THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KIỆN TÒA VÌ KÊ BIÊN SAI, ĐƯỢC KHÔNG?

T.NGUYÊN – T.HIỂU

Vụ một người dân ở Tây Ninh đâm đơn khởi kiện tòa đòi bồi thường vì cho rằng tòa đã ra quyết định kê biên sai, gây thiệt hại cho mình khiến nhiều bạn đọc thắc mắc? Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi tòa có các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng sai pháp luật? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện ra sao?

Vụ việc đã đăng trên Pháp Luật TP.HCM ngày 22-7. Có thể tóm tắt như sau: Vợ chồng ông M. bị người khác kiện ra TAND huyện Tân Châu (Tây Ninh) đòi nợ. Theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa đã ra quyết định phong tỏa hơn 20 ha đất mà tòa nghĩ là của vợ chồng ông M. để đảm bảo thi hành án. Cho rằng quyết định kê biên này sai, ông M. khiếu nại nhưng bị chánh án TAND huyện Tân Châu bác đơn. Ông M. kiện tòa để đòi bồi thường thiệt hại cũng không được thụ lý… 

Từ vụ này, nhiều vấn đề pháp lý đã được đặt ra: Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi cho rằng tòa ra quyết định sai trong quá trình giải quyết án dân sự  hay không? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện như thế nào?

Phải đủ điều kiện, đúng trường hợp

Theo nhiều chuyên gia, quyền khiếu nại, khởi kiện hành vi, quyết định của tòa trong hoạt động tố tụng dân sự để đòi bồi thường thiệt hại đã được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1-1-2007). Tuy nhiên, việc này phải tuân thủ các quy định rất chặt về điều kiện, phạm vi trách nhiệm bồi thường.

Cụ thể, về điều kiện, theo Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, đương sự phải có trong tay văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của thẩm phán (Văn bản này chính là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng). Cạnh đó, phải có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của thẩm phán gây ra.

Continue reading →

LÚNG TÚNG PHÂN ĐỊNH ÁN DÂN SỰ, ÁN THƯƠNG MẠI

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

Tòa án đang lúng túng khi xử lý quyết định hòa giải ở cơ sở theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1999.

Mới đây, tại buổi góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) do TAND Tối cao tổ chức, các đại biểu đã mổ xẻ nhiều vấn đề vướng mắc trong việc áp dụng luật tố tụng dân sự về các tranh chấp thương mại. Các ý kiến đề xuất phải thống nhất lại một số khái niệm, sửa đổi nhiều quy định về thủ tục.

Cần có hướng dẫn phân biệt án

Thẩm phán Nguyễn Văn Tiến (Tòa Kinh tế TAND Tối cao) nêu vấn đề: “Việc phân biệt các tranh chấp về kinh doanh thương mại (KDTM) và tranh chấp dân sự theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS hiện nay đang vướng. Có người bảo tranh chấp KDTM thì phải dựa vào tiêu chí là có mục đích lợi nhuận. Thế nhưng nhiều ý kiến nói chỉ cần tiêu chí có đăng ký kinh doanh là được. Theo tôi, nên hiểu theo cách thứ nhất vì yếu tố lợi nhuận là dấu hiệu đặc trưng bắt buộc của loại án này”.

Tuy nhiên, Phó Chánh án TAND tỉnh An Giang Nguyễn Văn Học đề nghị: “Phải thỏa mãn cả hai điều kiện là có mục đích lợi nhuận và có đăng ký kinh doanh thì mới được coi là án KDTM. Còn thiếu một trong hai thì chỉ có thể coi là vụ án dân sự mà thôi. Trước mắt TAND Tối cao phải có hướng dẫn ngay để các tòa địa phương áp dụng chung”.

Thẩm phán Trần Văn Sự (Phó Chánh án TAND TP.HCM) đồng tình phải có những hướng dẫn tạm thời cho thẩm phán phân biệt được thế nào là án KDTM trước khi sửa đổi BLTTDS…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến (Trường Đại học Luật TP.HCM) đề xuất thêm, khi sửa đổi BLTTDS nên gọi là vụ án kinh doanh hoặc là vụ án thương mại cho dễ hiểu thay vì án KDTM như hiện nay. Một thẩm phán TAND tỉnh Đồng Nai nói: “Chúng ta nên gọi đó là vụ án thương mại vì luật và các điều ước quốc tế đều có tên như thế”.

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NƠI Ở CUỐI CÙNG CỦA BỊ ĐƠN Ở ĐÂU?

HOÀNG YẾN

Nhiều tòa mạnh dạn thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền lợi của đương sự thì lại bị tòa cấp phúc thẩm hủy án.

Điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Thế nhưng trong thực tế đã xuất hiện nhiều tranh cãi khi vận dụng điều luật này.

Đã đi mất, vẫn thụ lý

TAND TP.HCM vừa hủy một bản án của TAND quận 1 vì cho rằng tòa này vận dụng không đúng quy định về điều luật nói trên.

Trước đó, ông N. đã vay nợ của bà A. Sau một thời gian tìm kiếm, bà A. biết nơi ở cuối cùng của ông này là ở quận 1 nên khởi kiện… TAND quận 1 đã thụ lý giải quyết, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, VKSND TP.HCM kháng nghị vì cho rằng tòa thụ lý sai.

Tòa thành phố xử phúc thẩm nhận định theo xác minh tại địa phương, bị đơn đã bán nhà đi đâu không rõ trước khi Tòa quận 1 thụ lý vụ án. Như vậy, bị đơn đã bỏ đi trước khi nguyên đơn khởi kiện và nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn nên xem đây là trường hợp không xác định được địa chỉ của bị đơn. Tòa phải trả lại đơn khởi kiện. Nhưng tòa quận lại tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với ông N. tại nơi ông không còn cư trú để xét xử vắng mặt. Giải quyết như vậy là không đúng, vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Tòa chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm…

Continue reading →

TÒA ÁN GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN: CÁC MÔ HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU THÀNH LẬP TẠI VIỆT NAM

THS. TRẦN HOÀI NAM & TƯỜNG AN – Văn phòng Quốc hội

Trong quá trình đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm có liên quan đến người chưa thành niên, vấn đề nghiên cứu xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên là một hướng mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn. Từ thế kỷ 19, nhiều quốc gia đã thành lập Tòa án người chưa thành niên. Việc hình thành hệ thống Tòa án chuyên biệt này xuất phát từ quan điểm cho rằng, trẻ em là những đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại cao, dễ bị tổn hại do độ tuổi và hoàn cảnh. Do vậy, cần thiết phải có sự bảo vệ, chăm sóc và hướng dẫn phù hợp của Nhà nước. Bài viết nêu ra một số mô hình Tòa án gia đình và người chưa thành niên, các vấn đề đặt ra khi đề xuất thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam.

1. Tòa án người chưa thành niên trên thế giới

1.1. Mô hình Tòa cho trẻ em có nguy cơ (hay mô hình an sinh phúc lợi)

Năm 1889, lần đầu tiên trên thế giới, mô hình Tòa án người chưa thành niên được hình thành1. Tòa án người chưa thành niên được trao quyền tài phán với đối tượng là các nhóm trẻ em bị cáo buộc phạm tội; nhóm trẻ em là đối tượng bị xâm hại và nhóm trẻ em không còn sự chăm sóc của cha mẹ do cha mẹ đã mất, bị khuyết tật hoặc các vì lý do khác. Sau đó, mô hình này được phát triển tại một số quốc gia trên thế giới. Tuy thẩm quyền tài phán của hệ thống Tòa án người chưa thành niên được xác lập theo hướng gắn với 3 nhóm đối tượng nêu trên, nhưng các Tòa án này trên thực tế lại chủ yếu xử lý những vụ việc người chưa thành niên bị cáo buộc có hành vi sai trái, bao gồm cả những hành vi phạm tội và những hành vi không có tính chất tội phạm như trốn học, bỏ nhà đi lang thang. Các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền chủ động rộng rãi trong việc quyết định các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên và các phiên tòa được xét xử kín để bảo đảm không làm ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của các em khi trưởng thành v.v.. Tuy nhiên, mô hình này cũng đã bộc lộ những nhược điểm nhất định, chẳng hạn như việc các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền tự chủ rộng rãi trong việc quyết định áp dụng các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên có thể dẫn đến tình trạng lạm quyền; trong khi đó, các cán bộ này lại không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hỗ trợ phục hồi.2

1.2. Mô hình tư pháp người chưa thành niên (hay mô hình trừng phạt)

Continue reading →

TÒA ÁN GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN: Các mô hình trên thế giới và việc nghiên cứu thành lập tại Việt Nam

THS. TRẦN HOÀI NAM & TƯỜNG AN – Văn phòng Quốc hội

Trong quá trình đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm có liên quan đến người chưa thành niên, vấn đề nghiên cứu xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên là một hướng mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn. Từ thế kỷ 19, nhiều quốc gia đã thành lập Tòa án người chưa thành niên. Việc hình thành hệ thống Tòa án chuyên biệt này xuất phát từ quan điểm cho rằng, trẻ em là những đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại cao, dễ bị tổn hại do độ tuổi và hoàn cảnh. Do vậy, cần thiết phải có sự bảo vệ, chăm sóc và hướng dẫn phù hợp của Nhà nước. Bài viết nêu ra một số mô hình Tòa án gia đình và người chưa thành niên, các vấn đề đặt ra khi đề xuất thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam.

1. Tòa án người chưa thành niên trên thế giới

1.1. Mô hình Tòa cho trẻ em có nguy cơ (hay mô hình an sinh phúc lợi)

Năm 1889, lần đầu tiên trên thế giới, mô hình Tòa án người chưa thành niên được hình thành1. Tòa án người chưa thành niên được trao quyền tài phán với đối tượng là các nhóm trẻ em bị cáo buộc phạm tội; nhóm trẻ em là đối tượng bị xâm hại và nhóm trẻ em không còn sự chăm sóc của cha mẹ do cha mẹ đã mất, bị khuyết tật hoặc các vì lý do khác. Sau đó, mô hình này được phát triển tại một số quốc gia trên thế giới. Tuy thẩm quyền tài phán của hệ thống Tòa án người chưa thành niên được xác lập theo hướng gắn với 3 nhóm đối tượng nêu trên, nhưng các Tòa án này trên thực tế lại chủ yếu xử lý những vụ việc người chưa thành niên bị cáo buộc có hành vi sai trái, bao gồm cả những hành vi phạm tội và những hành vi không có tính chất tội phạm như trốn học, bỏ nhà đi lang thang. Các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền chủ động rộng rãi trong việc quyết định các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên và các phiên tòa được xét xử kín để bảo đảm không làm ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của các em khi trưởng thành v.v.. Tuy nhiên, mô hình này cũng đã bộc lộ những nhược điểm nhất định, chẳng hạn như việc các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền tự chủ rộng rãi trong việc quyết định áp dụng các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên có thể dẫn đến tình trạng lạm quyền; trong khi đó, các cán bộ này lại không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hỗ trợ phục hồi.2

1.2. Mô hình tư pháp người chưa thành niên (hay mô hình trừng phạt)

Continue reading →

XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO ĐIỀU 35, 36 CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐINH VĂN VỤ – TAND tỉnh Cao Bằng

Trong bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hương, Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 (tháng 10 năm 2009) có nêu để trao đổi về một việc dân sự.

Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là hai vợ chồng đăng ký nhân khẩu thường trú tại thị trấn Y huyện Y, tỉnh YB. Do cuộc sống không hạnh phúc, nên tháng 9 năm 2007, ông Nguyễn Văn A đã làm đơn xin ly hôn bà B. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của ông A được ly hôn bà B. Nhưng bản án sơ thẩm đã bị bà B kháng cáo hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật. Trong khi chờ cấp phúc thẩm xem xét vụ kiện, thì năm 2008, ông A đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh YB với bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố YB, tỉnh YB. Sau khi kết hôn, ông Nguyễn Văn A cũng chuyển hộ khẩu về ở cùng với bà Nguyễn Thị T.

Nhận thấy việc kết hôn với ông Nguyễn Văn A là trái pháp luật, nên bà Nguyễn Thị T đã làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà và ông Nguyễn Văn A.

Bài viết đưa ra hai quan điểm về cách xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bà T như sau:

+Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 35 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh YB.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 36 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB.

Sau khi nghiên cứu nội dung bài viết của tác giả và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Toà án, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi như sau.

Continue reading →

BÀN VỀ THẨM QUYỀN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON

TS. LÊ THU HÀ – Học viện tư pháp

1. Theo chị Phan Thị Yến (sinh năm 1984), năm 2003, chị và anh Lê Văn Thanh (sinh năm 1980) chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn, không được cha mẹ anh Thanh đồng ý. Mặc dù không được bố mẹ anh Thanh đồng ý, chị Yến và anh Thanh vẫn về sống chung với gia đình chồng. Đến ngày 31/01/2005 chị Yến sinh bé gái Lê Yến Ngọc. Do không có đăng ký kết hôn nên chị Yến không làm được khai sinh cho bé Ngọc.

Ngày 24/02/2006, anh Thanh bị tai nạn giao thông chết. Tháng 5 năm 2006, chị Yến có đơn ra Tòa án yêu cầu Tòa án xác định anh Thanh là cha cho cháu Lê Yến Ngọc. Bố mẹ anh Thanh cũng thừa nhận cháu Lê Yến Ngọc là con đẻ của anh Thanh, là cháu nội của ông bà. Theo Điều 65 luật hôn nhân và gia đình năm 2000, con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

Trong trường hợp cụ thể của chị Yến là yêu cầu xác định anh Thanh (đã chết) là cha cho bé Ngọc là một yêu cầu chính đáng, được pháp luật thừa nhận. Nhưng yêu cầu của chị Ngọc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp xác định con theo quy định tại Điều 64: Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Đối với trường hợp nhận cha, mẹ, con khác, Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định quyền được yêu cầu mà không quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết. Vấn đề này được quy định tương đối chi tiết trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định số 158/2005 có hiệu lực từ ngày 01/04/2006, thay thế nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về đăng ký hộ tịch).

Mục 6, Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, tại Điều 32 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

Continue reading →

CẦN ĐÁNH GIÁ, RÚT KINH NGHIỆM LỘ TRÌNH TĂNG THẨM QUYỀN CHO TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

HOÀNG THỊ LIÊN

Thực hiện Nghị quyết số 24/2003; Nghị quyết số 32/2004 và một số nghị quyết khác của Quốc hội về Thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự, dân sự, lộ trình tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện đến nay đã đạt yêu cầu về thời gian. Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu, thời gian tới cần nghiêm túc tổng kết, đánh giá thực tiễn để có những chủ trương, giải pháp thực hiện hiệu quả lộ trình cải cách tư pháp .

Tăng thẩm quyền xét xử là bước đột phá trong chương trình cải cách tư pháp; Tổng kết quá trình thực hiện cho thấy, hầu hết các Tòa án cấp huyện đều thực hiện tăng thẩm quyền trước thời hạn, một số địa phương đã triển khai các nội dung được tăng thẩm quyền đạt hiệu quả cả về chất lượng và số lượng.

Tuy nhiên, khi thực hiện tăng thẩm quyền, cấp huyện gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những kinh nghiệm về giải quyết loại án ở mức độ khó hơn. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật thường xuyên được bổ sung, sửa đổi nhưng việc giải thích, hướng dẫn chậm, gây khó khăn trong việc nhận thức, áp dụng pháp luật.  Để cấp huyện tiếp tục thực hiện tốt thẩm quyền mới, Quốc hội cần giám sát việc giải thích, hướng dẫn pháp luật của các ngành ở trung ương; nên giao trách nhiệm cụ thể cho từng ngành và ấn định thời gian hoàn thành sớm để có văn bản hướng dẫn đồng bộ giúp người dân và các cơ quan hữu quan nhận thức đúng, thực hiện nghiêm túc. Hiện nay, chỉ có một số văn bản hướng dẫn nhỏ giọt, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hậu quả là nhiều bản án, quyết định của Tòa án một số địa phương đã xét xử phải hủy, sửa, xử đi, xử lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết, gây tốn kém và dẫn đến sự thiếu tin tưởng của người dân đối với chủ trương chính sách, pháp luật.

Continue reading →

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: NHIỀU TÒA THỤ LÝ ĐƠN KIỆN BÁO TRỰC TIẾP

PHAN GIA HI

Luật Báo chí quy định chưa rõ, gây nhiều cách hiểu khác nhau.

Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, từ một vụ án mà TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) xử sơ thẩm đã đặt ra tình tiết pháp lý gây tranh cãi về việc tòa thụ lý những đơn kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước; người lại nói cứ việc kiện thẳng ra tòa…

Có quyền kiện thẳng ra tòa

Qua tìm hiểu thực tế, không ít các tòa ở TP.HCM như TAND TP, TAND các quận 1, 3, 10… đều đã từng giải quyết những vụ kiện báo chí tương tự như TAND thị xã Buôn Hồ. Theo lãnh đạo các tòa này, họ thụ lý đơn khởi kiện trực tiếp của đương sự chứ không buộc đương sự phải khiếu nại đến cơ quan báo chí trước rồi mới chấp nhận thụ lý. Đây là chuyện bình thường mà lâu nay các tòa vẫn làm.

Lý giải, lãnh đạo các tòa cho biết đây là tranh chấp dân sự. Các đương sự đòi báo cải chính, xin lỗi, bồi thường danh dự, uy tín bị xâm hại… mang tính chất “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Chiếu theo pháp luật dân sự, ai thấy mình bị thiệt hại thì có quyền đòi bồi thường, tòa thấy đơn kiện có căn cứ thì thụ lý chứ không đòi đương sự phải có khiếu nại, phải có trả lời của cơ quan báo chí… hoặc những thủ tục “tiền tố tụng” như trong án hành chính. Nếu đương sự kiện báo chí mà có căn cứ, tòa không thụ lý thì mới là vi phạm tố tụng!

Luật chuyên ngành chưa rõ

Thật ra, tranh cãi xung quanh việc khi một người cho rằng báo chí viết sai, xâm hại đến lợi ích của mình thì được kiện thẳng ra tòa hay phải khiếu nại đến tờ báo đó trước từng diễn ra cách đây chín năm và đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Continue reading →

TÒA ÁN CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN?

LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH

Thành lập tòa án chuyên biệt cho người chưa thành niên sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo vệ, thúc đẩy các quyền của trẻ em, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Những năm gần đây, ở nước ta, tội phạm ở tuổi chưa thành niên ngày một gia tăng về số lượng, đa dạng về loại tội, nghiêm trọng về tính chất và mức độ. Điều đáng lo ngại là độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội ngày càng thấp. Lứa tuổi thực hiện hành vi tội phạm cao nhất từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm khoảng 60%; từ 14 đến dưới 16 tuổi là 32% và dưới 14 tuổi là 8%.

Xu hướng của thế giới

Xây dựng tòa án cho người chưa thành niên là một xu hướng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Việc này gắn liền với việc ban hành một đạo luật riêng về tư pháp người chưa thành niên. Có ba mô hình tòa án cho người chưa thành niên:

1. Tòa án cho người chưa thành niên có nguy cơ cao: Còn gọi là mô hình an sinh phúc lợi hoặc phục hồi. Mô hình này tập trung chủ yếu vào việc “chẩn đoán” và “điều trị” cho thanh thiếu niên vi phạm pháp luật. Các phiên tòa luôn được xét xử kín để bảo vệ thông tin nhận diện của trẻ em và cho phép những trẻ em này khi trưởng thành có một “lý lịch sạch”. Thẩm phán đóng vai trò của một “vị phụ huynh nghiêm khắc” hơn là vai trò người bảo vệ quyền năng tố tụng.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đ.H Luật Hà nội

Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ cũng xảy ra ngày càng nhiều hơn. Tranh chấp sở hữu trí tuệ là một loại tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp thương mại cụ thể, bởi vậy việc giải quyết loại tranh chấp này dựa trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đây là loại tranh chấp đặc thù xuất phát từ tính chất vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ; hơn nữa đây lại là loại tranh chấp còn tương đối mới mẻ. Thực tế cũng chỉ ra rằng, việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ gặp rất nhiều khó khăn. Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết loại tranh chấp này, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện cũng là nguyên nhân cơ bản.

Bài viết này đề cập đến những vấn đề pháp lý cơ bản, quan trọng trong qúa trình giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tụê theo thủ tục tố tụng dân sự, tuy nhiên lại chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa đầy đủ trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật liên quan.

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

Trong ba loại biện pháp được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ranh giới giữa biện pháp hình sự và hai biện pháp còn lại là biện pháp dân sự và biện pháp hành chính tương đối rõ ràng.[1] Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính. Trong khi đó, ranh giới giữa biện pháp dân sự và biện pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc biệt vấn đề những tranh chấp nào được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được giải quyết bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, nhiều tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ lẽ ra phải được giải quyết theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại giải quyết theo thủ tục hành chính. Theo thống kê, trong những năm qua, hầu hết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết bằng biện pháp hành chính. Không ít người lo ngại rằng, việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đang bị hành chính hoá. Quy định không rõ ràng về thẩm quyền dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công việc không thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 lần đầu tiên quy định cho Toà án thẩm quyền xét xử các tranh chấp về quyền trí tuệ mà cụ thể là quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 29. Theo quy định của Pháp lệnh, thẩm quyền xét xử các tranh chấp sở hữu công nghiệp của Toà án rất hẹp. Cụ thể, Toà án chỉ có thẩm quyền xét xử bốn loại tranh chấp và vi phạm sau: hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ; tranh chấp liên quan đến việc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải trả khoản tiền cho chủ văn bằng bảo hộ trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hưũ công nghiệp; tranh chấp liên quan đến việc cấp văn bằng bảo hộ cho tổ chức, cá nhân không có quyền nộp đơn; tranh chấp liên quan đến việc trả thù lao cho tác giả và người thừa kế của tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp[2].

Continue reading →

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất

TS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Về việc xác định những tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự

Hiện nay, Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định: tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì thẩm quyền giải quyết được xác định theo hướng “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết…”. Vấn đề đặt ra là: cần phải hiểu thuật ngữ “tranh chấp về quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án trong Điều luật này như thế nào cho đúng.

Chúng ta đều nhận thấy rằng, từ khi có Luật Đất đai năm 1987, các quy định về thẩm quyền của Toà án đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo các Luật Đất đai năm 1987, 1993 và 2003 là có sự khác nhau. Theo quy định tại Điều 21, 22 Luật Đất đai năm 1987 thì các tranh chấp về quyền sử dụng đất đai do UBND nơi có đất đai bị tranh chấp giải quyết. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp về nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm thì Toà án nhân dân giải quyết cả quyền sử dụng đất có nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm đó (1).

Theo Luật Đất đai năm 1993 thì người sử dụng đất được trao 05 quyền là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để thừa kế quyền sử dụng đất. Khoản 3 Điều 38 Luật này quy định “Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết”. Trên thực tế, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo Khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, văn bản này hoàn toàn không phân chia các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chỉ đề cập rất chung chung là Toà án có thẩm quyền đối với tranh chấp về tài sản trên đất và quyền sử dụng đất.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/1/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thay thế Thông tư số 02 nêu trên, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, 1993 sau đây:

– Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;

– Thừa kế quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.

Continue reading →

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Dân sự – Đại học Luật Hà Nội.

1. Về việc xác định những tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự

Hiện nay, Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định: tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì thẩm quyền giải quyết được xác định theo hướng “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết…”. Vấn đề đặt ra là: cần phải hiểu thuật ngữ “tranh chấp về quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án trong Điều luật này như thế nào cho đúng.

Chúng ta đều nhận thấy rằng, từ khi có Luật Đất đai năm 1987, các quy định về thẩm quyền của Toà án đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo các Luật Đất đai năm 1987, 1993 và 2003 là có sự khác nhau. Theo quy định tại Điều 21, 22 Luật Đất đai năm 1987 thì các tranh chấp về quyền sử dụng đất đai do UBND nơi có đất đai bị tranh chấp giải quyết. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp về nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm thì Toà án nhân dân giải quyết cả quyền sử dụng đất có nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm đó (1).

Theo Luật Đất đai năm 1993 thì người sử dụng đất được trao 05 quyền là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để thừa kế quyền sử dụng đất. Khoản 3 Điều 38 Luật này quy định “Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết”. Trên thực tế, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo Khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, văn bản này hoàn toàn không phân chia các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chỉ đề cập rất chung chung là Toà án có thẩm quyền đối với tranh chấp về tài sản trên đất và quyền sử dụng đất.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/1/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thay thế Thông tư số 02 nêu trên, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, 1993 sau đây:

– Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;

– Thừa kế quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.

Continue reading →

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH NHÃ QUÁN: TÒA ÁN HAY TRỌNG TÀI?

CHÍNH DŨNG

Công ty Liên doanh Nhã Quán (đóng tại xã Bình Chuẩn – Thuận An – Bình Dương) được UBND tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép đầu tư số 208 (ngày 9/8/2002), trên cơ sở liên doanh giữa Công ty TNHH Trường Sanh và ông Kuo Chi Sheng (quốc tịch Đài Loan – Trung Quốc). Trước khi được cấp giấy phép, Giám đốc Công ty TNHH Trường Sanh (bà Tôn Hải Đường) và ông Kuo Chi Sheng ký một bản hợp đồng thành lập Công ty liên doanh Nhã Quán gồm 16 điều khoản.

Thẩm quyền có quyền đóng cửa nhà máy, đuổi công nhân (?)

Theo bản hợp đồng này, Công ty Nhã Quán là liên doanh chuyên sản xuất và gia công mộc mỹ nghệ với tổng vốn đầu tư 1,5 triệu USD, vốn pháp định gần 653.000 USD, trong đó Công ty Trường Sanh góp 22% bằng nhà xưởng, máy móc; phía Đài Loan (ông Kuo Chi Sheng) góp 78% bằng tiền mặt. Sau khi hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính, các bên cùng chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.Tranh chấp giữa các bên có liên quan, hoặc phát sinh từ hợp đồng, trước hết được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải. Trong trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận được với nhau thì sẽ được đưa ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giải quyết. Quyết định của Trung tâm Trọng tài Quốc tế là quyết định cuối cùng.

Cam kết là vậy nhưng khi xảy ra tranh chấp vào cuối năm 2007, phía Công ty Trường Sanh không đồng ý cùng ông Kuo Chi Sheng đưa vụ việc ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế giải quyết mà khởi kiện ra TAND tỉnh Bình Dương. Rốt cuộc, vụ tranh chấp này có đến hai nơi cùng thụ lý giải quyết là Trung tâm Trọng tài quốc tế và TAND tỉnh Bình Dương. Thậm chí, vào các ngày 5/3, 1/4 và 3/4/2008, TAND tỉnh Bình Dương lần lượt ra 3 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 108 và 115 Bộ luật Dân sự, kê biên toàn bộ tài sản của Công ty liên doanh Nhã Quán theo yêu cầu của Công ty Trường Sanh; buộc doanh nghiệp phải ngừng sản xuất kinh doanh, công nhân rời khỏi nhà máy, rồi giao toàn bộ tài sản cho Công ty Bảo vệ Việt Sinh quản lý… Do ra quyết định vượt quá thẩm quyền, ngay sau đó, TAND tỉnh Bình Dương đã lần lượt huỷ bỏ các quyết định kê biên trên.

Continue reading →

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài và những vẫn đế đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Khái niệm về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài đã hình thành từ lâu trong tư pháp quốc tế, có thể hiểu đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, Quyết định của Trọng tài nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ của nước mình. Sau khi bản án, quyết định của nước ngoài đó đã được xem xét và công nhận tính hiệu lực, nó sẽ được đảm bảo cưỡng chế  thi hành trên lãnh thổ của nước đã công nhận. Thủ tục đặc biệt này nhằm đảm bảo giải quyết các xung đột về quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia.

Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về dân sự (hiểu theo nghĩa rộng[1]) của Toà án nước ngoài và Quyết định của Trọng tài nước ngoài có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo khả năng thi hành các bản án, quyết định đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên. Từ đó, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án cũng như tránh tình trạng về cùng một vụ việc nhưng lại bị xét xử 2 lần.

Cùng với xu thế hội nhập, giao lưu kinh tế văn hoá xã hội giữa các quốc gia, số lượng các bản án, quyết định được tuyên ở một nước nhưng cần được thi hành ở một nước khác ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các nước để thoả thuận công nhận và cho thi hành của nhau các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.

1. Thực trạng pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1.1.Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

1.1.1. Các Hiệp định song phương về  tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước.

Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết với 14 nước Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp, bao gồm: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ. Tất cả các Hiệp định song phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Chế định công nhận và thi hành bản án, quyết định của nước ngoài trong các Hiệp định tương trợ tư pháp thường bao gồm các nội dung: phạm vi công nhận và thi hành; về điều kiện công nhận và thi hành; về nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành; thủ tục công nhận và thi hành; việc chuyển tiền và tài sản để đảm bảo thi hành quyết định.

Continue reading →

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Khái niệm về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài đã hình thành từ lâu trong tư pháp quốc tế, có thể hiểu đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, Quyết định của Trọng tài nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ của nước mình. Sau khi bản án, quyết định của nước ngoài đó đã được xem xét và công nhận tính hiệu lực, nó sẽ được đảm bảo cưỡng chế  thi hành trên lãnh thổ của nước đã công nhận. Thủ tục đặc biệt này nhằm đảm bảo giải quyết các xung đột về quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia.

Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về dân sự (hiểu theo nghĩa rộng[1]) của Toà án nước ngoài và Quyết định của Trọng tài nước ngoài có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo khả năng thi hành các bản án, quyết định đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên. Từ đó, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án cũng như tránh tình trạng về cùng một vụ việc nhưng lại bị xét xử 2 lần.

Cùng với xu thế hội nhập, giao lưu kinh tế văn hoá xã hội giữa các quốc gia, số lượng các bản án, quyết định được tuyên ở một nước nhưng cần được thi hành ở một nước khác ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các nước để thoả thuận công nhận và cho thi hành của nhau các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.

1. Thực trạng pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1.1.Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

1.1.1. Các Hiệp định song phương về  tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước.

Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết với 14 nước Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp, bao gồm: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ. Tất cả các Hiệp định song phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Chế định công nhận và thi hành bản án, quyết định của nước ngoài trong các Hiệp định tương trợ tư pháp thường bao gồm các nội dung: phạm vi công nhận và thi hành; về điều kiện công nhận và thi hành; về nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành; thủ tục công nhận và thi hành; việc chuyển tiền và tài sản để đảm bảo thi hành quyết định.

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ỦY BAN CÓ “ĐÁ LỘN SÂN” TÒA ÁN?

LIÊN PHƯƠNG

Theo điều 136 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, thì do toà án giải quyết.

Diễn biến sự việc

Đó là quy định của luật pháp khi quy định về vấn đề để giải quyết sự việc tranh chấp đất đai khi đã có chủ quyền đất. Thế nhưng ở huyện Tân Uyên lại không hề giải quyết sự việc theo luật định khi Toà án đã và đang thụ lý giải quyết vụ án, thì UBND tỉnh Bình Dương lại chen ngang ra quyết định (QĐ) giải quyết.

Sự việc bắt nguồn tự sự tranh chấp đất đai giữa bà Nguyễn Thị Thắm (SN 1946, ngụ ấp 4, xã Vĩnh Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) và bà Trần Thị The (SN 1940, ngụ cùng ấp). Nguồn gốc đất trước đây là của ông cố nội hai người với diện tích tổng thể 21.869m2. Sử dụng đến năm 1985, thì bà The bỏ đi sang xã Bình Mỹ, Tân Uyên sinh sống, không canh tác nữa. Bà Thắm tiếp tục sử dụng, canh tác ổn định cho đến nay và hàng năm vẫn làm tròn nghĩa vụ nộp thuế đất đai đầy đủ. Năm 1998, xã kêu gọi tất cả các gia đình tập trung đi kê khai để làm GCNQQSDĐ cho các hộ dân.

Bà Thắm cho biết: “Năm 1998, tôi đi kê khai và được cấp GCNQSDĐ số sổ 01448, 01447 vào các ngày 04-01-1999, 12-01-1999 mà không có sự khiếu nại hay thắc mắc gì (Vì từ trước đó đến nay, gia đình tôi đã sinh sống ổn định trên đất và đóng thuế đất đai đầy đủ). Đến năm 2000, tôi thấy bà The sống bên Bình Mỹ khổ quá mới sai con cháu đến đón bà về nhà tôi ở. Sau đó cất cho bà một căn nhà nhỏ để sống những ngày cuối đời (Vì tôi với bà The là hai chị em họ). Chăm lo cho chị những ngày này cũng là để tình cảm chị em gắn bó hoà thuận hơn. ở với tôi cả hai năm liền, bà The cũng không hề khiếu nại hay phàn nàn gì về đất đai. Thế nhưng sự đời thật trớ trêu, hai năm sau bà The đệ đơn khiếu nại tôi đòi đất và bỏ đi khỏi ngôi nhà mà tôi đã cất cho bà. Tôi rất buồn vì tình cảm chị em đang êm ấm thì xảy ra chuyện tranh chấp đất mà tôi đã ở, sử dụng ổn định và đóng thuế từ nhiều năm nay…!”.

Continue reading →

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2008 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân; Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

A. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I. CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN (QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 4 ĐIỀU 25 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 29 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ)

1. Các tranh chấp về quyền tác giả

a) Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;

b) Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;

c) Tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm;

d) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiền thù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;

đ) Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

e) Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết định cho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 116/2004/KHXX NGÀY 22/07/2004 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO về việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Đất đai năm 2003

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các đơn vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao

Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2004. Toà án nhân dân tối cao cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư liên tịch hướng dẫn về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tối cao lưu ý Toà án nhân dân các địa phương thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về đối tượng đất mà tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết. Quy định này đã được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

Continue reading →