Tư cách đương sự của tổ chức hành nghề công chứng TRONG VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG CHỨNG VĂN BẢN

THS. PHẠM THỊ THÚY – Trường Đại học Luật TP. HCM

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (khoản 11 Điều 26). Tuy nhiên, việc xác định tư cách tố tụng của tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) trong vụ án liên quan đến văn bản công chứng vô hiệu, đến hoạt động công chứng văn bản trong thực tiễn giải quyết tại Tòa án còn chưa thống nhất. Bài viết sẽ luận giải, phân tích các căn cứ xác định tư cách tố tụng của TCHNCC thông qua một số tình huống thực tiễn.

1. Tình huống thực tiễn

1.1.Tình huống 1[1]

Ngày 17-11-2015, ông S ký Hợp đồng mua nhà đất với vợ chồng ông M, bà V (giả). Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng N. Tuy nhiên, do người ký hợp đồng mua bán với ông S là giả mạo, không phải là chủ sở hữu thật sự của nhà đất nên theo yêu cầu của ông M, bà V (thật), ngày 17-5-2017, Tòa án đã tuyên bố Hợp đồng mua bán nêu trên là vô hiệu do bị lừa dối theo yêu cầu của ông M, bà V (thật).

Ông S khởi kiện Văn phòng công chứng N yêu cầu bồi thường 600.000.000 đồng ông đã trả cho ông M, bà V (giả).

Continue reading

CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA TOÀ ÁN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH CỦA PHÁP

 JACQUELINE RIFFAULT-SILK – Chánh toà Toà án Phúc thẩm Paris

Phần mở đầu

Pháp lệnh ngày 1 tháng 12 năm 1986[1] đã phi hình sự hoá các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Pháp và thành lập ra một cơ quan hành chính độc lập, gọi là Hội đồng Cạnh tranh, có nhiệm vụ chủ yếu là xử lý dưới hình thức phạt tiền hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp, dưới sự kiểm tra, giám sát của Toà án Phúc thẩm Paris.

Theo quy định tại Điều L.410-1 Bộ luật Thương mại[2], Hội đồng Cạnh tranh có thẩm quyền đối với “tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối và dịch vụ, bao gồm cả hoạt động của các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, đặc biệt là các hoạt động trong khuôn khổ hợp đồng uỷ thác dịch vụ công”. Giống như Uỷ ban Châu Âu có thẩm quyền xử lý các vụ việc cạnh tranh được thực hiện trên phạm vi Liên minh châu Âu, Hội đồng Cạnh tranh xét xử các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trên một thị trường và xử lý các doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm đó.

Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan duy nhất có thẩm quyền chung điều tiết thị trường, trong đó có thẩm quyền cưỡng chế và thẩm quyền xử phạt. Đây là điểm khác biệt của Hội đồng Cạnh tranh so với các toà án có thẩm quyền chung theo quy định của pháp luật, dù là toà án tư pháp hay toà án hành chính. Các toà án này, khi thụ lý giải quyết tranh chấp giữa các lợi ích tư theo quy định pháp luật quốc gia và/hoặc pháp luật cộng đồng về cạnh tranh thì sẽ xem xét tính hợp pháp của hợp đồng hoặc văn bản bị khiếu kiện, huỷ hợp đồng hoặc văn bản đó, buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 1382 Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc buộc chấm dứt hành vi vi phạm. Continue reading

MỘT SỐ GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ TÓ TỤNG DÂN SỰ, TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH TẠI CÔNG VĂN SỐ 89/TANDTC-PC NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2020 VỀ THÔNG BÁO KẾT QUẢ GIẢI ĐÁP TRỰC TUYẾN MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG XÉT XỬ

TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Trong vụ án xác nhận cha, mẹ cho con, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định nhưng bị đơn không hợp tác dẫn đến không thực hiện được việc giám định ADN. Vậy, trường hợp này thì Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án hay tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung?

Khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định:

“1. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

Continue reading

THẨM QUYỀN THEO LÃNH THỔ CỦA TÒA ÁN NƠI BỊ ĐƠN CƯ TRÚ

THS.NCS. NGUYỄN TRƯƠNG TÍN – Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Ông Dư khởi kiện bà Hương ra Tòa án nhân dân (TAND) quận Tây Hồ, Tp Hà Nội để tranh chấp đòi tài sản. Bà Hương có đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT) tại quận Hai Bà Trưng và tạm trú tại quận Tây Hồ.

Khi giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã xét rằng: “Trong trường hợp này, nơi đăng ký hộ khẩu và nơi tạm trú của bà Hương có địa chỉ khác nhau. Theo Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 thì: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú” và trong thực tế tại thời điểm khởi kiện, bà Hương đã và đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, nên TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và không làm hạn chế đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Do đó, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội nhận định tại thời điểm khởi kiện, bà Hương thường xuyên sinh sống và tạm trú tại quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội để hủy Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm là không cần thiết”[1].

BÌNH LUẬN

Nơi cư trú của bị đơn là một căn cứ để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự…”. Trước đây, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) cũng có quy định tương tự như nội dung vừa nêu.

Continue reading

XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN “PHÁT SINH GIỮA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC KINH DOANH VỚI NHAU” TRONG TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

TS. ĐẶNG THANH HOA & THS. NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN – Đại học Luật  TP.HCM

Điều kiện “phát sinh giữa cá nhân, tổ chức có ĐKKD với nhau” quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 là điều kiện quan trọng để xác định và phân biệt tranh chấp về kinh doanh, thương mại với tranh chấp về dân sự; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết, có một số vấn đề đặt ra cần phải được làm rõ, bao gồm: (i) Có ĐKKD là gì? (ii) các bên trong tranh chấp có buộc phải ĐKKD không? Và (iii) một số hệ quả liên quan đến quy định về điều kiện có ĐKKD?.

Chúng ta cùng xem xét 03 vụ án cụ thể:

Vụ án 1: Ông Đ và bà H có thỏa thuận mua bán rừng trồng với nhóm hộ ông X, ông B và ông C. Hai bên đã giao nhận số tiền tổng cộng là 300.000.000 đồng. Ngày 23-12-2013, ông Đ khởi kiện các bị đơn gồm: ông X, ông B, ông C về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán cây rừng trồng nhằm mục đích khai thác, yêu cầu các bị đơn phải trả lại cho ông 300.000.000 đồng tiền mua rừng nêu trên.

Ngày 17-4-2014, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm. Tiếp đến ngày 04-9-2014, Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm.

Continue reading

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH TỐ TỤNG CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN TỪ ĐỦ 7 TUỎI TRỞ LÊN TRONG VỤ ÁN LY HÔN

 TRẦN THANH BÌNH – TAND huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang

Qua đọc bài nghiên cứu của tác giả Trương Minh Tấn đăng trên Tạp chí TAND điện tử ngày 24 /6 /2020 về “Xem xét nguyện vọng của người con khi cha mẹ ly hôn”, chúng tôi thống nhất với tác giả bài viết về những nguyên nhân, hạn chế và bất cập khi giải quyết vụ án ly hôn phổ biến và rất đặc thù này.

1. Thủ tục tố tụng bắt buộc

Bài viết đưa ra tình huống “việc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên có được xem là thủ tục bắt buộc hay không” và đưa ra hai quan điểm khác nhau và đặt ra vấn đề cần trao đổi ý kiến là “việc xem xét nguyện vọng của con khi Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn là điều cần thiết để giải quyết vụ án được toàn diện, hợp tình và hợp lý nhưng việc quy định xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên như tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 là còn bất cập, chưa có quy định hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tế không thống nhất”.

Về vấn đề này, chúng tôi có ý kiến trao đổi như sau: Tại đoạn 2 khoản 3 Điều 208 BLTTDS năm 2015 quy định “Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên …” và khoản 26 Mục IV giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 7/4/2017 “về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ” của TANDTC cũng đã hướng dẫn “… để bảo đảm quyền lợi của người con, Tòa án phải lấy ý kiến của người con, xem xét nguyện vọng của người con từ đủ 07 tuổi trở lên…”.

Continue reading

XEM XÉT NGUYỆN VỌNG CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN

THS. TRƯƠNG MINH TẤN – TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 thì khi giải quyết việc ly hôn giữa vợ với chồng mà còn con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người con là mong muốn sống với cha hay sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy định việc xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn lại vướng mắc một số bất cập.

Trong vụ án hôn nhân gia đình thì bên cạnh việc xem xét, giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ (chung hoặc riêng) thì Tòa án còn xem xét, giải quyết vấn đề về nhân thân. Việc xem xét vấn đề nhân thân ở đây không chỉ là mối quan hệ giữa vợ với chồng mà còn xem xét quan hệ giữa cha, mẹ với người con. Thực tế cho thấy, khi Tòa án xem xét, giải quyết vấn đề về nhân thân không phải lúc nào cũng đơn giản mà đòi hỏi người tiến hành tố tụng ngoài việc nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải có thái độ, niềm tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 thì khi giải quyết việc ly hôn giữa vợ với chồng mà còn con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người con là mong muốn sống với cha hay sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy định việc xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn lại vướng mắc một số bất cập, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hình thức thể hiện nguyện vọng của con

Pháp luật ghi nhận khi giải quyết việc ly hôn mà có con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, nhưng không có quy định về hình thức lấy lời khai nguyện vọng của con. Do đó, thực tế cho thấy việc lấy lời khai nguyện vọng của con bằng nhiều hình thức khác nhau, dẫn đến không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật của người tiến hành tố tụng.

Continue reading

Rút kinh nghiệm các sai sót TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU

TS. NGUYỄN THÚY HIỀN – Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao

I. Những điểm mới về tài sản, quyền sở hữu và các biện pháp bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự là một trong những đạo luật quan trọng, là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

1. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật dân sự năm 2015

Việc ban hành Bộ luật lần này là nhằm xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Bộ luật dân sự là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát triển kinh tế – xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật này đã được thực hiện trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

Continue reading

KHOẢN NỢ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC LỰA CHỌN HÌNH THỨC ĐÒI NỢ PHÙ HỢP, HIỆU QUẢ

 THS. LS. NGUYỄN TIẾN MẠNH – Giám đốc Công ty luật Hồng Long, đoàn Luật sư Tp.HCM

Trong quá trình hoạt động, hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp đa phần phải đối diện với các khoản nợ chậm thanh toán của đối tác. Nếu giải quyết không ổn thỏa, sẽ phát sinh tình trạng doanh nghiệp nợ dây dưa, hoặc thực sự mất khả năng thanh toán. Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp mắc nợ và chủ nợ, giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là các bên thiện chí thương lượng giải quyết với nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp không giải quyết được thì chủ nợ có quyền áp dụng biện pháp pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tùy theo điều kiện và khả năng thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ có thể nộp đơn khởi kiện đòi nợ (vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại) theo thủ tục tố tụng dân sự, hoặc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng biện pháp nào để đòi nợ một cách hợp pháp và hiệu quả là một vấn đề mà chủ nợ cần phải cân nhắc, lựa chọn cho phù hợp.

Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số nội dung về những thuận lợi và hạn chế của từng biện pháp pháp lý để quý doanh nghiệp tham khảo.

1. Về điều kiện áp dụng của từng biện pháp

Continue reading

CÁC QUYỀN THỦ TỤC CÔNG BẰNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

 NGUYỄN VĂN QUÂN & NGUYỄN BÍCH THẢO – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Các quyền thủ tục công bằng trong tố tụng dân sự Hoa Kì

Mặc dù nước Anh là quê hương của học thuyết về trình tự công bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và phát triển mạnh mẽ trong lí luận và thực tiễn pháp lí ở Hoa Kì, đặc biệt thông qua các án lệ giải thích Hiến pháp của Tòa án tối cao. Hiến pháp Hoa Kì long trọng ghi nhận “due process of law” với tư cách là một nguyên tắc cốt lõi. Tu chính án thứ 5 của Hiến pháp Hoa Kì tuyên bố: “Không ai bị… tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”1. Tu chính án thứ 14 một lần nữa khẳng định: “không bang nào tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kì ai mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”2.

Hiện nay, các học giả trên thế giới đều thống nhất rằng trình tự pháp luật công bằng bao gồm hai khía cạnh: trình tự công bằng thủ tục (procedural due process) và trình tự công bằng nội dung (substantive due process). Các quyền về thủ tục là những yếu tố cấu thành nên quan niệm về trình tự công bằng thủ tục. Hai yếu tố cốt lõi của trình tự công bằng thủ tục trong tố tụng dân sự là chủ thể có quyền được thông báo và quyền được lắng nghe bởi một tòa án vô tư, không thiên vị trước khi chủ thể đó bị tước đoạt tự do hoặc tài sản.

Continue reading

QUY CHẾ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN CÔNG TỐ TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Li m đầu

Tại Pháp, các công tố viên (còn được gọi là thẩm phán công tố, thẩm phán đứng) cùng thuộc ngạch “thẩm phán” như các thẩm phán xét xử (thẩm phán ngồi), có cùng quá trình phát triển chức nghiệp, cùng mức tiền lương và có khả năng chuyển từ thẩm phán trở thành công tố viên và ngược lại nhiều lần trong sự nghiệp.

Trong khi Pháp công nhận nguyên tắc độc lập của thẩm phán, như sự thể hiện thể chế của nguyên tắc tam quyền phân lập nhưng sự độc lập này chỉ được đảm bảo cho các thẩm phán xét xử chứ không phải cho các công tố viên. François Hollande, Tổng thống mới đắc cử của Cộng hòa Pháp, đã cam kết từ nay thủ tục bổ nhiệm công tố viên cũng giống như thủ tục bổ nhiệm thẩm phán, điều này góp phần tăng cường sự độc lập của Viện Công tố so với quyền lực chính trị mà vẫn duy trì mối liên hệ thứ bậc giữa Viện Công tố và Bộ Tư pháp.

Phn 1. Quy chế ca các thm phán thuc ngch tư pháp

Thẩm phán thuộc ngạch tư pháp gồm hai loại:các thẩm phán xét xử và các thẩm phán công tố, có quy chế thẩm phán ngạch tư pháp khác nhau.

Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI BỞI COVID-19

LS. HOÀNG THỊ HOÀI THULS. HỒ THỊ TRÂMChuyên gia LƯƠNG VĂN LÝ – CÔNG TY TNHH LUẬT GLOBAL VIỆT NAM LAWYERS

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại khi hòa cảnh thay đổi bởi Covid-19

Tình hình dịch bệnh do Covid-19 gây ra ngày càng diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 05/4/2020, tổng số ca nhiễm Covid-19 trên toàn thế giới đã lên tới 1.199.583 người, với 64.662 ca tử vong.

Khi hoàn cảnh thay đổi và khó khăn phải gánh chịu

Dịch bệnh đã kéo theo hậu quả là kinh tế hầu hết các nước đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), các chuyên gia thậm chí còn cảnh báo chủng virus corona mới có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 1.000 tỷ USD trong năm nay.

Trước bối cảnh nêu trên, các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không tránh khỏi những thiệt hại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc duy trì hoạt động bình thường là không thể, dẫn đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên theo những hợp đồng đã giao kết cũng bị ảnh hưởng.

Để hạn chế phần nào khó khăn, hẳn nhiên, bên bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình hình dịch bệnh luôn mong muốn điều chỉnh hoặc chấm dứt hợp đồng đã giao kết.

Câu chuyện sẽ thuận lợi nếu bên còn lại “cảm thông” và thiện chí chịu cùng nhau ngồi lại, cùng nhau cân nhắc nhằm đạt được sự đồng thuận trong việc điều chỉnh hay thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, nếu bên còn lại không đồng ý chia sẻ khó khăn, sự bất đồng quan điểm sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Continue reading

Giải quyết yêu cầu văn bản CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU

CHU XUÂN MINH– Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bài nghiên cứu này bàn về việc xác định vụ việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phân biệt loại vụ việc này với yêu cầu tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu; bàn về một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; và cả về một lĩnh vực tranh chấp gần gũi là yêu cầu hủy chứng thực trái pháp luật.

Giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu bao gồm cả giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 6 Điều 27 BLTTDS. Đây là những loại vụ việc dân sự mới nên nhận thức và áp dụng pháp luật còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Chỉ riêng việc xác định thế nào là “văn bản công chứng” cũng đã khác nhau. Một số trường hợp sau khi kiện về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không được chấp nhận (bị bác yêu cầu) lại chuyển sang kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và vẫn được Tòa án thụ lý giải quyết. Cùng là vụ án có yêu cầu tuyên bố một hợp đồng đã được công chứng vô hiệu, có Tòa án xác định tổ chức hành nghề công chứng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có Tòa án chỉ xác định công chứng viên là nhân chứng, có trường hợp không đưa tổ chức hành nghề công chứng vào tham gia tố tụng.

Continue reading

QUYỀN KHỞI KIỆN CỦA CỔ ĐÔNG HOẶC CÔNG TY ĐỐI VỚI NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

LS. NGUYỄN DUY ANH – Công ty Luật Trí Minh

1. Đặt vấn đề

Kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã khai sinh ra loại hình công ty cổ phần, một pháp nhân hoàn toàn xa lạ với thương nhân Việt Nam, vốn quen với loại hình hộ gia đình. Vốn công ty cổ phần vốn được chia thành các phần bằng nhau, và việc huy động vốn là không giới hạn. Trong đó những quyền hạn của các cổ đông với mức sở hữu cổ phần khác nhau là khác nhau, đương nhiên là cổ đông lớn có nhiều đặc quyền hơn cổ đông nhỏ. Để bảo vê cổ đông thì Luật Doanh nghiệp quy định nhiều thể chế, trong đó có thể chế khởi kiện người quản lý công ty của cổ đông. Bài luận này tập trung trả lời các câu hỏi chính sách khởi kiện người quản lý quy định trong luật có thực thi được không? Các kiến nghị và giải pháp để quyền khởi kiện người quản lý được thực thi hiệu quả hơn.

2. Nội dung

2.1. Quyền khởi kiện quản lý công ty của cổ đông

Điều 161 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN) quy định về khởi kiện người quản lý trong công ty cổ phần như sau:

“1. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty theo quy định tại Điều 160 của Luật này;

b) Không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng quản trị;

Continue reading

HỢP ĐỒNG “KHÔNG HOÀN HẢO” VÀ SỰ CAN THIỆP CỦA TÒA ÁN

 PHẠM HỒ HOÀNG LONG – Văn phòng Thừa phát lại Phạm Hoàng, Thành phố Đà Nẵng.

PGS.TS. NGÔ QUỐC CHIẾN – Trường Đại học Ngoại thương

Khi giao kết hợp đồng, các bên luôn muốn thể hiện cụ thể nhất ý chí và mục đích giao kết hợp đồng thông qua nội dung của hợp đồng. Trên thực tế, rất nhiều hợp đồng được tạo ra rất sơ sài và thiếu đi những nội dung quan trọng là nền tảng của hợp đồng. Những điều khoản được đề cập đến có thể là điều khoản về đối tượng của hợp đồng, điều khoản về giá và phương thức thanh toán, điều khoản về chất lượng của tài sản, điều khoản về thời hạn và phương thức giao hàng. Những hợp đồng như thế có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, việc tuyên một hợp đồng vô hiệu không phải là giải pháp phù hợp nhất cho các bên, trong trường hợp các bên thực sự có thiện chí, có ý muốn và nguyện vọng thực hiện hợp đồng. Trong tình huống này, việc Tòa án can thiệp để điều chỉnh những thiếu sót của hợp đồng là phương án hợp tình, hợp lý, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên vẫn được tiếp tục diễn ra phù hợp với ý chí của các bên trong hợp đồng.

Hợp đồng “không hoàn hảo” có thể tồn tại dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên, hai trường hợp hợp đồng được xác lập không hoàn hảo phổ biến nhất thường gặp hiện nay. Đó là trường hợp một số điều khoản trong hợp đồng không được quy định cụ thể, rõ ràng và trường hợp hợp đồng hoặc một số điều khoản trong hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, hợp đồng cũng sẽ trở nên không còn hoàn hảo nữa trong trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đã thay đổi một cách cơ bản và vì vậy trở thành một lý do để tòa án xác định lại nội dung của hợp đồng.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 45/TANDTC-PC NGÀY 30 THÁNG 3 NĂM 2020 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC XÉT XỬ TỘI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

1. Hướng dẫn xác định tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự

1.1. Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh Covid-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau đây gây lây truyền dịch bệnh Covid-19 cho người khác thì bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 240 và xử lý về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người:

a) Trốn khỏi nơi cách ly;

b) Không tuân thủ quy định về cách ly;

c) Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

d) Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

1.3. Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán ba, vũ trường, karaoke, dịch vụ mát-xa, cơ sở thẩm mỹ…) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của cơ quan, người có thẩm quyền, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 13/TANDTC-PC NGÀY 24 THÁNG 2 NĂM 2020 CỦA TANDTC về việc hướng dẫn bố trí trang thiết bị cần thiết cho Toà Gia đình và Người chưa thành niên

TÒA ÁN NHÂN DÂN TÔI CAO

1. Phòng xử án

Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên phải bảo đảm đúng theo quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28-7-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Phòng xử án được trạng bị rèm che hoặc màn che có thể gấp gọn để chắn không cho nạn nhân là trẻ em, người chưa thành niên nhìn thấy bị can, bị cáo; Các trang thiết bị để thu phát việc lấy lời khai của trẻ em, người chưa thành niên trong qúa trình xét hỏi tại phiên tòa gồm: Màn hình ti vi; May tính hoặc thiết bị phát video được kết nối với màn hình ti vi; Loa, có điều khiển từ xa để điều chỉnh âm lượng; Thiết bị ghi âm, ghi hình, mạng tinternet, mạng truyền hình trực tuyến và các trang thiết bị khác phục vụ cho công tác xét xử; Máy điều hòa không khí.

2. Phòng hòa giải

Phòng hòa giải thiết kế với nền tường màu xanh, treo tranh, ảnh về thiên nhiên, con người và được bố trí bàn hình tròn hoặc hình bầu dục.

3. Phòng chờ

Phòng chờ có thể được sử dụng nhằm một số mục đích như sau:

Tạo không gian riêng tư, thân thiện để trẻ em và người chưa thành niên cùng cha mẹ, người giám hộ, người lớn đi kèm ngồi chờ khi ở Tòa án, để trẻ em, người chưa thành niên tạm nghỉ khi thấy căng thẳng, không khỏe hay cần nghỉ ngơi trong quá trình xét xử, cung cấp lời khai trước tòa, để được cha mẹ, chuyên gia tâm lý hoặc cán bộ xã hội an ủi, khích lệ…

Continue reading

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ KHI NGƯỜI BỊ KIỆN, NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ

THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, An Giang

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có nhiều quy định mới, trong đó có quy định liên quan đến việc Tòa án xem xét, xử lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này và các quy định pháp luật về cư trú tại các Tòa án trong thời gian qua còn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin nêu lên một số vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trong thời gian qua.

1. Việc xác định nơi cư trú của cá nhân trong trường hợp họ đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác

Theo điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện (trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện) hoặc đình chỉ giải quyết vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) trong trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, trong đó, có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÍN DỤNG VÀ CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÁC TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI TAND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THS. HOÀNG NGỌC THÀNH – Chánh tòa Tòa Kinh tế, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại về Hợp đồng tín dụng và các tranh chấp khác liên quan đến Ngân hàng tại TAND thành phố Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra có một số vấn đề trao đổi kinh nghiệm như sau:

I. V tranh chp Hp đồng tín dng

1. V Hp đồng tín dng (sau đây viết tt là HĐTD) có đầy đủ nhng đặc đim vn có ca mt hp đồng dân s nói chung. Tuy nhiên, vi bn cht đặc thù ca HĐTD, nên nó mang mt s đặc trưng riêng bit có th khái quát chung mà trong thc tin gii quyết các v án này chúng tôi xin lưu ý như sau:

a. Phân bit loi tranh chp dân s hay kinh doanh thương mi, do chủ thể một bên tham gia HĐTD luôn luôn là Ngân hàng hoặc các Tổ chức tài chính được phép kinh doanh tiền tệ (sau đây gọi chung là Tổ chức tín dụng và viết tắt là TCTD) và bên kia có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Do đó, phải có sự phân biệt về thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi thụ lý vụ án về kinh doanh thương mại hay vụ án dân sự. Sự phân biệt về thẩm quyền ở đây là về chủ thể và mục đích vay vốn. Nếu chủ thể vay vốn là cá nhân có đăng ký kinh doanh hoặc tổ chức có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án kinh doanh thương mại. Đối với những trường hợp cá nhân không có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn không có mục đích lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Về luật áp dụng đối với các tranh chấp HĐTD là như nhau. Tuy nhiên, trước đây TAND thành phố Hà Nội và VKSND tối cao có hai ý kiến khác nhau về việc giải quyết loại án này liên quan đến lãi suất khi giải quyết vụ tranh chấp dân sự về HĐTD.

Continue reading