TÌNH HUỐNG TỐ TỤNG: THAY MẶT NGƯỜI ĐANG Ở CANADA KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG?

PHƯƠNG LINH – PLO

Tháng 12-2016, ông Trịnh Hoài Phương (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Điền (trú TP Nha Trang, Khánh Hòa) được quyền khiếu kiện đòi tám sào đất ruộng mà theo ông Phương thì ông N. đang quản lý, sử dụng. Giấy ủy quyền này được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam.

Người được ủy quyền ký đơn

Căn cứ giấy ủy quyền này, ban đầu ông Điền ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại UBND phường. Sau đó, do hòa giải không thành nên UBND phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra tòa.

Ngày 21-6, ông Điền ký đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho TAND TP Nha Trang. Trong đơn khởi kiện ông Điền ghi họ và tên người khởi kiện là chính mình và ký tên vào cuối đơn khởi kiện. Thực tế thì ông Điền chỉ là người đại diện ủy quyền của ông Phương theo giấy ủy quyền tại Canada. Hơn một tháng sau, TAND TP Nha Trang thông báo thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền.

Phía người bị đòi đất là ông N. có đơn gửi tòa phản đối yêu cầu khởi kiện của ông Điền. Theo ông N., từ trước đến nay gia đình ông không biết ông Điền hay ông Phương là ai. Việc tòa thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền buộc ông phải giao trả tám sào đất ruộng là không có căn cứ vì gia đình ông không sử dụng mảnh đất này.

Cũng theo ông N., tòa thụ lý vụ kiện và xác định ông Điền là nguyên đơn là trái luật. Vì ông Điền chỉ là người đại diện theo ủy quyền của ông Phương đang cư trú tại Canada. Nội dung trong giấy ủy quyền của ông Phương và nội dung đơn kiện ký tên ông Điền cũng không xác định được vị trí cụ thể tám sào ruộng ở đâu, ai đang quản lý để kiện đòi. Ông N. cho rằng việc ông Điền khởi kiện là không có căn cứ pháp luật, tòa thụ lý vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Continue reading

CẦN CÓ CÁCH HIỂU THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU THỪA KẾ ĐỐI VỚI DI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

KIM QUỲNH

Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đều có những quy định mới về thời hiệu. Tuy nhiên, đối với vấn đề này, hiện nay văn bản hướng dẫn chưa nhiều, nên trong thực tiễn xét xử nhiều Thẩm phán còn khá lúng túng khi giải quyết các vụ án dân sự, đặt biệt là các vụ án chia thừa kế mà di sản thừa kế là bất động sản.

1. Thời hiệu thừa kế theo quy định của BLDS 2015

Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được quy định tại các điều 184, 185 BLTTDS 2015, theo đó, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS và Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc[1]. Đồng thời, BLDS 2015 cũng quy định rõ việc áp dụng quy định của BLDS 2015 về thời hiệu, theo đó các quy định của BLDS 2015 về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự[2].

BLDS năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế đối với bất động sản tại Điều 623[3], theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: (1) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236[4] của BLDS 2015; (2) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 (không có người người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác). Đây là quy định mới về thời hiệu thừa kế so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây (Pháp lệnh Thừa kế, BLDS 1995, BLDS 2005 đều quy định thời hạn thừa kế đối với bất động sản là 10 năm).

Continue reading

LÃI CHẬM TRẢ TIỀN TRONG ÁN LỆ NĂM 2016

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trong 10 án lệ được công bố, có án lệ liên quan đến lãi do chậm thanh toán (chậm trả) một khoản tiền. Đó là Án lệ số 08/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và án lệ số 09/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Xoay quanh hai án lệ này, chúng ta có một số câu hỏi đáng lưu ý sau: Thứ nhất, khoản tiền nào có thể làm phát sinh lãi chậm trả? Thứ hai, thời gian tính lãi chậm trả là bao lâu? Thứ ba, mức lãi để tính lãi chậm trả là bao nhiêu?

I. Về khoản tiền làm phát sinh lãi chậm trả

1) Khoản tiền được án lệ cho phát sinh lãi chậm trả

* Tiền hoàn trả từ hợp đồng vay

Hiện nay, chúng ta có hai loại vay là vay tín dụng[1] và vay dân sự thông thường[2]. Cả hai loại vay này đều làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản vay (thông thường là một khoản tiền) và trong trường hợp bên vay không hoàn trả tài sản vay đúng thời hạn thì bên vay phải chịu lãi chậm trả.

Trong Án lệ số 08/2016/AL, Nội dung án lệ được lựa chọn đã khẳng định: “…Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán”.

Nội dung trên cho thấy, việc chậm trả khoản tiền vay tín dụng làm phát sinh lãi chậm trả và điều này cũng hoàn toàn đúng với các khoản vay dân sự thông thường.

Continue reading

ÁN LỆ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

  NGUYỄN HỒNG HẢI

1. Bối cảnh

(i) Tiền đề về chính trị – pháp lý

Việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005[1] nói chung và việc nghiên cứu quy định án lệ trong BLDS nói riêng về cơ bản đã có những tiền đề chính trị – pháp lý thuận lợi. Dự án Luật được tiến hành trong giai đoạn lịch sử lập hiến, lập pháp của Việt Nam ở thời kỳ phát triển mới, trọng tâm vào công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; vào xây dựng, hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền sở hữu, quyền của các chủ thể liên quan, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp không phụ thuộc vào hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; vào thực hiện chiến lược cải cách tư pháp nhất là bảo đảm vị trí, vai trò của TAND trong bảo vệ công lý và thực hiện quyền tư pháp,[2]

Trong đời sống chính trị – pháp lý ở Việt Nam, việc phát triển và áp dụng án lệ cũng không phải là vấn đề mới. Trước năm 1945 (ở miền Bắc) và trước năm 1975 (ở miền Nam) việc nghiên cứu và áp dụng áp lệ đã khá phổ biến trong hệ thống Tòa án dưới các chế độ cũ. Trong những năm 1950-1960, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã từng ghi nhận việc áp dụng án lệ theo hướng: Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành, áp dụng đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, áp dụng án lệ của các tòa án, của Tòa án tối cao; Tòa án nhân dân phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các tòa án nhân dân cấp dưới thông qua án lệ của mình[3]. Trong suốt thời gian sau đó, mặc dù không có ghi nhận chính thức, nhưng thông qua hoạt động tổng kết công tác xét xử cho thấy việc áp dụng án lệ của ngành Tòa án vẫn được “ẩn” trong các hướng dẫn công tác xét xử của TANDTC.

Continue reading

MÔT SỐ BÂT CẬP TRONG THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG – Tòa kinh tế, TAND TP.HCM

Việc xem xét, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam và quốc gia khác là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại giữa Việt nam với các quốc gia khác là một trong những hoạt động tư pháp thể hiện thiện chí của Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập với thế giới.

Pháp luật của Việt Nam quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được quy định tại chương XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 (BLTTDS 2015), có hiệu lực ngày 01/7/2016. Trong phạm vi bài viết này, người viết muốn đề cập đến các nội dung: Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; thực tế giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và một số đề xuất kiến nghị, đề xuất.

I. Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài

1.1 Các loại quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

– Bản án, quyết định của Toà án nước ngoài

Theo điểm a và b khoản 1 Điều 423 BLTTDS 2015 thì các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài gồm :“Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” hay “quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài”.

Continue reading

KINH NGHIỆM XÉT XỬ ÁN LAO ĐỘNG

TÒA LAO ĐỘNG, TAND TP.HCM

Từ năm 1994 đến nay, Bộ luật Lao động đã được ban hành 2 lần vào năm 1994 (được sửa đổi 3 lần vào các năm 2002, 2006 và 2007) và năm 2012, nhưng Hội đồng Thẩm phán -TANDTC chưa ban hành Nghị quyết nào hướng dẫn xét xử tranh chấp lao động, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động của Chính phủ vẫn còn chung chung, chưa đầy đủ và thống nhất.

Hiện nay, việc xét xử tranh chấp lao động của các Thẩm phán phần lớn dựa vào việc tự nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của người đi trước, tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương, cùng một số tài liệu rút kinh nghiệm và hướng dẫn riêng lẻ của TANDTC trong Hội nghị tổng kết hàng năm, v.v . . mặt khác, tại Thành phố Hồ Chí Minh, các Tòa án cấp Quận Huyện thường không phân công Thẩm phán chuyên xử án lao động, số lượng tranh chấp lao động ở mỗi đơn vị hàng năm không lớn, về tâm lý một số Thẩm phán cũng không thích xử án lao động, chưa tích cực nghiên cứu trau dồi kiến thức và kỹ năng giải quyết án lao động nên việc tự nghiên cứu chưa sâu, v.v . . . là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng xét xử án lao động chưa cao trong thời gian qua.

Tòa Lao động -TAND TP.HCM tập hợp một số sai sót phổ biến trong giải quyết án lao động, trình bày thành chuyên đề “ Một số sai sót chủ yếu trong giải quyết án lao động”, mong nhận được sự chú ý.

I. Một số sai sót chủ yếu trong giải quyết tranh chấp lao động

Continue reading

Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự LIÊN QUAN ĐẾN BẤT ĐỘNG SẢN

ĐỖ KHẮC TUẤN – Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Bất động sản là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai hoặc các tài sản khác do pháp luật quy định.

Do tính chất đặc thù của bất động sản là vật luôn cố định tại một vị trí địa lý nhất định cho nên để thuận tiện cho việc giải quyết tranh chấp về bất động sản, pháp luật đã quy định tranh chấp về bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết[1]. Do đó, khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất động sản, Tòa án cần phải phân biệt được tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản với tranh chấp về các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo các tiêu chí khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015( Bộ luật TTDS 2015)[2].

1. Tiêu chí xác định một tranh chấp liên quan đến bất động sản là tranh chấp về bất động sản

Tranh chấp về bất động sản là tranh chấp về quyền của các bên đối với bất động sản như: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với bất động sản, có thể đơn cử một số tranh chấp về bất động sản như: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt nhà ở, công trình xây dựng trên đất…

Continue reading

HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH, KỸ NĂNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG (Ban hành kèm theo Chỉ thị số 04/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao)

Phần I

CHUẨN BỊ HÒA GIẢI

Bước 1. Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án

1. Việc lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực hiện theo quy định tại Chương VII về chứng minh và chứng cứ, Chương XIII về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Trong quá trình lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có trách nhiệm xác định đúng, làm rõ các nội dung sau:

– Quan hệ pháp luật tranh chấp;

– Yêu cầu cụ thể của các đương sự;

– Nguyên nhân phát sinh tranh chấp;

– Tính chất, mức độ tranh chấp;

– Vấn đề mấu chốt của tranh chấp;

– Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng khác;

– Quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,…);

– Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của đương sự;

– Quy định pháp luật là căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu của đương sự;

– Các nội dung khác (nếu có). Continue reading

ÁN LỆ VỚI NGUYÊN TẮC CÔNG LÝ KHÔNG THỂ BỊ CHỐI TỪ, TRÌ HOÃN

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Các nước khác nhau thì có nền văn hóa pháp lý khác nhau và đều có nét tương đồng. Nhưng nhìn chung có hai dạng: nền pháp luật theo án lệ và nền pháp luật thành văn.

Trải qua nhiều cuộc hội thảo, chế định về án lệ nay đã được chấp nhận trong hoạt động xét xử của Việt Nam. Tại điểm c, khoản 2, Điều 22 của Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014 quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Cho đến nay, chế định án lệ vẫn chưa được áp dụng nhiều vào hoạt động thực tiễn. Ngày 28/10/2015, Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được công bố và đã có một số án lệ được đưa ra. Tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề thuộc quan điểm, tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận, cách làm… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn để khi áp dụng có thể phát huy được tối đa tác dụng tích cực, đồng thời ngăn ngừa được những khiếm khuyết của việc vận dụng án lệ phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ công bằng, công lý xã hội.

Về nguồn gốc ra đời của án lệ

Trước khi trở thành những điều luật bắt buộc phải tuân theo, pháp luật bất thành văn hay pháp luật thành văn đã manh nha và tồn tại từ lâu trong xã hội, dưới dạng những quy tắc xử sự nhất định. Những điều luật cấm như: “không săn bắt chim cá, muông thú trong thời kỳ chúng sinh đẻ; cấm hôn nhân cận huyết…” là kết quả của sự trải nghiệm nhiều ngàn năm của nhiều thế hệ con người mới có. Các học giả thời La Mã (thế kỷ thứ VII trước Công nguyên) đã khẳng định rằng nội dung các quy phạm pháp luật La Mã là những điều kiện vật chất của đời sống xã hội La Mã tạo nên. Làm luật không phải là sáng tác ra luật theo đúng nghĩa đen của từ này. Làm luật là nghiên cứu, tìm tòi để phát hiện ra những quy tắc giao tiếp, xử sự tiến bộ đã hình thành trong xã hội rồi biến chúng thành điều luật làm chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người. Theo ý nghĩa đó, hoàn thiện pháp luật là một quá trình không ngừng và dài lâu. Nó gắn liền với sự hưng thịnh của xã hội, với nền văn minh của đất nước. Công lao to lớn của nhà làm luật gói gọn ở chỗ họ đã tìm ra được những quy tắc xử sự tiến bộ của xã hội, phù hợp với quy luật khách quan rồi xây dựng chúng thành những điều luật, bộ luật, làm bà đỡ mát tay cho xã hội văn minh tiến bộ mới ra đời. Vì lẽ đó, sống có pháp luật trở thành một đòi hỏi bức thiết của xã hội loài người. Để mọi người có thể hành động theo pháp luật thì trước hết phải có pháp luật để tuân theo. Sống có pháp luật và hành động theo pháp luật là hai đòi hỏi của xã hội văn minh. Không thể có cái này mà không có cái kia. Hai đòi hỏi đó luôn phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề phát triển cho nhau. Con người ngày càng tiến bộ, văn minh hơn là do đã từ bỏ dần cuộc sống không có quy tắc xử sự, hoặc theo quy tắc xử sự lạc hậu, lỗi thời, hoặc tệ hơn cả là hành động theo “luật rừng”.

Continue reading

KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG ÁN LỆ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNĐại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

1. Khái niệm và tính chất của án lệ

Ở các nước tiên tiến, án lệ được coi là một loại chuẩn mực đặc thù hình thành từ sự lặp đi lặp lại một giải pháp cho một vấn đề giống nhau được đặt ra trong nhiều bản án khác nhau. Sự lặp đi lặp lại ấy thể hiện sự trùng hợp trong suy nghĩ của các quan toà về cách hiểu và áp dụng luật trong những trường hợp tương tự[1].

Các nước theo luật thành văn, như Pháp, không coi án lệ là luật, mà chỉ là cách áp dụng luật của thẩm phán và có thể được các thẩm phán khác tham khảo khi xét xử vụ án có nội dung, tính chất tình tiết tương tự[2]. Người dân cũng có thể dựa vào án lệ để chấn chỉnh hành vi của mình trong giao tiếp, nhằm tránh rơi vào thế bất lợi trong trường hợp có tranh chấp. Án lệ không được đảm bảo thực hiện bằng chế tài của nhà chức trách, như luật. Thẩm phán cũng không bị buộc phải xử theo một tiền lệ nào đó, dù tiền lệ đó đã được nhất trí chấp nhận trong giới quan toà. Vả lại, dù không có quy tắc nào ràng buộc, án lệ ở Pháp chỉ hình thành từ các vụ tranh chấp (contentieux) chứ không từ các việc dân sự (affaire grâcieuse).

Theo quan niệm của người Anh, án lệ có tính ràng buộc[3]. Một khi được ghi nhận trong một bản án được tuyên bởi một toà án có thẩm quyền, một cách giải quyết vấn đề pháp lý nào đó trở thành một tiền lệ (precedent) mà bất kỳ ai cũng có thể viện dẫn để đòi hỏi thẩm phán cùng cấp hoặc cấp dưới phải xử vụ việc tương tự theo cùng một cách. Quyền viện dẫn án lệ được cho là xuất phát từ Lẽ công bằng (Equity) ràng buộc người cầm cân nảy mực theo quy tắc “tiền lệ phải được tôn trọng” – stare decisis: một người đã được hưởng cách xét xử như thế, thì không lý do gì người khác không được hưởng cùng một cách xét xử trong trường hợp tương tự.

Continue reading

KỸ NĂNG ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CỤ THỂ

THS.LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Trong bối cảnh toàn cầu hóa dẫn tới xu hướng giao thoa giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó các quốc gia có truyền thống dân luật (Civil Law) ngày càng coi trọng vai trò của án lệ trong việc xét xử tại Tòa án. Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó, án lệ từ chỗ chỉ là chủ để nghiên cứu trao đổi của các nhà luật học trong nước thì nay đã trở thành vấn đề mới trong cải cách hệ thống pháp luật ở nước ta.

Thuật ngữ “án lệ” lần đầu tiên xuất hiện trong chính sách của Đảng tại Nghị quyết số 48/2005/-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, theo đó một trong những giải pháp về xây dựng pháp luật Việt Nam là “Nghiên cứu về khả năng khai thác và sử dụng án lệ, tập quán, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Sau hơn mười năm, đến năm 2016 thì lần đầu tiên mười án lệ được công bố, theo đó: các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về một vụ việc cụ thể có chứa đựng các lập luận để giải thích về các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra các nguyên tắc hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng trong việc giải quyết vụ việc đó sẽ được áp dụng nhằm bảo đảm các vụ án giống nhau phải được xét xử và phán quyết như nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong các quan hệ dân sự cụ thể hiện còn quá mới mẻ đối với thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng khác nên việc nghiên cứu, phổ biến, đào tạo, hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng áp dụng án lệ là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Nguyên tác áp dụng án lệ theo pháp luật Việt Nam

Liên quan đến án lệ hiện nay được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, do vậy để áp dụng án lệ một cách chính xác, hiệu quả cần phải hệ thống hóa và hiểu rõ nguyên tắc chung khi áp dụng án lệ, cụ thể:

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC PHIÊN TÒA – Ban hành kèm theo Thông tư số 02/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy chế tổ chức phiên tòa này quy định về nguyên tắc tổ chức phiên tòa, nội quy phòng xử án, việc bảo vệ phiên tòa và thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

2. Quy chế tổ chức phiên tòa này được áp dụng đối với các phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa

1. Phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm và thành phần những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa phải ghi rõ trong giấy báo mở lại phiên tòa.

2. Phiên tòa được tổ chức công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, bị cáo thì Tòa án có thể xét xử kín.

3. Việc tổ chức phiên tòa phải bảo đảm các yêu cầu về an ninh, trật tự, sự tôn nghiêm của Tòa án; bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ, nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật; góp phần tuyên truyền, giáo dục công dân chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 152/TANDTC-PC NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, XỬ LÝ NỢ XẤU

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của một số Tòa án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức tín dụng và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam về vướng mắc khi giải quyết tranh chấp nhằm xử lý tài sản bảo đảm của các hợp đồng tín dụng.

Liên quan vấn đề nêu trên, ngày 19-6-2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản số 51/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2015; ngày 24-11-2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự năm 2015) và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016 trừ một số quy định có liên quan đến quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của các đạo luật này. Đặc biệt, ngày 21-6-2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, trong đó giao cho Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại Nghị quyết này.

Để bảo đảm giải quyết các tranh chấp hiệu quả, góp phần xử lý nợ xấu, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, các Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong đó, lưu ý một số nội dung sau đây:

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hình ảnh có liên quanTS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Đại học Luật Hà Nội

1. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Thủ tục rút gọn (TTRG) là thủ tục TTDS được tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động có đủ các điều kiện do pháp luật quy định trong một thời hạn ngắn do một thẩm phán tiến hành với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật. Do đó, nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án dân sự theo TTRG là: (i) áp dụng các quy định tại Chương XVIII để giải quyết vụ án theo TTRG; (ii) nếu Chương XVIII không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Bộ luật TTDS để giải quyết. Ngoài ra, nếu các văn bản pháp luật khác quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo TTRG thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo TTRG quy định trong Bộ luật TTDS năm 2015.

2. Điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Loại việc được tòa án áp dụng để giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn là những tranh chấp dân sự nhưng đó là các tranh chấp có tính chất đơn giản, rõ ràng về sự việc, áp dụng pháp luật và không có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật TTDS năm 2015, các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

– Các đương sự đều có địa chỉ cư trú, trụ sở rõ ràng;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 146/TANDTC-PC NGÀY 11 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆN DẪN, ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG XÉT XỬ

Kính gửi:

                          – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;

                          – Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Tại Hội nghị tập huấn từ ngày 25 đến ngày 28-5-2017, Tòa án nhân dân tối cao đã nhận được phản ánh của một số Tòa án đề nghị hướng dẫn việc viện dẫn, áp dụng án lệ trong xét xử. Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các đạo luật tố tụng thì khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự; bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự phải được giải quyết như nhau.

Việc viện dẫn, áp dụng hoặc không áp dụng án lệ khi xét xử, giải quyết những vụ việc cụ thể phải được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, khi xét xử, giải quyết những vụ việc đã có án lệ thì Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu án lệ đó để quyết định việc viện dẫn, áp dụng hoặc không áp dụng. Trường hợp áp dụng án lệ thì số án lệ, số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ (nội dung khái quát của án lệ) phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn nguyên văn những nội dung hạt nhân của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết các vụ việc tương tự.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 144/TANDTC-PC NGÀY 4 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC THI HÀNH NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2017/ND-HĐTP

 
 
Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-02-2017; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2017 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết). Để bảo đảm thực hiện đúng và thống nhất Nghị quyết, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề sau đây:

1. Về bản án, quyết định được công bố hoặc không công bố trên Cng thông tin điện tử của Tòa án

Việc xác định bản án, quyết định thuộc trường hợp được công bố hay không được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án phải căn cứ vào các điều 2, 3 và 4 của Nghị quyết, trong đó cần lưu ý:

a) Về bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước

Để xác định bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước không được công bố theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị quyết thì phải căn cứ vào Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước năm 2002; Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28-3-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước; Thông tư số 33/2015/TT-BCA ngày 20-7-2015 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 33/2002/NĐ-CP; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương; các Quyết định, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước độ Mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và các quy định khác của pháp luật về bí mật nhà nước; trong đó, theo quy định tại Quyết định số 01/2004/QĐ-TTg ngày 05-01-2004 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của Tòa án nhân dân thì không công bố những bản án, quyết định liên quan đến việc xét xử các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

b) Về bản án, quyết định có nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Các bản án, quyết định của Tòa án đã được mã hóa theo hướng dẫn tại Điều 7 của Nghị quyết và mục 2 của Công văn này thì các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được bảo đảm và việc công bố bản án, quyết định đó trên Cổng thông tin điện tử không vi phạm quy định về bảo đảm bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Continue reading

QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 120/QĐ-TANDTC NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TOÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp).

2. Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;

Continue reading

VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

TS. NGÔ QUỐC CHIẾN & ĐỖ VIẾT ANH THÁI

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên thống nhất trao cho một hoặc một số trọng tài viên giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của mình. Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên trao cho các nước thành viên quy định thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định/phán quyết trọng tài ở nước mình. Một nghiên cứu cho thấy “các quốc gia thành viên quy định rất khác nhau về thủ tục thi hành một quyết định trọng tài thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Sự thống nhất về vấn đề này dường như chỉ là mong muốn chứ không khả thi”[1].

Tại Việt Nam, tỷ lệ các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành trong thời gian vừa qua là rất thấp[2] do các bất cập trong các quy định của BLTTDS 2004. Nếu so với các nước là thành viên của công ước thì tỷ lệ không công nhận ở Việt Nam là cao một cách bất thường[3]. Để khắc phục tình trạng này, BLTTDS 2015[4] đã có những thay đổi quan trọng theo hướng tạo thuận lợi hơn cho việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều quy định trong BLTTDS đã gần gũi hơn với Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng Bộ luật vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những điểm bất cập của liên quan đến các quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 72/TANDTC-PC NGÀY 11 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ VIỆC THỐNG NHẤT ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN LY HÔN

 

Kính gửi:        – Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
–  Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 30-12-2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trong quá trình triển khai thực hiện, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc về việc xác định án phí trong trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn khi giải quyết vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”.

Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là kế thừa, giữ nguyên quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Do không có sự thay đổi về nội dung của luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn khác nên đối với vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).

Continue reading