và hệ thống tố tụng theo thủ tục tranh tục (Adversarial system), đồng thời cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt. Trong phạm vi bài viết này, một số nét đặc trưng về hệ thống tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố được trình bày nhằm giúp độc giả thấy được vị trí và vai trò của cơ quan công tố Australia trong bộ máy nhà nước.

1. Một số điều kiện ra đời của cơ quan công tố

Nhà nước Australia được thành lập năm 1901, song mãi cho tới năm 1983 mới là năm đánh dấu mốc lịch sử ra đời quan trọng của cơ quan công tố Australia. Mặc dù hoạt động công tố nhà nước trước đó vẫn đang tồn tại và phát triển, việc cơ quan công tố Australia ra đời tương đối muộn xuất phát từ một số lý do cơ bản sau đây:

Continue reading

LUẬT VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

Đã được sửa đổi, bổ sung bằng luật số:

– 3382 ngày 31/12/1986

-4043 ngày 31/12/1988

– 4395 ngày 22/11/1991

– 4961 ngày 4/8/1995

– 5430 ngày 13/12/1997

 

CHƯƠNG I – NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1: Mục đích

Luật này quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, nhân sự và những vấn đề khác của cơ quan công tố.

Điều 2: Viện công tố

1. Văn phòng Công tố có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi hoạt động của các Công tố viên

2. Các Văn phòng Công tố bao gồm: Viện công tố tối cao, Viện công tố cấp cao và Viện công tố cấp quận.

Continue reading

LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN PHÁP

PHẦN QUI ĐỊNH – CÁC NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ

Chương II: Viện Công tố bên cạnh Toà phá án

Điều R132-1

Chức năng của Viện công tố được giao cho cá nhân Viện trưởng Viện Công tố.

Viện trưởng Viện Công tố sẽ chỉ đạo các công tố viên  tham gia thực hiện các chức năng này.

Điều R132-2

Viện trưởng phân công các phó Viện trưởng và các công tố viên quản lý những phân toà mà Viện trưởng Viện Công tố cho rằng hoạt động của họ ở đó có hiệu quả nhất.

Viện trưởng Viện Công tố có thể uỷ quyền cho các công tố viên tự do phát biểu trước phiên toà.

Điều R132-3

Đối với các vụ việc quan trọng, công tố viên phải  trao đổi với Viện trưởng về kết luận của mình.

Trường hợp Viện trưởng không đồng ý với  kết luận của công tố viên nhưng công tố viên vẫn kiên định bảo lưu ý kiến thì Viện trưởng có thể uỷ quyền cho một công tố viên khác hoặc tự mình phát biểu trước toà.

Continue reading

VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

NÔNG XUÂN TRƯỜNG – Viện khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Pháp luật hình sự truyền thống của Hàn Quốc được bắt đầu từ kỷ nguyên Gochosun (2333-108 trước Công nguyên), triều đại cổ xưa đầu tiên trong lịch sử của mình với đạo luật về 8 điều cấm.

Sau đó, các triều đại kết tiếp đã có những cơ quan của riêng mình để thực hiện nhiệm vụ truy tố như Cơ quan Eosadae trong triều đại Koryo (936-1391 sau Công lịch) và Saheonboo trong triều đại Chosun (1392-1910 sau công nguyên). Đặc biệt, trong triều đại Chosun có một cơ quan đặc biệt có tên là Euigumboo để duy trì sự công bằng và điều tra một cách không thiên vị các tội phạm do Hoàng Gia cáo buộc.

Tiếp đó, mặc dù chức năng truy tố và xét xử vẫn chưa được phân chia trong việc giải quyết các vụ án như những quốc gia trong thời kỳ tiền hiện đại trên thế giới, nhưng nguyên tắc xét xử theo 3 cấp đã được thiết lập nhằm tìm hiểu thận trọng những tình tiết thực tế và phương án giải quyết tối ưu vụ án. Nguyên tắc cơ bản này rất tương đồng với nguyên tắc về tính hợp pháp trong luật hình sự hiện đại bao trùm lên toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự , đặc biệt là ở triều đại Chosun.

Continue reading

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP Ở MALAYSIA

THS. HOÀNG VĂN TÚ & TRẦN VĂN THUẬN – Vụ pháp luật Văn phòng Quốc hội

1. Về hệ thống Toà án
Malaysia là một Nhà nước liên bang, vì vậy, mô hình tổ chức của Toà án ở Malaysia cũng có những đặc điểm riêng. Hệ thống Toà án ở Malaysia bao gồm: Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, Toà án xét xử theo phiên, và Toà án địa hạt. Ngoài các Toà án theo thứ bậc tố tụng trên đây, còn có Toà án đặc biệt (1) , Toà án hồi giáo, Toà án của những người bản xứ và Toà án vị thành niên, Toà gia đình.
Toà án liên bang là Toà án cao nhất trong hệ thống Toà án ở Malaysia, bao gồm 11 thẩm phán. Khi xét xử, Hội đồng xét xử thường gồm từ 3-5-7 thẩm phán, nhưng thường thì việc xét xử do một Hội đồng gồm 3 thẩm phán thực hiện. Về mặt thẩm quyền, Toà án liên bang có thẩm quyền tương tự như Toà án thượng thẩm khi xét xử sơ thẩm. Toà án liên bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ án hình sự, dân sự của Toà án phúc thẩm bị kháng cáo. Tuy nhiên, các thẩm phán Toà án liên bang có thể về các bang để xét xử lưu động.
Toà án phúc thẩm có vị trí thứ hai về mặt tố tụng sau Toà án liên bang, bao gồm 15 thẩm phán.
Toà án này có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định về dân sự, hình sự
của Toà án thượng thẩm có kháng cáo; trừ một số trường hợp không được kháng cáo lên Toà phúc thẩm. Toà án này được thành lập vào năm 1954, nhằm làm giảm bớt sự quá tải của Toà án liên bang.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Điều I

  1. Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.
  2. Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.

Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT VỀ TÀI SẢN CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI Ở ĐỨC

GS.TS. THOMASRAUSCHER –  ĐH Tổng hợp Leipzip, CHLB Đức

1. GIỚI THIỆU

a. Thi hành các phán quyết của tòa án trong và ngoài Cộng đồng Châu Âu

Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng trong thương mại quốc tế có thể được giải quyết ở tòa án quốc gia có thẩm quyền theo quy định pháp luật của quốc gia đó trừ khi có điều khoản trọng tài trong hợp đồng hạn chế thẩm quyền của tòa án. Khi lựa chọn một tòa án để giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết theo các quy định của tòa án đó không phải là yếu tố duy nhất để xem xét. Khởi kiện ở tòa án nơi nguyên đơn cư trú có vẻ là thuận lợi. Tuy nhiên, việc thi hành phán quyết**

của tòa án của quốc gia nơi nguyên đơn cư trú là rất khó khăn trừ khi phán quyết đó được thi hành do tài sản của bị đơn bị tịch thu. Việc thi hành phán quyết về tài sản (money judgment) ở Đức được điều chỉnh bởi Nghị định của Cộng đồng Châu Âu (EC) số 44/20011 về thẩm quyền, công nhận và thi hành các phán quyết về các vấn đề dân sự và thương mại (Nghị định Brussels I), nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia thành viên EC2, hoặc bởi pháp luật quốc gia, đó là Điều 723, 724, 328 Bộ luật Tố tụng dân sự Đức (ZPO3) nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia không phải là thành viên của EC. Các quy định song phương về công nhận và thi hành phán quyết đang có hiệu lực giữa Đức với quốc gia nơi tòa án ra phán  quyết cũng có thể được áp dụng. Continue reading

ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ Ở PHÁP

LP

Pháp là một nước có nền dân chủ lâu đời, một nền kinh tế thị trường phát triển, một nền pháp chế hoàn thiện. Số luật sư ở Pháp rất đông, riêng đoàn Luật sư Paris có trên 1, 5 vạn người, Đoàn nhỏ cũng có khoảng vài trăm luật sư. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, việc đào tạo nghề nghiệp cho luật sư rất được chú trọng và được tổ chức chặt chẽ.

Trước tiên, luật sư được đào tạo ở Trung tâm đào tạo luật sư. Sau khi tốt nghiệp, Trung tâm vẫn giám sát việc tập sự của luật sư và đào tạo thường xuyên về nghề nghiệp cho luật sư. Người muốn vào nghề luật sư phải có bằng Đại học luật hoặc tương đương và trải qua một kỳ thi tuyển. Thời gian học là 1 năm. Một số người có thể được miễn học tập ở Trung tâm như Giáo sư luật, Tiến sỹ luật, người đã có nhiều năm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Công chứng viên do pháp luật quy định. Các học viên được đào tạo về lý luận và thực tiễn hành nghề luật sư. Chương trình học do Uỷ ban quản lý Trung tâm khu vực quy định với sự nhất trí của Hội đồng quốc gia luật sư và báo cáo với Bộ Tư pháp. Nội dung chương trình chủ yếu là nghiên cứu điều lệ và đạo đức luật sư, thảo các văn bản, bào chữa trước toà, thực hành các thủ tục tố tụng, quản lý một văn phòng luật sư, học một ngoại ngữ. Người tốt nghiệp sẽ được cấp chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư.

Để trở thành một luật sư thực thụ, người đã có chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư, tuyên thệ trước Toà án phúc thẩm và phải ghi tên vào danh sách những người tập sự thuộc Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp, thời gian tập sự là 2 năm. Trung tâm khu vực quy định những yêu cầu của luật sư tập sự, những việc phải giao cho học viên và giám sát thực hiện. Trung tâm lập danh sách những luật sư hướng dẫn, luật sư được giao nhiệm vụ không được từ chối. Các luật sư tập sự bên cạnh một luật sư, một người chuyên nghề nghiệp pháp lý, một chuyên gia kinh tế trong cơ quan pháp chế có từ 3 luật gia trở lên hoặc có thể tập sự ở một cơ quan công quyền. Ngoài ra, hàng năm, Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp luật sư còn tổ chức bồi dưỡng cho luật sư về các đề tài pháp lý mới hoặc về thực tiễn.

Ở nước ta, sau khi được đào tạo ở Học viện Tư pháp, người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được tham gia tập sự ở các Đoàn luật sư hoặc Văn phòng luật sư. Để nghề luật sư phát triển và thực sự phát huy được ý nghĩa tốt đẹp của nó thì không những cần tăng cường về số lượng mà còn phải quan tâm đến vấn đề chất lượng luật sư. Hiện nay, việc xây dựng một ngôi nhà chung cho Đoàn Luật sư toàn quốc ở Việt Nam là cần thiết để vừa phát huy sức mạnh nội lực đồng thời có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức luật sư nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho luật sư.

SOURCE: HAIPHONG.GOV.VN

CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THẨM PHÁN THEO LUẬT PHÁP LIÊN BANG NGA

Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ. Ở Cộng hoà Liên bang Nga, nghề thẩm phán là một trong những nghề rất được xã hội trọng vọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi.

Một bộ phận cốt lõi của hệ thống tư pháp là cơ quan xét xử. Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư­.

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như­ quyền lợi của họ. Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn, quyền tài phán và quyền đư­ợc bảo vệ. Thẩm phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn đư­ợc mở rộng đến nơi ở, nơi làm việc, phư­ơng tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ đư­ợc áp dụng khi Thẩm phán đ­ương nhiệm mà còn cả khi họ về hư­u, từ chức.

Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán đư­ợc hư­ởng lư­ơng, lư­ơng hư­u và phụ cấp tư­ơng xứng. Thẩm phán đư­ợc cấp nhà, đ­ược miễn hoặc ư­u tiên trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như­: đư­ợc quyền sử dụng các phư­ơng tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được quyền giữ chỗ trư­ớc, phục vụ ­ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ và điều trị y tế không phải trả tiền. Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm phán đ­ược bảo hiểm bắt buộc lấy từ ngân sách Liên bang. Thẩm phán nghỉ hư­u mà vẫn tiếp tục nhiệm vụ của Thẩm phán thì đ­ược trả đủ lư­ơng h­ưu và tiền lương.

Ph­ương Yến (St) – HAIPHONG.GOV.VN

NGHỀ LUẬT SƯ Ở SINGAPOR

Hiện nay, Xin-ga-po được coi là một trong những nước có hệ thống pháp luật phát triển khá mạnh ở châu á. Dịch vụ pháp lý nói chung và hành nghề luật sư nói riêng được khuyến khích phát triển. Từ những năm 90 đến nay, các luật sư và hãng luật ở nước này không chỉ hành nghề trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra ở nhiều nước khác trên thế giới.

Theo Điều 12 của đạo luật về hành nghề luật sư ở Xin-ga-po, người muốn hành nghề luật sư phải từ 21 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; đã qua thời kỳ tập sự theo quy định và tham gia các lớp tập huấn, các kỳ kiểm tra theo quy định của Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po. Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po là cơ quan thực hiện chức năng đăng ký những người có đủ điều kiện để trở thành luật sư. Ngoài chức năng trên, Uỷ ban còn tiến hành công tác đào tạo và kiểm tra đối với những người có đủ điều kiện muốn trở thành luật sư. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Uỷ ban có thể xem xét và công nhận luật sư đối với các trường hợp ngoại lệ khi người nộp đơn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định trong Điều 12 nêu trên. Ngoài ra, Uỷ ban cũng có thể miễn cho một số người không phải theo học các khoá tập huấn và các kỳ kiểm tra nếu những người này được coi là ‘có đủ kinh nghiệm hoặc có quyền được miễn vì một lý do nào đó‘.

Thời gian tập sự ở Xin-ga-po là 6 tháng. Trong thời gian này, người tập sự không được phép mở văn phòng riêng hay làm thuê, cộng tác để làm nghề luật sư dưới bất cứ hình thức nào trừ khi được Uỷ ban chấp thuận bằng văn bản. Thời hạn tập sự có thể được xét giảm nếu người tập sự là luật sư tư vấn của Anh, Bắc Ailen hay đã hành nghề trong Khối thịnh vượng chung (gồm 54 thành viên, trong đó có 3 nước Đông Nam á là Xin-ga-po, Malaixia và Brunây). Những người này đã đăng ký ở Uỷ ban và đáp ứng đầy đủ các điều kiện trở thành luật sư phải nộp đơn đến Toà án để được công nhận là luật sư. Đơn đồng thời cũng được gửi đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư và các cơ quan hữu quan khác. Toà án chỉ xem xét công nhận sau khi đã nhận được ý kiến của các cơ quan này.

Chứng chỉ hành nghề luật sư do Lục sự ký và có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến hết năm. Khi một luật sư rút tên khỏi danh sách, chứng chỉ hành nghề của luật sư ngay lập tức sẽ không còn giá trị. Khi có sự thay đổi về họ tên, địa chỉ, địa điểm hành nghề và các dữ liệu cá nhân khác, luật sư phải thông báo cho Lục sự để thay đổi nội dung chứng chỉ hành nghề.

Chứng chỉ hành nghề của các luật sư Xin-ga-po cho phép các luật sư hành nghề với cả tư cách của luật sư bào chữa và luật sư tư vấn. Tại bất kỳ thời điểm nào sau khi công nhận người nộp đơn là luật sư mà Toà án phát hiện ra rằng người nộp đơn đã khai man các nội dung trong đơn, bản khai có tuyên thệ hoặc các giấy tờ liên quan hoặc cố tình che giấu sự thật thì Toà án sẽ xoá tên luật sư đó khỏi danh sách.

Luật sư của Xin-ga-po có quyền hành nghề với cả hai tư cách: Luật sư tư vấn và luật sư bào chữa. Một luật sư có thể hành nghề dưới hình thức cá nhân hoặc hành nghề trong các hãng luật dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn hoặc hợp danh. Hình phạt dành cho người hành nghề trái pháp luật có thể từ 500 đôla Xin-ga-po đến 6 tháng tù giam tuỳ theo mức độ vi phạm. Điều đặc biệt là ở Xin-ga-po tồn tại một loại hình luật sư theo vụ việc. Điều này có nghĩa là Toà án có quyền xem xét và công nhận một người không được công nhận và cấp chứng chỉ theo Đạo luật này là luật sư của một vụ việc cụ thể, nếu người đó được cấp chứng chỉ luật sư của Hoàng gia; không thường xuyên cư trú tại Xin-ga-po nhưng dự định đến Xin-ga-po để tham gia vào một vụ việc nào đó và có khả năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực của vụ việc đó.

Hiện nay các luật sư của Xin-ga-po hành nghề trong các hãng luật có quy mô khác nhau: Những hãng lớn thường có từ 80 luật sư trở lên; loại trung bình thì có khoảng 20 đến 30 luật sư; chiếm đa số vẫn là các hãng luật nhỏ có khoảng 5 luật sư thành viên. Trong đó, các hãng luật lớn thường có các bộ phận chuyên môn về một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, hàng hải, còn những hãng nhỏ ít có sự chuyên môn hoá hơn và thường tập trung vào các lĩnh vực như pháp luật về hình sự, giao thông, xây dựng và thu hồi nợ./.

P.L (St) – HAIPHONG.GOV.VN

 

HIẾN PHÁP HOA KỲ VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC SUỐT ĐỜI CỦA CÁC THẨM PHÁN LIÊN BANG

ĐỖ XUÂN (theo “Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ”)

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, thẩm phán liên bang sẽ “được giữ chức vụ đó suốt đời nếu luôn luôn có hành vi đúng đắn. Trong thời gian nói trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó”.

Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được thông qua lần đầu tiên từ thời Tổng thống G. Washington (1787), có thể xem là một trong những bản hiến pháp ngắn nhất thế giới với 15 trang in (khổ 13x 21cm bản dịch tiếng Việt) gồm 7 điều và 27 Tu chính án gồm 12 trang in. Trong khi đó, hệ thống luật pháp của Hoa Kỳ lại là một trong những hệ thống luật phân chia thành nhiều cấp và phức tạp bậc nhất thế giới. Lịch sử Hoa Kỳ không hình thành từ một quốc gia mà là liên minh 13 khu vực thuộc địa, mỗi khu vực đều độc lập tách ra khỏi Anh Quốc. Do vậy, tuyên ngôn Độc lập (1776) đã nhắc đến “dân tộc của các khu vực thuộc địa” và thừa nhận đó là “các khu vực thuộc địa của Hợp chủng quốc là, và có quyền được làm các bang tự do và độc lập”. Toàn bộ hệ thống được dựa trên các quy tắc pháp lý truyền thống của Thông luật Anh. Mục 2. Điều II của Hiến pháp Hoa Kỳ ghi “… Cùng với sự cố vấn và tán thành của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ,các công sứ, lãnh sự, các thẩm phán của Toà án tối cao của Hoa Kỳ”. Mục 1. Điều III ghi rõ “…Các thẩm phán của toà án tối cao và các toà án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi đúng đắn. Trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó”.

Vậy các thẩm phán Hoa Kỳ, họ là ai? Các nhân vật chính của hệ thống pháp lý liên bang là những người đảm nhiệm chức vụ thẩm phán và chánh án. Phải học tập rèn luyện như thế nào để trở thành thẩm phán? Các thẩm phán được lựa chợn ra sao và khi nào họ bị bãi miễn? Người dân Mỹ thường có quan niệm rằng một người sinh ra trong hoàn cảnh tầm thường nhất (như Abraham Lincon) một ngày nào đó cũng có thể trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, hoặc ít nhất cũng sẽ là thẩm phán tòa án tối cao. Về nguyên tắc, mọi người ai cũng có thể trở thành một quan chức chính phủ xuất chúng. Có thể nêu ra nhiều ví dụ về những người có xuất thân thấp kém song đã đạt tới đỉnh cao quyền lực. Tuy vậy, các thẩm phán liên bang Mỹ cũng như những quan chức chính phủ khác, cả những người đứng đầu các ngành thương mại, công nghiệp, hầu hết đều xuất thân tù tầng lớp trung lưu và thượng lưu của đất nước này. Tất cả các thẩm phán đều tốt nghiệp đại học, khoảng một nửa trong số họ đã theo học tại các trường đại học nổi tiếng ở miền đông-bắc Mỹ với mức học phí rất cao. Các thẩm phán cũng “khác” công chúng ở tính kế nghiệp, nghĩa là thường xuất thân từ những gia đình có truyền thống làm việc trong ngành tư pháp hoặc dịch vụ công. Mặc dù 51% dân số Mỹ là phụ nữ, song các thẩm phán hầu như đều là nam giới. Cho tới tận nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter (1977-1982), mới chỉ có chưa đến 2% các thẩm phán hạt là phụ nữ. Các nhóm chủng tộc thiểu số (không phải là người thuộc chủng tộc Anglo) cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất ít ỏi trong số các thẩm phán. Cho đến nay, chỉ có Jimmy Carter là đã bổ nhiệm một lượng đáng kể phụ nữ (14,4%) và những người không thuộc chủng tộc Anglo (21%) vào ngành tư pháp. Trong thời gian cầm quyền (1993-2001), Tổng thống Bill Clinton đã bổ nhiệm 49% số người giữ các chức vụ trong ngành tư pháp là phụ nữ và người thuộc nhóm thiểu số. Đó là một sự thay đổi lớn. Khoảng 90% các thẩm phán là người thuộc cùng một đảng với tổng thống đã bổ nhiệm họ và trong số đó có khoảng 60% tham gia hoạt động đảng phái rất tích cực.

Thông thường các thẩm phán thường được bổ nhiệm ở độ tuổi 49 và hầu như không thấy có sự khác biệt lớn về độ tuổi được bổ nhiệm thẩm phán giữa các nhiệm kỳ tổng thống. Năng lực chuyên môn nổi bật và phẩm chất chính trị xuất sắc qua hoạt động đảng phái là cơ sở để thượng viện biết, giới thiệu và Tổng thống bổ nhiệm làm thẩm phán. Tuy vậy, thẩm phán tương lai nào biết tiến hành vận động kín đáo và gặp sự ngẫu nhiên may mắn đúng vào lúc cần bổ sung thẩm phán bị khuyết, vẫn sẽ có cơ hội trúng cử hơn những người có cùng trình độ năng lực và phẩm chất. Quy trình tuyển chọn thẩm phán rất nghiêm ngặt, khắt khe. Trước hết phải được tham khảo ý kiến của đội ngũ nhân viên Nhà Trắng, văn phòng Chưởng lý, một số thượng nghị sĩ và các nhà hoạt động chính trị khác. Các phẩm chất và năng lực của ứng cử viên sẽ được bộ phận chuyên môn của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đánh giá. Tiếp theo là thủ tục kiểm tra an ninh của Cục điều tra liên bang (FBI), của bộ phận chuyên trách thuộc Bộ tư pháp. Tên của ứng cử viên sẽ được gửi tên Uỷ ban Tư Pháp Thượng viện Hoa Kỳ. Uỷ ban sẽ tiến hành một cuộc điều tra xem ứng cử viên có phù hợp với vị trí này hay không. Nếu mọi kết quả đều thuận lợi, việc bổ nhiệm ứng cử viên làm thẩm phán sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện và tiến hành bỏ phiếu thông qua hoặc phản đối do đa số quyết định. Các thẩm phán Hoa Kỳ chỉ ngừng thực hiện nhiệm vụ khi nghỉ hưu theo nguyện vọng, do tình trạng sức khoẻ yếu kém hay qua đời hoặc khi họ phải kỷ luật. Tất cả các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm theo quy định của Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ đều được giữ chức vụ đó “trong thời gian có hành vi chính đáng”, có nghĩa là họ sẽ được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ muốn ngừng lại. Cách thức duy nhất buộc họ phải từ nhiệm là tiến hành luận tội tại Hạ viện và kết tội tại Thượng viện. Theo quy định của Hiến pháp (Đối với các thẩm phán Toà án tối cao) và các quy định về lập pháp (đối với thẩm phán Toà phúc thẩm và sơ thẩm), chỉ tiến hành luận tội khi phạm các tội danh “phản quốc, nhận hối lộ hoặc những trọng tội khác”. Thẩm phán bị luận tội đó sẽ bị kết án tại Thượng viện khi có 2/3 số người dự họp bỏ phiếu tán thành. Từ 1789 đến nay, Hạ viện mới chỉ khởi xướng luận tội đối với 13 thẩm phán và có 7/13 người đã bị kết tội. Bên cạnh đó, có hơn mười thẩm phán khác đã xin từ chức trước khi bị luận tội. Ngày 1-10-1980, một đạo luật mới được thông qua với tên gọi “Về cải cách các hội đồng thẩm phán, hành vi sai phạm và suy thoái tư cách của thẩm phán”. Đạo luật có hai phần riêng biệt. Phần thứ nhất uỷ quyền cho các Hội đồng thẩm phán được “đưa ra những quy định phù hợp và cần thiết để thực thi luật pháp hiệu quả và nhanh chóng”. Phần thứ hai quy định một trình tự khiếu kiện các thẩm phán cho phép một bên không đồng tình trong vụ xử được đệ đơn khiếu nại lên toà phúc thẩm. Chánh án toà phúc thẩm có thể bác bỏ nếu có đủ căn cứ cho thấy việc khiếu nại và không đúng. Nếu thấy khiếu nại có đủ cơ sở để xem xét, chánh án sẽ phải chỉ định một ủy ban điều tra gồm bản thân (chánh án) và một số lượng bằng nhau các thẩm phán của toà sơ thẩm và toà phúc thẩm để tiến hành điều tra. Uỷ ban này sẽ báo cáo kết quả điều tra lên Hội đồng thẩm phán. Hội đồng sẽ lựa chọn quyết định miễn tội hoặc cách chức đối với các thẩm phán (cấp bang). Đối với các thẩm phán (liên bang) Hoa Kỳ được bổ nhiệm theo điều III của Hiến pháp thì Hội đồng chỉ có thể khiển trách, tuyên bố không đủ tư cách hoặc cấm xét xử trong những vật việc cụ thể, không đước phép cách chức. Nếu Hội đồng thẩm phán cho rằng hành vi sai phạm có đủ điều kiện để luận tội thì thông báo cho Hội đồng tư pháp để chuyển bên Hạ viện xem xét luận tội. Thuyết phục những thẩm phán đã quá già không còn đủ khả năng thực thi trách nhiệm rời bỏ chức vụ còn khó hơn cả việc cách chức các thẩm phán có những hành vi sai phạm. Quốc hội Hoa Kỳ đã cố gắng,- với đôi chút thành công,- khuyến khích các thẩm phán cao tuổi nghỉ hưu bằng cách dành cho họ những ưu đãi vật chất hấp dẫn khi nghỉ hưu.

Từ năm 1984, các thẩm phán liên bang được phép nghỉ hưu mà vẫn hưởng nguyên lương và các khoản phúc lợi theo cái gọi là “quy tắc 80” (khi số tuổi cộng số năm làm thẩm phán đạt 80 năm). Quốc hội Hoa Kỳ cũng cho phép các thẩm phán chuyên sang ngạch chuyên gia cao cấp thay vì nghỉ hưu hoàn toàn.Trong trường hợp đó, tuy không phải trực tiếp tham gia việc xét xử, nhưng họ được phép giữ lại văn phòng với các nhân viên tư pháp và, quan trọng nhất là vẫn giữ được uy tín và có quyền tự hào rằng vẫn đang là một thẩm phán đương nhiệm.

SOURCE: BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Minh bạch hóa pháp luật, công khai các phán quyết của tòa án TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI & THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM

LS. PHẠM VĂN PHAI – Trưởng Văn phòng luật sư Bắc Hà

Tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bất kỳ Thành viên nào cũng phải tuân thủ nghĩa vụ về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” đã được cam kết trong các Hiệp định của (WTO).
Điều 10 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) chỉ ra rằng các luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung, được bất kỳ bên ký kết nào áp dụng sẽ được công bố khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay các doanh nhân biết.

Điều 63 (1) của Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ (TRIPs là một Hiệp định nằm trong khuôn khổ WTO) quy định: “Các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng có tính áp dụng chung, do Thành viên ban hành, liên quan đến đối tượng của Hiệp định này (khả năng đạt được, phạm vi, việc đạt được, thực thi và ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ) phải được công bố, hoặc nếu việc công bố không có khả năng thực hiện, phải tiếp cận được một cách công khai, bằng ngôn ngữ quốc gia, theo cách thức để các Chính phủ và những người nắm quyền có thể biết rõ về các Văn bản đó”.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên cứu về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết, quyết định của Toà án” để vận dụng trong việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các quyết định, bản án của Toà án” được quy định trong WTO và tầm quan trọng của về vấn đề này đối với các quốc gia thành viên nói chung và với Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

1. Minh bạch hoá pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Nghiên cứu những đặc điểm và mối quan hệ giữa pháp luật và các nhân tố khác trong xã hội, chúng ta có thể thấy pháp luật có vai trò quan trọng trên các bình diện (i) Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước (ii) Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội (iii) Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới (iv) Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.

Vì vậy, “Minh bạch hoá pháp luật” có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó giúp cho các đối tượng bị tác động bởi các luật pháp đó nắm vững, hiểu được pháp luật để áp dụng, tránh những tranh chấp có thể xảy ra. “Minh bạch hoá pháp luật” là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin và là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế. Nhờ đó mà nhà nước quản lý xã hội một cách tốt hơn, môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đẩy mạnh tăng trưởng đầu tư, tăng việc làm, thúc đẩy lưu thông hàng hoá và dịch vụ và cơ cấu lại nền kinh tế đất nước.
Trong nhà nước pháp quyền, “Minh bạch pháp luật” còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “Pháp luật phải được công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rõ ràng và không mập mờ và được áp dụng một cách thống nhất và không tùy tiện bởi một hội đồng xét xử độc lập và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.

Ở chừng mực mỗi quốc gia thành viên cho phép, “Minh bạch hoá pháp luật” còn giúp cho công dân và pháp nhân của các quóc gia thành viên khác góp ý kiến trong việc xây dựng luật và các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại và sở hữu trí tuệ.

2. Công khai các phán quyết của Tòa án.

Trong khuôn khổ WTO, tất cả các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ các quy định về công bố các phán quyết, quyết định của Toà án. Công bố các phán quyết, quyết định của Toà án nhằm công khai hoá toàn văn các phán quyết, quyết định của Toà án dưới dạng ấn phẩm hay internet hoặc dưới dạng cả hai phương tiện đến toàn thể công chúng, từ đó công chúng và các quan chức chính phủ có thể thấy được cách thức của Toà án áp dụng luật trong vụ án cụ thể.

Trong WTO, ở các quốc gia thành viên, Toà án đóng vai trò chính trong hệ thống luật pháp. Điều này được WTO ghi nhận và cụ thể hoá chúng trong điều 63 của TRIPs và điều 10 của GATT.
Đối với các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật (Common Law) theo thuyết Án lệ bắt buộc, các quyết định của Toà án cấp phúc thẩm đều được coi là nguồn luật mà Toà án sử dụng các bản án trong các vụ án trước để áp dụng cho các vụ án tương tự sau này. Vì vậy, việc công bố các bản án, quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa quan trọng như công bố pháp luật.

Đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), việc công bố các bản án quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Để minh hoạ cho những lợi ích to lớn mà việc công bố các bản án, quyết định của Toà án mang lại cho một nền kinh tế, dù là quốc gia áp dụng hệ thống thông luật hay áp dụng hệ thống dân luật, chúng tôi viện dẫn 7 tác dụng dưới đây của nó đã được ngài Virginia Wise, Giảng viên luật, Trường luật Harward tổng kết trong Báo cáo về thực tế công bố các quyết định của Toà án ở một số nước điển hình và một số đề xuất với Việt Nam trong Dự án Star – Việt Nam tháng 12 năm 2001.

  1. Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định.
  2. Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử” và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý.
  3. Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề Toà án đã ra quyết định.
  4. Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo.
  5. Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (không tuỳ tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm.
  6. Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước trong khi áp dụng luật.
  7. Tăng cường công khai và rừ đó tăng được sự tự tin và tín nhiệm vào hệ thống Toà án.

Với những ý nghĩa trên đây, “Minh bạch hoá pháp luật, công bố công khai các phán quyết của Toà án” trong môi trường đầu tư và thương mại quốc tế có tác dụng to lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia vào các giao dịch quốc tế mà còn có tác dụng ngay cả với những thẩm phán của Toà án, nó hạn chế được sự tuỳ tiện hoặc lạm dụng của cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền thực thi pháp luật từ đó hạn chế được sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong việc áp dụng pháp luật.

Tóm lại, thực hiện cam kết “Minh bạch hoá pháp luật, công khai phán quyết của Toà án” không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý ổn định và dễ dự đoán cho các chủ thể thực hiện các giao dịch quốc tế mà còn có ý nghĩa khẳng định việc tuân thủ những nghĩa vụ đã được cam kết trong các Hiệp định quốc tế từ đó làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong các Hiệp định đó.

Để đảm bảo cho cơ chế này được thực thi, WTO quy định cơ chế kiểm điểm chính sách đã cam kết trong các điều ước mà họ tham gia, theo đó hàng năm các quốc gia thành viên phải kiểm điểm việc tuân thủ các yêu cầu của WTO đồng thời củng cố lại hệ thống pháp luật, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thành viên nhằm làm cho chúng phù hợp và tương thích với những quy định trong WTO và thông lệ quốc tế.

3. Thực trạng về “Minh bạch hoá và công khai các phán quyết của Toà án” tại Việt Nam

Trong những thập kỷ qua của thế kỷ XX, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường bằng việc thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế thông qua việc thúc đẩy tự do hoá thương mại khu vực và tham gia các liên kết kinh tế trong khu vực châu lục cũng như trên thế giới như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1994, tham gia sáng lập Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1997. Đồng thời với việc gia nhập các liên kết kinh tế, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương với 86 nước, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ký Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 46 nước, ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước.

Trong các liên kết kinh tế và các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết, “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” cũng được quy định trong các liên kết kinh tế và trong các Hiệp định. Cụ thể, APEC quy định về nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch hoá “Mội luật lệ, chính sách hiện hành tại các quốc gia thành viên trong APEC phải được công khai minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các luật lệ chính sách”. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Chương VI điều 1 quy định: “Mỗi bên công bố một cách định kỳ và kịp thời tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung, liên quan đến bất kỳ vấn đề nào được quy định trong Hiệp định này…” , điều 6 quy định : “Các bên điều hành một cách thống nhất , vô tư và hợp lý tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung của mình thuộc tất cả các loại được nêu tại khoản 1 điều của điều này”. Khoản 3 điều 11 Chương II về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định cũng quy định rất cụ thể về việc cung cấp các phán quyết của Toà án cho các bên trong vụ kiện.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy Nhà nước Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ cũng như những cam kết về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” bằng việc đăng tải một cách công khai các luật, văn bản luật trên các phương tiện như Công báo và cơ sở dữ liệu luật của Quốc hội (lawdata). Ngoài việc công bố công khai các luật và văn bản pháp luật Việt Nam còn chuyển các dự thảo luật cho nhân dân lấy ý kiến trước khi các dự luật được Quốc hội chính thức thông qua và ban hành. Kết quả của “Minh bạch hoá pháp luật” đã cho phép Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển nền kinh tế bền vững, thúc đẩy đầu tư, thương mại và dịch vụ. Một trong những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đạt được là năm 2006 Việt Nam đã thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 10,2 tỷ Đô la Mỹ.

Cùng với “Minh bạch hoá pháp luật”, Tuy bị hạn chế về kỹ thuật và năng lực tài chính nhưng Ngành Toà án Việt Nam đã đăng tải hai tập các Bản án và Quyết định của Toà án cấp cao nhất năm 2003 – 2004. Việc đăng tải các bản án này của Ngành Toà án đã có tác dụng tích cực đối với xã hội nói chung và phát huy tác dụng đối với các thẩm phán, các luật sư, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà làm luật, cán bộ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nói riêng và giúp cho Việt Nam phát triển Án lệ trong quá trình hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.

“Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” trong thời gian qua đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, là tiền đề cho việc thực hiện chỉ thị “Từng bước thực hiện công khai các bản án….” trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO./. Continue reading

MINH BẠCH HOÁ PHÁP LUẬT, CÔNG KHAI CÁC PHÁN QUYẾT CỦA TOÀ ÁN TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI & THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM

LS. PHẠM VĂN PHAI – Trưởng Văn phòng luật sư Bắc Hà

Tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bất kỳ Thành viên nào cũng phải tuân thủ nghĩa vụ về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” đã được cam kết trong các Hiệp định của (WTO).
Điều 10 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) chỉ ra rằng các luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung, được bất kỳ bên ký kết nào áp dụng sẽ được công bố khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay các doanh nhân biết.

Điều 63 (1) của Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ (TRIPs là một Hiệp định nằm trong khuôn khổ WTO) quy định: “Các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng có tính áp dụng chung, do Thành viên ban hành, liên quan đến đối tượng của Hiệp định này (khả năng đạt được, phạm vi, việc đạt được, thực thi và ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ) phải được công bố, hoặc nếu việc công bố không có khả năng thực hiện, phải tiếp cận được một cách công khai, bằng ngôn ngữ quốc gia, theo cách thức để các Chính phủ và những người nắm quyền có thể biết rõ về các Văn bản đó”.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên cứu về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết, quyết định của Toà án” để vận dụng trong việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các quyết định, bản án của Toà án” được quy định trong WTO và tầm quan trọng của về vấn đề này đối với các quốc gia thành viên nói chung và với Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

1. Minh bạch hoá pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Nghiên cứu những đặc điểm và mối quan hệ giữa pháp luật và các nhân tố khác trong xã hội, chúng ta có thể thấy pháp luật có vai trò quan trọng trên các bình diện (i) Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước (ii) Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội (iii) Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới (iv) Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.

Vì vậy, “Minh bạch hoá pháp luật” có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó giúp cho các đối tượng bị tác động bởi các luật pháp đó nắm vững, hiểu được pháp luật để áp dụng, tránh những tranh chấp có thể xảy ra. “Minh bạch hoá pháp luật” là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin và là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế. Nhờ đó mà nhà nước quản lý xã hội một cách tốt hơn, môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đẩy mạnh tăng trưởng đầu tư, tăng việc làm, thúc đẩy lưu thông hàng hoá và dịch vụ và cơ cấu lại nền kinh tế đất nước.
Trong nhà nước pháp quyền, “Minh bạch pháp luật” còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “Pháp luật phải được công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rõ ràng và không mập mờ và được áp dụng một cách thống nhất và không tùy tiện bởi một hội đồng xét xử độc lập và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.

Ở chừng mực mỗi quốc gia thành viên cho phép, “Minh bạch hoá pháp luật” còn giúp cho công dân và pháp nhân của các quóc gia thành viên khác góp ý kiến trong việc xây dựng luật và các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại và sở hữu trí tuệ.

2. Công khai các phán quyết của Tòa án.

Trong khuôn khổ WTO, tất cả các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ các quy định về công bố các phán quyết, quyết định của Toà án. Công bố các phán quyết, quyết định của Toà án nhằm công khai hoá toàn văn các phán quyết, quyết định của Toà án dưới dạng ấn phẩm hay internet hoặc dưới dạng cả hai phương tiện đến toàn thể công chúng, từ đó công chúng và các quan chức chính phủ có thể thấy được cách thức của Toà án áp dụng luật trong vụ án cụ thể.

Trong WTO, ở các quốc gia thành viên, Toà án đóng vai trò chính trong hệ thống luật pháp. Điều này được WTO ghi nhận và cụ thể hoá chúng trong điều 63 của TRIPs và điều 10 của GATT.
Đối với các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật (Common Law) theo thuyết Án lệ bắt buộc, các quyết định của Toà án cấp phúc thẩm đều được coi là nguồn luật mà Toà án sử dụng các bản án trong các vụ án trước để áp dụng cho các vụ án tương tự sau này. Vì vậy, việc công bố các bản án, quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa quan trọng như công bố pháp luật.

Đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), việc công bố các bản án quyết định của Toà án cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Để minh hoạ cho những lợi ích to lớn mà việc công bố các bản án, quyết định của Toà án mang lại cho một nền kinh tế, dù là quốc gia áp dụng hệ thống thông luật hay áp dụng hệ thống dân luật, chúng tôi viện dẫn 7 tác dụng dưới đây của nó đã được ngài Virginia Wise, Giảng viên luật, Trường luật Harward tổng kết trong Báo cáo về thực tế công bố các quyết định của Toà án ở một số nước điển hình và một số đề xuất với Việt Nam trong Dự án Star – Việt Nam tháng 12 năm 2001.

  1. Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định.
  2. Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử” và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý.
  3. Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề Toà án đã ra quyết định.
  4. Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo.
  5. Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (không tuỳ tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm.
  6. Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước trong khi áp dụng luật.
  7. Tăng cường công khai và rừ đó tăng được sự tự tin và tín nhiệm vào hệ thống Toà án.

Với những ý nghĩa trên đây, “Minh bạch hoá pháp luật, công bố công khai các phán quyết của Toà án” trong môi trường đầu tư và thương mại quốc tế có tác dụng to lớn không chỉ đối với các chủ thể tham gia vào các giao dịch quốc tế mà còn có tác dụng ngay cả với những thẩm phán của Toà án, nó hạn chế được sự tuỳ tiện hoặc lạm dụng của cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền thực thi pháp luật từ đó hạn chế được sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong việc áp dụng pháp luật.

Tóm lại, thực hiện cam kết “Minh bạch hoá pháp luật, công khai phán quyết của Toà án” không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý ổn định và dễ dự đoán cho các chủ thể thực hiện các giao dịch quốc tế mà còn có ý nghĩa khẳng định việc tuân thủ những nghĩa vụ đã được cam kết trong các Hiệp định quốc tế từ đó làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong các Hiệp định đó.

Để đảm bảo cho cơ chế này được thực thi, WTO quy định cơ chế kiểm điểm chính sách đã cam kết trong các điều ước mà họ tham gia, theo đó hàng năm các quốc gia thành viên phải kiểm điểm việc tuân thủ các yêu cầu của WTO đồng thời củng cố lại hệ thống pháp luật, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thành viên nhằm làm cho chúng phù hợp và tương thích với những quy định trong WTO và thông lệ quốc tế.

3. Thực trạng về “Minh bạch hoá và công khai các phán quyết của Toà án” tại Việt Nam

Trong những thập kỷ qua của thế kỷ XX, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường bằng việc thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế thông qua việc thúc đẩy tự do hoá thương mại khu vực và tham gia các liên kết kinh tế trong khu vực châu lục cũng như trên thế giới như: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1994, tham gia sáng lập Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1997. Đồng thời với việc gia nhập các liên kết kinh tế, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương với 86 nước, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ký Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 46 nước, ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước.

Trong các liên kết kinh tế và các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết, “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” cũng được quy định trong các liên kết kinh tế và trong các Hiệp định. Cụ thể, APEC quy định về nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch hoá “Mội luật lệ, chính sách hiện hành tại các quốc gia thành viên trong APEC phải được công khai minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các luật lệ chính sách”. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Chương VI điều 1 quy định: “Mỗi bên công bố một cách định kỳ và kịp thời tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung, liên quan đến bất kỳ vấn đề nào được quy định trong Hiệp định này…” , điều 6 quy định : “Các bên điều hành một cách thống nhất , vô tư và hợp lý tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung của mình thuộc tất cả các loại được nêu tại khoản 1 điều của điều này”. Khoản 3 điều 11 Chương II về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định cũng quy định rất cụ thể về việc cung cấp các phán quyết của Toà án cho các bên trong vụ kiện.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy Nhà nước Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ cũng như những cam kết về “Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” bằng việc đăng tải một cách công khai các luật, văn bản luật trên các phương tiện như Công báo và cơ sở dữ liệu luật của Quốc hội (lawdata). Ngoài việc công bố công khai các luật và văn bản pháp luật Việt Nam còn chuyển các dự thảo luật cho nhân dân lấy ý kiến trước khi các dự luật được Quốc hội chính thức thông qua và ban hành. Kết quả của “Minh bạch hoá pháp luật” đã cho phép Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển nền kinh tế bền vững, thúc đẩy đầu tư, thương mại và dịch vụ. Một trong những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đạt được là năm 2006 Việt Nam đã thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 10,2 tỷ Đô la Mỹ.

Cùng với “Minh bạch hoá pháp luật”, Tuy bị hạn chế về kỹ thuật và năng lực tài chính nhưng Ngành Toà án Việt Nam đã đăng tải hai tập các Bản án và Quyết định của Toà án cấp cao nhất năm 2003 – 2004. Việc đăng tải các bản án này của Ngành Toà án đã có tác dụng tích cực đối với xã hội nói chung và phát huy tác dụng đối với các thẩm phán, các luật sư, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà làm luật, cán bộ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nói riêng và giúp cho Việt Nam phát triển Án lệ trong quá trình hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.

“Minh bạch hoá pháp luật và công khai các phán quyết của Toà án” trong thời gian qua đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, là tiền đề cho việc thực hiện chỉ thị “Từng bước thực hiện công khai các bản án….” trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO./.

source: ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

HỆ THỐNG TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP TẠI ÚC

THS. HOÀNG VĂN TÚ – NGUYỄN TRƯỜNG GIANG  – Vụ pháp luật – Văn phòng Quốc hội

Từ năm 1901, nước úc thống nhất là một liên bang gồm 6 tiểu bang (Queensland, New South Wales, Victoria, Tasmania, South Australia, Western Australia) và hai khu tự trị (Canberra, North Australia). úc là một thuộc địa của Anh nên hệ thống chính trị và luật pháp của úc ảnh hưởng rất nhiều theo hệ thống pháp luật Anh quốc. Bên cạnh Chính phủ liên bang có Tổng toàn quyền liên bang là người đại diện duy nhất của Nữ hoàng Anh tại úc. Chính phủ tiểu bang của úc có các toàn quyền là người đại diện của Nữ hoàng Anh tại các tiểu bang. úc là một nước theo hệ thống pháp luật án lệ (Common LawSystem). Tuy nhiên, vẫn có những đạo luật do Quốc hội liên bang ban hành. Toàn quyền của úc được thành lập theo Hiến pháp và là một tổ chức quyền lực trong hệ thống bộ máy nhà nước. Các phán quyết của Toà án là biểu thị quyền t pháp. Các quan toà được Chính phủ đề nghị Tổng toàn quyền liên bang bổ nhiệm và phải làm tốt nhiệm vụ để

nhân dân tín nhiệm.

Hệ thống tổ chức toà án của úc được thành lập theo thẩm quyền của liên bang và tiểu bang. 

 – Tại liên bang có: Toà án tối cao liên bang (Hight Court), Toà án liên bang (Federal Court) và toà án gia đình và các toà chuyên biệt.

– Tại tiểu bang: Toà án thợng thẩm tiểu bang (Supreme Court), Toà án khu vực (County Court or District Court) và Toà tiểu hình mà mỗi tiểu bang có tên gọi khác nhau (Local Court, Magistrate’s Courts or Court of Summary Jurisdiction).

II/ Hệ thống toà án liên bang

1. Toà án tối cao liên bang

(Hight Court) được đặt tại thủ đô Canberra, có 7 vị quan toà được Tổng toàn quyền liên bang úc bổ nhiệm.Toà án tối cao liên bang có thẩm quyền sơ thẩm các vụ án tranh chấp giữa tiểu bang với tiểu bang hoặc giữa tiểu bang với liên bang, giải thích hiến pháp và phúc thẩm những vụ án do Toà án gia đình, Toà chuyên biệt, Toà liên bang và Toà thợng thẩm chuyển lên. Do luật án lệ, Toà án tối cao ở úc cũng giống như Toà án tối cao của nước Anh (Viện trưởng lão) chỉ xét xử những án xét cho chống án.

2. Toà liên bang

(Federal Court) được đặt tại bang New South Wales, Toà án liên bang được thành lập năm 1977 theo đạo luật do Quốc hội Liên bang ban hành năm 1976; có 48 vị quan toà được phân bổ rải rác cả nước, đứng đầu là chánh án toà liên bang. Trước năm 1990, Toà liên bang do Bộ t pháp quản lý. Ngày nay, Toà liên bang độc lập và chỉ phải báo cáo trước Quốc hội về công việc cũng như về ngân quỹ.

Toà án liên bang có thẩm quyền xử lý các loại việc theo luật liên bang quy định. Toà liên bang không xét xử về hình sự và cũng không hớng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, nhưng các bản án mà Toà liên bang đã xử là án lệ cho các toà án khác.

Toà liên bang xét xử phúc thẩm các vụ án do Toà án gia đình, các Toà chuyên biệt của liên bang gửi lên và xét xử phúc thẩm những vụ án có kháng án do Toà liên bang xử sơ thẩm. Khi xử sơ thẩm có một thẩm phán và khi xử phúc thẩm có ba thẩm phán. Để bảo đảm quyền bình đẳng của công dân được chống án đủ bốn cấp, Toà liên bang còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án do Toà thợng thẩm của hai khu tự trị gửi lên vì tại hai lãnh thổ liên bang này không có Toà án khu vực.

3. Toà gia đình

(Family Court) thuộc liên bang được thành lập từ năm 1975, trụ sở chính đặt tại New South Wales, có nhiều chi nhánh ở các bang khác, tất cả các vụ án về hôn nhân và gia đình của úc được xử sơ thẩm và phúc thẩm tại đây.

4. Các toà chuyên biệt

của liên bang như Toà khánh tận, Toà đất đai, Toà hành chính, Toà lao động, Toà xử những việc liên quan đến cựu chiến binh.. . xét xử sơ thẩm các loại việc đúng như tên gọi của nó. Bản án sơ thẩm của toà chuyên biệt có kháng cáo thì Toà

liên bang xét xử phúc thẩm.

III. Hệ thống toà án tiểu bang

1. Toà thượng thẩm

(Supreme Court) được đặt tại các tiểu bang, có 9 thẩm phán chuyên xử phúc thẩm và nhiều thẩm phán khác xét xử sơ thẩm.

Toà thượng thẩm có quyền xét xử sơ thẩm về hình sự đối với các vụ án nghiêm trọng như giết người, xâm phạm an ninh quốc gia và các tội về ma tuý có số lượng lớn, xét xử các tranh chấp dân sự (bao gồm cả kinh tế, thơng mại) có giá trị từ 750.000 ASD trở lên.

Toà thượng thẩm xét xử các phúc thẩm các vụ án có kháng cáo của Toà án khu vực chuyển lên và các vụ án do Toà thợng thẩm xử sơ thẩm.

Những trường hợp đặc biệt, Toà thượng thẩm xét xử phúc thẩm các vụ án mà toà tiểu hình (Local Court) có kháng cáo.

Những án lệ và những đạo luật quy định (nh trách nhiệm lao động, bồi thường thiệt hại, khiếu nại luật s..) được Toà thợng thẩm áp dụng để xét xử. Nếu án sơ thẩm xử theo quy định nào thì phúc thẩm xét xử theo quy định ấy.

Toà Thợng thẩm khi xét xử sơ thẩm có một thẩm phán và có bồi thẩm đoàn gồm 12 người tham dự. Khi phúc thẩm án của Toà khu vực cũng có một thẩm phán nhng khi phúc thẩm các án do Toà thượng thẩm xử sơ thẩm thì có hội đồng gồm 3 thẩm phán. Những vụ án phức tạp thì hội đồng có thể là 5 hoặc 7 thẩm phán.

Khi xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử lại toàn bộ vụ án chứ không xét riêng nội dung mà bị cáo chống án.

2. Toà khu vực

(District Court) được đặt tại khu vực của tiểu bang (ở tiểu bang New South Wales có khoảng 6 triệu dân, có 5 Toà khu vực), số lượng thẩm phán được bổ nhiệm và bố trí theo yêu cầu.Toà khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có khung hình phạt từ 2 năm tù trở lên, trừ các vụ án giết người, xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm ma tuý có số lượng lớn; sơ thẩm các tranh chấp dân sự có giá trị từ 40.000- 750.000 ASD; xử phúc thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của toà tiểu hình có kháng cáo. Toà khu vực xét xử sơ thẩm về hình sự gồm một thẩm phán và bồi thẩm đoàn gồm 12 người, trờng hợp bị cáo từ chối sự có mặt của bồi thẩm đoàn thì chỉ có 1 thẩm phán xử (quy định này được áp dụng cho cả các phiên toà sơ thẩm hình sự thuộc thẩm quyền của Toà thượng thẩm).

Ngoài việc xét xử phúc thẩm các vụ án do toà tiểu hình xử sơ thẩm, toà khu vực còn có quyền xét vụ án do toà tiểu hình xử sơ thẩm có được chống án hay không, nếu toà khu vực không cho chống án thì bản án sơ thẩm của toà tiểu hình có hiệu lực pháp luật.

3. Toà tiểu hình

(Local Court) được đặt rải rác ở các khu vực thuộc tiểu bang. Toà tiểu hình được thành lập theo khu vực dân c với nguyên tắc cứ 5000 dân có một toà tiểu hình (tiểu bang New South Wales có 161 toà tiểu hình). Số lượng các thẩm phán được bổ nhiệm theo yêu cầu. Toà tiểu hình có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự có khung hình phạt từ hai năm tù trở xuống và xét xử các tranh chấp có giá trị từ 40.000 ASD trở xuống. Những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của toà cấp trên cũng được xem xét sơ bộ tại Toà tiểu hình xem có quyết định truy tố tại toà cấp trên hay không.

Tại úc, 95% các sự việc được giải quyết tại toà tiểu hình.

4. Các toà chuyên biệt của tiểu bang bao gồm: Toà bồi thường, Toà vị thành niên.. xét xử những loại việc ngoài thẩm quyền của Toà tiểu hình, Toà khu vực và Toà thượng thẩm. Những bản án của các toà này có thể được chống án lên toà tiểu hình, Toà khu vực và Toà thượng thẩm.

Những vụ án không rõ thẩm quyền, pháp luật cho phép các thẩm phán của tiểu bang và liên bang thoả thuận giao cho toà nào xử (thông thường các vụ án mà đương sự ở hai tiểu bang khác nhau thì toà án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết).

IV . Thẩm phán- bồi thẩm đoàn- đoàn luật sư – công tố và cảnh sát

1. Thẩm phán

Nguồn bổ nhiệm thẩm phán tại các toà án của úc chủ yếu được lấy từ đội ngũ luật sư và trạng sư. Riêng Toà tiểu hình hoặc Toà khu vực còn lấy từ các lục sự lâu năm có kinh nghiệm.

Về tiêu chuẩn: Thẩm phán tại úc dựa trên năng lực, đạo đức và tôn trọng quyền lợi của  nhân dân. Khi cần bổ nhiệm thẩm phán, Chính phủ thông báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng để các luật s, trạng sư biết được tiêu chuẩn, số lượng thẩm phán đang cần. Những người có đầy đủ tiêu chuẩn và tình nguyện làm đơn gửi tới Chính phủ xem xét. Các ứng cử viên thẩm phán phải qua một cuộc phỏng vấn (tổ chức phỏng vấn ở các tiểu bang và ở liên  bang gồm Chánh toà, Bộ t pháp, Luật sư đoàn, Trạng sư đoàn), thẩm phán ở bang nào do Bộ t pháp của bang đó đề nghị và Toàn quyền bang đó bổ nhiệm. Sau khi bổ nhiệm, Toà nào thiếu thì thẩm phán mới được điều động đến toà án đó. Thẩm phán tại các Toà thuộc liên

bang do Tổng toàn quyền liên bang bổ nhiệm. Thẩm phán ở úc được bổ nhiệm suốt đời, tuổi phục vụ của các thẩm phán tiểu bang không quá 72 và thẩm phán liên bang không quá 73. Các thẩm phán được bổ nhiệm thường bước vào tuổi 40 hoặc 50; ở những vùng đô thị lớn, thẩm phán tại các toà khu vực và toà tiểu hình cứ 3 năm lại thay đổi nơi công tác nhưng ở các vùng xa xôi hẻo lánh thì không theo quy định này.

Không ai có thể cách chức được thẩm phán trừ khi họ vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp, vi phạm đạo đức. Khi bãi nhiệm thẩm phán phải đa ra trước Quốc hội tiểu bang hoặc liên bang với đa số phiếu tán thành thì thẩm phán đó mới phải bãi nhiệm. Lịch sử ngành Toà án úc từ trước tới nay mới có hai thẩm phán tự từ chức khi có các khiếu kiện (trong đó có 1 thẩm phán phải đa ra trước Quốc hội, nhưng không bị miễn nhiệm và sau đó ông ta từ chức).

Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ căn cứ vào án lệ hoặc các đạo luật để quyết định. Khi quyết định, thẩm phán giải thích lý do tại sao phải quyết định như vậy. Tại phiên toà, thẩm phán có thể bị thay đổi khi có lý do sau:

+ Thẩm phán đồng thời là nhân chứng;

+ Thẩm phán là người thân thích với đương sự hoặc bồi thẩm nhân dân.

Khi xử một người phạm nhiều tội, thẩm phán có quyền tổng hợp hay không tổng hợp hình phạt mà không coi là vi phạm pháp luật. ở úc hiện nay không có hình phạt tử hình, nên hình phạt cao nhất là tù chung thân. Hàng năm không có việc xét giảm hoặc ân xá mà việc này được thẩm phán quy định ngay trong bản án. Nếu một người bị phạt tù chung thân, nếu trong bản án thẩm phán ghi phải ngồi tù được ít nhất 10 năm mới được ân xá, thì người đó có thể được tha sau khi đã thụ hình được 10 năm. Nhng nếu thẩm phán không ghi thêm câu nào tức là người đó phải ở tù suốt đời.

Năm 1982-1983 ở úc mới thành lập Viện quản lý t pháp, huấn luyện cho thẩm phán mới vào nghề và đang hành nghề. Thời gian tập huấn tối đa 3 ngày trong một năm, nội dung chủ yếu là cập nhật pháp luật, các kiến thức về văn hoá- xã hội- tập quán địa phơng và sử dụng công nghệ kỹ thuật.

2. Bồi thẩm đoàn

Bồi thẩm đoàn là những người dân sinh sống tại địa phơng có trong danh sách cử tri (18 tuổi trở lên) do Chính phủ quản lý khi bầu cử. Danh sách này được Toà án chọn làm bồi thẩm cho từng vụ xét xử. Những người dị tật, bị phá sản, bị tội hình sự hoặc những người đã học luật, nghị sĩ, luật sư, cảnh sát, công tố, quan toà.. . không được chọn làm bồi thẩm đoàn.

Trong những ngày làm nhiệm vụ bồi thẩm được trả lơng bất kể thời gian xử dài hay ngắn. Khi xét xử sơ thẩm từ cấp toà khu vực trở lên mới có bồi thẩm đoàn. Số lượng bồi thẩm đoàn là 12 người cho mỗi vụ án hình sự và 4 người cho vụ án dân sự. Việc có bồi thẩm đoàn hay không trong vụ xử hoàn toàn phụ thuộc vào ý nguyện của bị cáo. Nếu bị cáo từ chối không có bồi thẩm đoàn cũng được toà án chấp nhận. Khi xét xử, bồi thẩm đoàn quyết định về dữ kiện, quyết định có tội hay không có tội mà không cần phải giải thích lý do. Nếu ý kiến của các thành viên trong bồi thẩm đoàn trái ngược nhau, toà tuyên hoãn xử và triệu tập bồi thẩm đoàn khác, và lần này ông Trưởng công tố sẽ quyết định xử lại hay bỏ luôn mặc dù sau này có điều tra thêm chứng cứ khác.

Thông thường ý kiến của bồi thẩm đoàn là tuyệt đối 100%, riêng ở bang New South Wales nếu trong đoàn bồi thẩm có một vị không đồng ý, Toà vẫn có thể xử.

3. Luật sư – Trạng sư

– Luật sư (Solicitor) là người t vấn chuẩn bị hồ sơ cho công tố, quan toà, cho đương sự, bị cáo hoặc cho các công ty.. .

– Trạng sư (Barrister) là người biện hộ tại Toà.

Tại úc, luật sư, trạng sư có vai trò rất lớn, luật sư và trạng sư giúp đỡ các vấn đề về công tố, t tố cho bị cáo và đương sự. Luật sư có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để trình toà. Hầu hết các vụ án đều có luật s, trạng s. ở úc có tổ chức luật sư để giúp dân nghèo không có điều kiện thuê luật sư vì tiền công thuê luật sư rất đắt. Bên nào thua kiện thì phải chịu

chi phí cho bên thắng kiện kể cả tiền thuê mớn luật sư. Luật sư khi hành nghề phải được cấp giấy phép. Gấy phép hành nghề của luật sư do đoàn luật sư cấp và Bộ t pháp chứng nhận. Luật sư đăng ký hành nhề tại tiểu bang nào chỉ được

hành nghề tại tiểu bang ấy. Khi có các vụ án mà đương sự ở các tiểu bang khác nhau, thì luật sư đại diện cho đương sự tại tiểu bang này phải liên hệ với luật sư ở tiểu bang mà tại đó toà án trực tiếp xét xử làm đại diện. Không làm như vậy, nếu thắng kiện cũng khó đòi được tiền bồi thường.

4. Công tố và cảnh sát t pháp

– Viện công tố có trách nhiệm truy tố bị can ra toà. ở úc công tố đa ra toà từ cấp toà khu vực trở lên.

– Cảnh sát t pháp (cũng được học luật và những kỹ năng cần thiết), truy tố bị ban, bị cáo ra trước toà tiểu hình. Ngoài ra, họ còn có trách nhiệm đa trát hầu toà, thông báo buộc thi hành án và trực tiếp thi hành án (trước đây, theo luật án lệ, ở úc không được đa trát hầu toà vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ, nhng nay quy định này đã bị bãi bỏ, trát hầu toà có thể đa bất kỳ ngày nào).

V. Trình tự thủ tục tố tụng tại toà

Theo pháp luật úc, cho đến khi mở phiên toà, thẩm phán không đọc trước và không biết gì về nội dung vụ án. Theo lịch phân công, khi được giao hồ sơ, lúc đó thẩm phán mới biết mình chịu trách nhiệm xử vụ nào.

1. Đối với các vụ án hình sự

Tại úc, 95% vụ án hình sự trước tiên được giải quyết tại Toà tiểu hình. Khi một người có tội đa đến toà, việc đầu tiên là lấy dấu vân tay của người đó lu vào hồ sơ. Sau đó, Toà tiểu hình xác định hành vi tội phạm đó thuộc thẩm quyền của toà nào. Nếu hành vi phạm tội đó được quy định có khung hình phạt từ hai năm tù trở lên thì Toà tiểu hình gửi hồ sơ vụ án sang Viện công tố để truy tố trước toà khu vực. Nếu hành vi phạm tội thuộc khung hình phạt dới hai năm tù, toà án sẽ ấn định ngày xử chính thức. Khi xét xử, công tố viên (thường là trạng sư công tác tại Viện công tố) đọc bản cáo trạng về hành vi phạm tội, trình toà các chứng cứ thu thập được. Sau đó, luật sư đại diện cho bị can, bị cáo trình bày và đa ra chứng cứ của mình; chứng cứ có thể là vật, lời khai của nhân chứng. Nếu nhân chứng có mặt tại tại toà, họ được bố trí ngồi cách biệt tại phòng bên cạnh. Khi cần đến lời khai của họ mới được nhân viên của toà dẫn vào phòng xử. Trước tiên, nhân chứng phải đặt tay lên quyển kinh thánh và thề nói sự thật. Thủ tục này rất uyển chuyển vì úc là một nước đa sắc tộc nên có nhiều người theo các tôn giáo khác nhau. Nếu không phải là người công giáo thì toà án cho phép họ thề theo cách riêng của họ. Có trường hợp, nhân chứng ở một nước khác nhng do kỹ thuật thông tin hiện đại nên có thể toà lấy lời khai của họ qua cầu truyền hình. Trong suốt quá trình xử án, thẩm phán nói rất ít và thường là nhắc nhở các bên đa ra các câu hỏi và trả lời đúng nội dung vụ án và giữ gìn trật tự phiên toà. Chính vì vậy, việc xét xử tại toà án của người úc, người ta chỉ dùng từ

“Nghe” (Hearing). Sau khi nghe các bên trình bày, tranh luận, thẩm phán xem xét chứng cứ có được thu thập một cách hợp pháp hay không, có phù hợp với sự thật vụ án hay không, sau đó tuyên án. Trong bản án, thẩm phán phải ghi rõ lý do tại sao lại quyết định như vậy. Đối với các vụ án có bồi thẩm đoàn, khi bồi thẩm đoàn nghe toàn bộ nội vụ án quyết định là có tội thì thẩm phán quyết định áp dụng pháp luật và tuyên án. Trong bản án thẩm phán có thể ghi thời hạn tối đa và thời hạn tối thiểu chấp hành hình phạt. Trong trường hợp ấy, khi bị cáo chấp hành hết thời hạn tối thiểu, nếu chấp hành tốt có thể được trả tự do sớm, phần thời gian còn lại coi như hưởng án treo.

Thời gian kết thúc một vụ xử tuỳ theo tính chất, mức độ phạm tội. ở toà tiểu hình có thể một ngày thẩm phán có thể giải quyết đến 40- 50 vụ, nhng cũng có vụ phải xử hàng tuầu lễ.

2. Đối với các tranh chấp dân sự

Các tranh chấp dân sự ở úc có đến 95% được giải quyết theo hớng khác (ngoài toà án) vì các lý do sau:

– Đỡ tốn kém;

– Giải quyết được nhanh chóng;

– Giữ được mối quan hệ giữa các đương sự (nhất là các vụ án thơng mại- kinh tế. ở úc quy định tất cả các vụ án nếu không là hình sự đều là dân sự).

– Thoả mãn được yêu cầu của các bên, vì vậy dễ thi hành án.

Có bốn cách giải quyết theo hướng khác:

a/ Thương lượng (Negotiation)

Các bên tranh chấp tự nguyện thơng lượng về cách giải quyết mà không có thể thức đặc biệt nào.

b/ Điều đình qua trung gian (Mediation)

Hai bên tranh chấp có thể nhờ một người thứ ba làm trung gian để đàn phán khi họ không tự thương lượng được. Người điều đình trung gian này có thể bất kỳ là người nào nhưng họ phải có uy tín, có kinh nghiệm và hiểu biết pháp luật giúp các bên tìm hướng giải quyết tranh chấp.

c/ Hoà giải (Conciliation)

Cũng là người thứ ba giúp đỡ hai bên, họ có thể nêu hớng giải quyết để các bên tranh chấp lựa chọn.

d/ Trọng tài (arbitation)

Cũng là biện pháp hoà giải nhng có mặt của trọng tài (người trọng tài thường là các trạng sư, luật sư); khi các bên đồng ý thoả thuận về cách giải quyết tranh chấp, trong tài ra quyết định và mọi người buộc phải tuân theo. Các quyết định của trọng tài nếu hai bên không đồng ý có thể ra toà và toà án chỉ xem xét việc trọng tài có áp dụng đúng pháp luật hay

không (ở úc, các quyết định của trọng tài quốc tế đều được thi hành, nhng các quyết định của trọng tài trong nước toà án có thể bác bỏ).

Nếu các bên không thoả thuận được cách giải quyết tranh chấp theo các hướng trên, hai bên có thể kiện ra toà để xét xử. Trước khi xét xử, toà án vẫn có thể tiến hành hoà giải, trong các toà án có một số quan toà, lục sự được huấn luyện phương pháp hoà giải nên nhiều vụ tranh chấp dù đã kiện ra toà vẫn được giải quyết bằng hoà giải. Có thể đến đây, đựơc sự

phân tích của các quan toà, lục sự, các đương sự mới nhận thấy được lợi ích của họ được bảo đảm khi hào giải.

e/ Tố tụng tại toà án

Quy định tố tụng tại toà về vụ án dân sự theo pháp luật úc cũng rất ngắn. Phiên toà diễn ra thế nào theo án lệ, luật pháp và các thông lệ. Toà án theo mong muốn của hai bên, yêu cầu của trạng sư hai bên. Tiến trình vụ án tiến hành nhanh hay chậm đều do trạng sư của hai bên quyết định. Khi trạng sư của một bên thấy có những điều bất lợi cho thân chủ thì

họ thường tìm cách trì hoãn, lúc đó toà can thiệp, nhắc nhở. Khi nhận đủ hồ sơ về vụ kiện, toà án quyết định ngày xét xử. Việc này được quy định chung cho các vụ án dân sự. Vì vậy, chúng tôi lấy trình tự giải quyết một vụ án kinh tế làm điển hình.

Trình tự tố tụng vụ án kinh tế

Bước 1:

Khi có những bất đồng trong hợp đồng, các bên đều mời luật sư đại diện cho mình tham gia tố tụng. Luật sư của bên nguyên gửi thư cho bên bị trình bày việc chuẩn bị kiện ra toà vì không tuân thủ hợp đồng. Nội dung thư cũng nêu rõ quyền của luật sư được thân chủ mời làm đại diện trong vụ kiện đồng thời nêu rõ nội dung tranh chấp và hẹn ngày giải

quyết. Nếu quá thời hạn trên sẽ kiện ra toà. Thường thì thư này không được bên bị trả lời, nếu có trả lời thì cũng do luật sư của họ thảo và trong th cũng nêu rõ lý do pháp lý để giải thích và không quên kèm theo câu “nếu chúng tôi thắng kiện, không những các ngài phải bồi thường mà còn phải chịu toà bộ chi phí”. Rất hiếm khi vụ tranh chấp được giải quyết tại

bước này.

Bước 2: Trát gọi hầu toà

Nguyên đơn khi đến toà nộp hồ sơ vụ kiện phải nộp lệ phí 3.320 ADS để lấy đựoc trát gọi hầu toà.

Nội dung của trát gọi hầu toà:

– Tên của các bên tranh tụng;

– Nội dung của sự việc (nêu vắn tắt nội dung tranh chấp, nếu là vụ kiện đòi trả nợ thì phải ghi rõ số tiến và quy định bên thua kiện sẽ phải chi phí và lãi suất, việc quy định mốc thời gian để tính lãi suất do phiên toà);

– Ngày giờ có mặt tại phiên toà;

– Chi tiết cụ thể của vụ án và những quy định của pháp luật;

– Đòi hỏi của nguyên đơn (tơng đối chi tiết).

Thí dụ: Nếu là tranh chấp hợp đồng phải ghi rõ hợp đồng đựơc ký kết như thế nào, quá trình thực hiện, hợp đồng viết tay hay hợp đồng miệng, địa điểm ký. Nội dung vi phạm, những yêu cầu để toà giải quyết. Ngoài ra, trong trát này cũng phải nêu địa vị hợp pháp của bên đi kiện. Toà yêu cầu trát này phải được đa tận tay bị đơn, nếu là công ty thì gửi cho người tiếp dân.

Bước 3: Hướng dẫn tại Toà

Toà triệu tập các bên tranh chấp để nghe các bên trình bày quan điểm của mình để xem xét các vấn đề: liệu hai bên có thực sự tranh chấp? Nội dung của sự tranh chấp? Liệu có khả năng giải quyết bằng hoà giải? Bên kia có chấp nhận sự cáo buộc hay còn khiếu nại? Có thể ngoài hợp đồng còn có nội dung nào khác nữa? Nếu toà thấy rõ ràng có sự tranh chấp, yêu cầu bị đơn trình bày. Bị đơn trình bày đúng các phần mà phía nguyên đơn đã nêu, nhng trước khi trình bày phải khẳng định có chấp nhận sự cáo buộc hay không. Bị đơn có thể trình bày những phần mà nguyên đơn không nêu. Sau đó, toà ấn định thời gian hớng dẫn lần 2. Trong lần hớng dẫn này toà yêu cầu các bên phải nộp tài liệu cũng như thẩm định các tài liệu đó. Tài liệu mà các bên nộp cho toà đều phải gửi đến bên kia. Qua bước này toà ấn định ngày đa vụ án ra xét xử.

Bước 4: Điều tra phát hiện

Việc điều tra phát hiện các chứng cứ trong các vụ án dân sự, pháp luật úc quy định không phải là việc của Toà án mà hoàn toàn thuộc trách nhiệm của các bên tranh tụng. Vì vậy, để bảo đảm cho vụ kiện thắng lợi, luật sư của hai bên phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ. Càng có nhiều chứng cứ khả năng thắng lợi tại toà càng nhiều. Quá trình này không những tốn kém về thời gian mà còn tốn kém cả về tiền bạc. Một trong các phơng án xây dựng hồ sơ là phỏng vấn, luật pháp quy định (tại toà thợng thẩm) mỗi bên được hỏi bên kia 30 câu, nếu quá 30 câu phải xin phép toà để họ trả lời. Luật sư phải là người đặt câu hỏi, vì vậy luật sư không chỉ là người hiểu biết pháp luật mà còn có kỹ năng đặt câu hỏi sao cho việc trả lời ngắn gọn mà lại thu được nhiều thông tin nhất. Khi đã có các câu hỏi, bên kia có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đồng thời đây cũng là tài liệu được trình toà. Mỗi câu trả lời đều có lời thề và chứng nhận của luật sư.

Nếu nguyên đơn không trở lời các câu hỏi, toà đình chỉ vụ án. Nếu bị đơn không trả lời, toà tuyên bố nguyên đơn thắng kiện. Ngoài việc đặt câu hỏi, luật sư của các bên có trách nhiệm thu thập tài liệu, tìm nhân chứng. Các tài liệu quá 6 tháng trước khi xảy ra tranh chấp luật sư có thể thu hồi hoặc yêu cầu thân chủ thu hồi. Những tài liệu không thu hồi được cũng phải nêu rõ quá trình tìm kiếm và thu hồi nhng không có kết quả. Khi đã thu thập được chứng cứ, tài liệu, luật sư lên danh sách các tài liệu trình toà, tài liệu phải được sắp xếp theo thời gian phù hợp với quá trình tranh chấp. Các tài liệu phải được

ghi rõ: tên văn kiện, ngày tháng, số liệu… Khi trình toà đồng thời phải gửi cho bên kia. Làm như vậy các bên đều biết rõ về nội dung các tài liệu trình toà và khi thẩm phán quyết định một vấn đề nào đó họ không bị bất ngờ. Nếu một bên cố tình giấu giếm chứng cứ khi ra toà mới trình sẽ không được chấp nhận. Không phải tài liệu, chứng cứ nào cũng phải trình toà mà có những tài liệu được miễn.

Những tài liệu đó thường là:

– Các tài liệu trong đó có các lời khuyên của thân chủ;

– Những tài liệu nào mà một bên cho rằng là bảo mật mà nội dung không chỉ liên quan đến vụ án. Khi nộp hồ sơ, chứng cứ cho toà án, các bên đều phải có lời tuyên thệ cam đoan không có chứng cứ, tài liệu nào nữa.

Bước 5: Thủ tục tại toà

Mở đầu phiên toà là lời cáo buộc của nguyên đơn, kèm theo lời cáo buộc có các bằng chứng (gồm hồ sơ và người làm chứng).

Lời đáp của bị đơn, ngoài bằng chứng trả lời nguyên đơn, bị đơn còn đa ra các bằng chứng của mình (cũng gồm hồ sơ và người làm chứng).

Các trạng sư đối chứng tài liệu bằng cách phỏng vấn người làm chứng của hai bên. Việc đưa nhân chứng thường diễn ra vào ngày đầu tiên của vụ xử. Trước hết là nhân chứng của nguyên đơn, sau đó là nhân chứng của bị đơn. Thẩm phán có nhiệm vụ xem xét các chứng cứ của hai bên thu thập hợp pháp hay không và kết luận chứng cứ nào có giá trị. Căn cứ vào chứng cứ, thẩm phán thấy lý thuộc về bên nào (66% có lý) tuyên bố bên đó thắng kiện.

source: CHƯA XÁC ĐỊNH

NGUYÊN TẮC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TOÀ ÁN NƯỚC NGOÀI, TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

hands-globe.jpgNÔNG QUỐC BÌNH

Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự, của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài là một vấn đề quan trọng trong tố tụng dân sự, theo đó các phán quyết của toà án hoặc của trọng tài một nước sẽ có thể được công nhận và thi hành ở nước khác. Trong bối cảnh của quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng thì vấn đề công nhận và cho thi hành các phán quyết của toà án và trọng tài nước ngoài là vấn cần được quan tâm. Để đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong tố tụng dân sự, trên cơ sở chủ quyền quốc gia, việc công nhận, thi hành phán quyết của toà án, trọng tài nước ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những vấn đề pháp lý liên quan tới thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước được quy định tại Phần thứ sáu của Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Trên cơ sở các quy định của phần thứ sáu BLTTDS, bài viết này xin đề cập tới một số quy định có tính nguyên tắc trong việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên.

1. Toà án của Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài phù hợp với quy định của điều ước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập

Tôn trọng các cam kết quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Theo đó tất cả các thành viên của điều ước quốc tế phải tự nguyện tuân thủ những điều đã cam kết.

Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn tôn trọng nguyên tắc này. Để khẳng định việc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng cam kết quốc tế, pháp luật Việt Nam đã quy định: Trong trường hợp có sự khác nhau giữa pháp luật trong nước và điều ước quốc tế thì áp dụng điều ước quốc tế. Nội dung thể hiện sự tôn trọng điều ước quốc tế này được quy định trong Khoản 3 Điều 2 của BLTTDS và trong nhiều quy định của một số văn bản pháp luật khác như: Khoản 2 Điều 827 Bộ luật dân sự,(1) khoản 2 Điều 5 Luật cạnh tranh…

Trên cơ sở của khoản 3 Điều 2 của BLTTDS, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế trong việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, đã được cụ thể hoá trong BLTTDS như sau:

Thứ nhất, đối với bản án hoặc quyết định dân sự của toà án nước ngoài tuyên. Các bản án và quyết định của toà án nước ngoài sẽ được toà án Việt Nam xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu bản án hoặc quyết định dân sự đó được tuyên bởi toà án của nước ký kết với Việt Nam một điều ước quốc tế có quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của nhau hoặc cùng Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế về vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự (Điều 343 BLTTDS).

Trên thực tế Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế tay đôi về tương trợ tư pháp và pháp lý(2) (HĐTTTP). Trong các HĐTTTP này Việt Nam đã thoả thuận với các nước ký kết đối với việc công nhận và cho thi hành bản án và quyết định dân sự của nhau trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở quy định của HĐTTTP, nội dung quy định về vấn đề này được thực hiện theo nguyên tắc những phán quyết của toà án của nước ký kết này sẽ được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của nước ký kết kia. Theo đó các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ký kết này sẽ được mặc nhiên công nhận và cho thi hành ở nước ký kết kia. Ví dụ: Điều 46, 47 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Cu Ba; Điều 51 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Hunggari; Khoản 1, 2 Điều 44 của HĐTTTP giữa Việt Nam và Lào; Điều 51, 52, 53 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Liên bang Nga; Điều 15 HĐTTTP giữa Việt Nam với Trung Quốc; Điều 21 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Cộng hoà Pháp ; Điều 56, 57, 58 HĐTTTP giữa Việt Nam với Cộng hoà Bêlarut…

Theo quy định tại khoản 5 Điều 343 BLTTDS thì trong trường hợp Việt Nam ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài thì bản án hoặc quyết định dân sự do toà án nước là thành viên của điều ước quốc tế tuyên sẽ được mặc nhiên công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu không có yêu cầu yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận.

Thứ hai, đối với quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 343 BLTTDS thì có thể nói toà án của Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài trong hai trường hợp.

Trường hợp thứ nhất, quyết định của trọng tài được tuyên tại nước là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong trường hợp này dấu hiệu nơi trọng tài tuyên được coi là dấu hiệu để xác định thẩm quyền của toà án Việt Nam trong việc xem xét, công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài. Trên thực tế, khi thoả thuận về trọng tài các bên có thể chọn ra loại trọng tài (trọng tài thiết chế hoặc trọng tài ad-hoc) đồng thời có thể thoả thuận cả nơi trọng tài sẽ tiến hành xét xử, đặc biệt là đối với trường hợp chọn trọng tài ad-hoc. Vì vậy, trong trường hợp này, nếu nơi tiến hành xét xử là nước thuộc thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì phán quyết của trọng tài đó có thể được toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Trường hợp thứ hai, quyết định trọng tài được tuyên bởi trọng tài của nước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Trong quan hệ quốc tế về vấn đề này, năm 1995 Việt Nam đã gia nhập Công ước New- York (1958) về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài(3). Tuy nhiên, trong quá trình gia nhập Công ước này Việt Nam đưa ra 3 điều bảo lưu cơ bản đó là: a) Công ước chỉ được áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Công ước; b) Công ước chỉ được áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại; c) Mọi sự giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Chúng tôi cho rằng vào thời điểm gia nhập Công ước này các đây 10 năm việc Việt Nam đưa ra 3 điều bảo lưu như trên là cần thiết. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc bảo lưu này cần được nghiên cứu xem xét thêm.

2. Toà án Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự, đặc biệt là của nguyên đơn trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoài, trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy định việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên. Về vấn đề này, BLTTDS quy định toà án xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự khi bản án và quyết định dân sự đó nếu được pháp luật Việt Nam công nhận và cho thi hành (Điều 343 BLTTDS).

Trong BLTTDS không quy định cụ thể loại bản án, quyết định dân sự nào của toà án nước ngoài tuyên hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên sẽ được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong BLTTDS lại quy định rất cụ thể các loại bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài cũng như quyết định của trọng tài nước ngoài sẽ không được toà án của Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Thứ nhất, đối với việc không công nhận và thi thành các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài.

Trên cơ sở nội dung quy định tại Điều 356 BLTTDS thì các bản án và quyết định dân sự của toà án nước ngoài sau đây sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

– Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật nước có toà án đã ra bản án hoặc quyết định đó;

– Người phải thi hành hoặc người đại diện của người đó đã vắng mặt tại toà án nước ngoài vì đa không được triệu tập hợp lệ;

– Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam;

– Vụ án đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của toà án Việt Nam hoặc vụ án của toà án nước ngoài đã được toà án Việt Nam công nhận hoặc vụ án mà trước khi toà án nước ngoài thụ lý, toà án Việt Nam đã thụ lý và đang trong giải quyết vụ án đó;

– Bản án, quyết định dân sự đã hết hiệu lực thi hành theo pháp luật của nước có toà án đã ra bản án, quyết định đó hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam;

– Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, đối với việc không xem xét công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 370 BLTTDS, toà án của Việt Nam sẽ không xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của Trọng tài nước ngoài sau đây:

– Quyết định trọng tài dựa trên ký kết thoả thuận trọng tài của các bên không đủ năng lực hành vi ký kết theo quy định của pháp luật áp dụng cho mỗi bên.(4)

Quy định này được hiểu là các bên ký kết phải đủ năng lực hành vi ký kết. Như vậy, nếu một trong các bên không đủ năng lực hành vi ký kết thỏa thuận trọng tài thì phán quyết của trọng tài dựa trên cơ sở thỏa thuận đó cũng sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Theo quy định này thì pháp luật áp dụng để xác định năng lực hành vi ký kết thỏa thuận trọng tài của các bên là luật quốc tịch của các bên. Theo đó luật quốc tịch sẽ là cơ sở pháp lý để xác định tính năng lực hành vi ký kết của mỗi bên.

– Quyết định của trọng tài dựa trên sự thoả thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài(5). Trường hợp này có thể xảy ra khi:

+ Trái với luật mà các bên đã thoả thuận áp dụng;

+ Trái với luật nước nơi ra quyết định trọng tài (nếu các bên không chọn luật áp dụng).

– Quyết định trọng tài đã vi phạm thủ tục tố tụng(6). Ví dụ người phải thi hành quyết định trọng tài đã không được thông báo kịp thời và hợp thức đối với việc chỉ định trọng tài viên hoặc thông được thông báo về thủ tục giải quyết tranh chấp tại trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng mà người phải thi hành đã không được thực hiện quyền tố tụng trong trọng tài của mình(7) hoặc thành phần, thủ tục trọng tài nước ngoài đã không phù hợp với thỏa thuận trọng tài.

– Quyết định của trọng tài nằm ngoài yêu cầu giải quyết của các bên hoặc vượt quá yêu cầu của các bên trong thoả thuận trọng tài(8).

– Quyết định của trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên hoặc bị cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ hoặc đình chỉ thi hành(9).

– Quyết định của trọng tài nước ngoài không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam hoặc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam(10).

3. Toà án Việt Nam có thể công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài trên cơ sở có đi có lại

Có đi có lại là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế. Nguyên tắc này thường được áp dụng trong trường hợp không có điều ước quốc tế. Theo nguyên tắc có đi có lại thì một nước này sẽ áp dụng cho thể nhân hoặc pháp nhân nước khác một chế độ pháp lý nhất định giống như chế độ pháp lý mà thể nhân hoặc pháp nhân của nước này được hưởng tại nước khác đó. Chế độ pháp lý nhất định trong trường hợp này thông thường là chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hoặc chế độ đãi ngộ quốc gia hoặc một số ưu đãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên tắc có đi có lại cũng có thể dùng để hạn chế quyền lợi của thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài tại nước sở tại. Theo đó nếu một nước đơn phương không áp dụng chế độ có đi có lại hoặc hạn chế quyền lợi của công dân một nước thì nước có công dân bị hạn chế quyền lợi sẽ áp dụng biện pháp trả đũa bằng cách hạn chế ngay những quyền lợi tương tự đối với công dân của nước kia.

Nguyên tắc có đi có lại được áp dụng trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được quy định tại khoản 3 Điều 343 BLTTDS. Về mặt lý luận cũng như thực tế, nguyên tắc có đi có lại được áp dụng mà không đòi hỏi phải Việt Nam và các nước hữu quan phải là thành viên của điều ước quốc tế về vấn đề này. Trên cơ sở lý luận về nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ quốc tế, về vấn đề này có thể được hiểu là toà án của Việt Nam có thể công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài của một nước khi toà án nước này đã công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của toà án Việt Nam hoặc quyết định của trọng tài Việt Nam.

4. Bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi đã được toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành

Thi hành quyết định của toà án hoặc phán quyết của trọng tài có một ý nghĩa quan trọng. Theo đó quyền lợi của bên bị hại sẽ được thực hiện. Trong quan hệ quốc tế, việc cho thi hành một bản án của toà án hoặc một quyết định của trọng tài nước ngoài không chỉ thể hiện quan điểm của toà án nước cho thi hành bản án đối với việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bị hại mà còn thể hiện sự tôn trọng của cơ quan xét xử nước này đối với phán quyết của cơ quan xét xử nước khác. Tuy nhiên, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn tư pháp thì một bản án hoặc quyết định dân sự của toà án nước này tuyên sẽ không được thi hành ở một nước khác khi chưa được nước khác đó công nhận và cho thi hành. Nguyên tắc này được áp dụng không chỉ thể hiện chủ quyền quốc gia mà còn đảm bảo rằng nội dung của bản án cũng như hậu quả của việc thi hành các bản án của toà án nước ngoài tuyên sẽ không đi ngược lại những nguyên tắc pháp lý của nước nơi thi hành bản án đó.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 4 Điều 343 của BLTTDS thì những bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài hoặc của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành(11).

Tóm lại, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài và quyết định của trọng tài nước ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, các quyết định của trọng tài nước ngoài được quy định trong BLTTDS. Theo đó toà án của Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài khi: Việc công nhận và cho thi hành này phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam; trên nguyên tắc có đi có lại; và việc thi hành chỉ được thực hiện sau khi đã được Toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành. Việc tuân thủ các nguyên tắc này không chỉ thể hiện chủ quyền của Việt Nam mà còn phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay./.


(1) Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995.(2) Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với 14 nước trên thế giới.(3) Ngày 28/7/1995 Chủ tịch nước đã ký quyết định gia nhập Công ước New York 1958 về việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài.

 

 

(4) Xem điểm a khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(5) Xem điểm b khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(6) Xem điểm c, đ khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(7) Xem điểm c khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(8) Xem điểm d khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(9) Xem điểm e, g khoản 1 Điều 370.

(10) Xem khoản 2 Điều 370 BLTTDS.

(11) Xem khoản 4 Điều 343 BLTTDS.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004