TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

VŨ THẮNG – Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.Kể từ khi có hiệu lực pháp luật, thực tế việc xét xử các loại vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp phúc thẩmnảy sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất liên quan đến giới hạn phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, khoản 1 Điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm2011 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án”. Như vậy nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên chỉ tập trung vào việc tuân theo pháp luậttố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2011 quy định việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm như sau:“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm”.

Với quy định như vậy, nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm chưa rõ ràng, cụ thểnhư tại phiên toà sơ thẩm. Điều này dẫn đến các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuântheo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tác giả bài viết này đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ: Mặcdù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Kiểm sát viênphát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạnphúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tốtụng dân sự năm 2011 thì: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM CÓ ĐƯỢC GHI VÀO TRONG BẢN ÁN KHÔNG?

PHAN VŨ LINH – Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ

Tại khoản 2 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người  có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà cụ thể là của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm được thể hiện tại bài phát biểu sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên phải tập trung vào việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án (Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự).

Như vậy, pháp luật đã xác định rất rõ ràng nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm. Nếu như Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử vi phạm tố tụng, chẳng hạn còn thiếu người tham gia tố tụng, cần xác minh thu thập thêm chứng cứ,v.v…thì có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục những thiếu sót đó. Ví dụ: Ngày 01 tháng 01 năm 2008, ông A cho ông B vay số tiền là 100.000.000đ với lãi suất là 1%/tháng để kinh doanh với thời hạn vay là một năm. Đến thời hạn trả nợ, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên vào năm 2010, ông A khởi kiện ông B đòi số tiền nợ gốc và lãi trên. Sau khi hoà giải không thành, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Hội đồng xét xử cần phải đưa vợ của ông B là bà C vào tham gia tố tụng mới đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và đúng quy định pháp luật. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục thiếu sót này.

Vấn đề đặt ra là ý kiến phát biểu trên của Kiểm sát viên có được ghi nhận vào trong bản án hay không? Đối với vấn đề này trên hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau và có cách làm chưa thống nhất.

Continue reading

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC KHI XÉT XỬ THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT

TRẦN VĂN KIỂM – Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Nam Định

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) năm 2003. Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để. Bài viết phân tích và trình bày những nội dung cơ bản của nguyên tắc và những giải pháp bảo đảm để nguyên tắc được thực thi có hiệu quả.

1. Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc độc lập xét xử

Theo Từ điển tiếng Việt: “Độc lập là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không bị ai kiềm chế”1. Nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được hiểu dưới hai khía cạnh là độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong.

Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Khoản 3 Điều 222 Bọ luật TTHS quy định “khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”.

Nguyên tắc độc lập xét xử còn đòi hỏi sự độc lập của hội đồng xét xử với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân. “Cấp trên của quan tòa là luật pháp” (Các Mác) có nghĩa là, khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên của Hội đồng xét xử chính là pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của mình. Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án.

Continue reading

BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY[1]

THS. CAO VIỆT THĂNG – Phó trưởng phòng Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định hội thẩm nhân dân là một trong những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các hội thẩm nhân dân. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm.

Thực tế hiệu quả hoạt động của các hội thẩm ở nước ta hiện nay là chưa đạt yêu cầu về mặt pháp lý cũng như về mặt xã hội. Điều này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là 2 vấn đề lớn đó là: nhận thức về vai trò của hội thẩm trong Hội đồng xét xử các vụ án sơ thẩm và trách nhiệm của hội thẩm trong các phiên toà sơ thẩm.

1. Nhận thức về vai trò của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử

1.1. Một số vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong phiên toà xét xử sơ thẩm

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 [2], Bộ luật tố Hình sự [3] và Bộ luật Tố tụng Dân sự[4], việc tham gia của hội thẩm nhân dân là một trong những yêu cầu bắt buộc trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án. Từ quy định như vậy, có thể thấy vai trò của hội thẩm nhân dân là hết sức quan trọng trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án ở nước ta.

Và để đi tìm lời giải cho câu hỏi là: Vì sao phải sử dụng tới 2 hội thẩm nhân dân mà chỉ cần 1 thẩm phán trong phiên toà sơ thẩm(?), tác giả đã tìm hiểu và so sánh chế định này trong hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau và thấy rằng việc đưa hội thẩm nhân dân (có nơi tổ chức theo mô hình bồi thẩm đoàn) vào Hội đồng xét xử sơ thẩm chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử. Họ lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp. Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thay thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó.

Continue reading

TIẾP TỤC BÀN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngay từ thời cổ Hy Lạp, Arixtốt, Platon đã từng mơ ước đến một hình mẫu toà án độc lập, không thiên vị. Arixtốt quan niệm rằng: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: Cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử[1]. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ cho đến nay, độc lập xét xử của Toà án đã trở thành nguyên tắc pháp luật của bất kỳ nhà nước dân chủ, văn minh nào.

Tuy nhiên, trong thực tế ở đâu đó vẫn còn tình trạng Thẩm phán bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan làm cho phán quyết của họ bị thiên lệch. Điều đó cho thấy việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng và Toà án nói chung được độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật luôn là khát vọng và cũng là nỗi ưu tư của nhân loại ngàn đời nay. Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với trọng tâm là cải cải cách hệ thống toà án thì có lẽ bàn về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử vẫn là vấn đề xưa nhưng không hề cũ.

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu nguyên tắc độc lập xét xử dưới các góc độ khác nhau ở mọi cấp độ. Nhưng chủ yếu là xem xét sự độc lập của Thẩm phán trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan- Sự can thiệp đến công việc xét xử của Thẩm phán từ bên ngoài. Đó có thể là sự tác động từ các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp thậm chí có ý kiến đề cập đến sự can thiệp của một số cấp ủy địa phương đến hoạt động xét xử của thẩm phán. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận vấn đề độc lập xét xử của thẩm phán dưới góc độ những yếu tố chủ quan tác động đến tính độc lập xét xử của thẩm phán. Tức là những yếu tố nằm bên trong ngành toà án và trong mỗi thẩm phán làm cho thẩm phán không độc lập xét xử.

1. Thẩm phán có muốn độc lập không?

Trước hết công việc xét xử bao giờ cũng do con người – thẩm phán đảm nhiệm và thật viễn tưởng khi người ta lập trình hoạt động xét xử và giao cho máy móc đảm nhiệm. Những năm 70 của thế kỷ trước, Giáo sư X.X A-lec- xây- ép đã bàn đến vấn đề “Quan toà điện tử” khi ông đặt câu hỏi: Phải chăng có thể thay thế vị quan toà bằng những máy tính hiện đại có khả năng nắm bắt được cái tinh tế của pháp luật và ngay từ đầu đã cung cấp những quyết định theo yêu cầu của chúng ta ?”[2] . Sau khi lập luận một cách chắc chắn rằng: Sự vô tư, tính lôgic, trình độ chính xác, tính độc lập của các quyết định luôn lệ thuộc vào các tính cách cá nhân thẩm phán với tính tình ông ta; nếu ngồi ghế bị cáo thì bất cứ ai cũng muốn vị quan toà thay cho người máy quyết định số phận của họ, Giáo sư A- lếch- xây – ép kết luận: Quan hệ giữa con người với nhau phải được con người hiểu chứ không phải do máy móc phán xét. Các thẩm phán trong những tình huống phức tạp của mối quan hệ giữa con người với nhau, họ có thể hiểu được cái mà không máy tính nào hiểu được.[3] Vấn đề quan toà điện tử chỉ là viễn tưởng và trái với đạo lý của chúng ta.

Continue reading

PHẢN HỒI BÀI VIÊT: HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

THS. CAO VIỆT THĂNG

Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những chế định rất quan trọng trong hoạt động xét xử ở nước ta . Tuy nhiên, để hiểu rõ về vai trò của Hội thẩm nhân dân đã có rất nhiều tranh luận và cách hiểu khác nhau xung quanh chế định này. Chẳng hạn, đọc bài viết của tác giả Cao Xuân Thu Vân tại địa chỉ: http://phapluatdansu.edu.vn/2010/01/08/4317/, tôi cho rằng cách hiểu của tác giả về chế định này có lẽ là chưa chính xác. Dưới đây là một số quan điểm của tác giả về chế định Hội thẩm nhân dân để tác giả Thu Vân và các độc giả cùng tham khảo.

Về nội dung của việc quy định về thành phần của Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo đa số thành viên trong Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án thì có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo tính làm chủ của nhân dân trong quá trình xét xử. Hay ngay như trong Hiến pháp, ở Chương I – Về Chế độ chính trị có quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .  Nên việc quy định thành phần của Hội đồng xét xử đảm bảo sự đa số của số lượng Hội thẩm nhân dân là phù hợp…
Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, chúng ta thấy nguồn của Hội thẩm nhân dân chủ yếu là các công, viên chức nhà nước thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau do Mặt trận tổ quốc giới thiệu  chứ không phải là những người dân thường không nằm trong biên chế của các cơ quan nhà nước. Do đó, có thể thấy rằng đó không phải là quy định nhằm bảo đảm tính “nhân dân” trong Hội đồng xét xử.

Về chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấy rằng: việc quy định các Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử, rõ ràng Hội thẩm có đủ thẩm quyền quyết định mọi vấn đề trong quá trình xét xử, nghĩa là họ có quyền phán quyết kể cả những vấn đề hóc búa như định tội danh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, chỉ với tiêu chuẩn của Hội thẩm là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thì khi gặp những bị cáo là những người có trình độ pháp luật, bị cáo có người giám hộ, người đại diện là các chuyên gia pháp luật, là một hay nhiều luật sư chuyên nghiệp trợ giúp thì chắc chắn với các tiêu chuẩn về Hội thẩm như trên sẽ không đủ năng lực và trình độ pháp lý để đấu lại họ và không thể phán xử được. Ở phương diện này, chắc chắn các nhà làm luật cũng đã biết được điều này. Và nếu họ thấy bất cập chắc hẳn phải đặt ra vấn đề sử dụng toàn bộ thành viên Hội đồng xét xử phải là các Thẩm phán chuyên nghiệp chứ sẽ không quy định việc tham gia của Hội thẩm vào thành phần của Hội đồng xét xử.

Continue reading

GIẢI QUYÊT TRƯỜNG HỢP THAY ĐỔI ĐỊA VỊ TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp

1. Quy định của pháp luật

Một trong những quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là vấn đề thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Điều 219 quy định:

“1. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.

2. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn”.

1.1. Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố

Theo Khoản 1 Điều 175 BLTTDS, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có… Cùng với việc đó, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn (Khoản 1 Điều 176). Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

Như vậy, việc phản tố của bị đơn phải được tiến hành theo các quy định về thủ tục từ trước khi mở phiên tòa. Và Khoản 1, Điều 219 BLTTDS được hiểu đúng là áp dụng cho trường hợp bị đơn đã có yêu cầu phản tố và đã thực hiện xong những quy định về quyền phản tố từ trước khi mở phiên tòa theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa, Khoản 1 Điều 219 không áp dụng cho trường hợp tại phiên tòa mà có yêu cầu phản tố của bị đơn.

Continue reading

GIẢM TÍNH HÌNH THỨC TRONG VIỆC THAM GIA XÉT XỬ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHẠM THÁI

Trong thời gian qua, Báo ĐBND đăng một số bài trao đổi về việc quản lý và nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân dân (HTND). Xét thấy, cần phải có sự đánh giá toàn diện, nhiều chiều về thực tiễn tham gia hoạt động xét xử của HTND, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như việc thực thi vai trò, trọng trách của HTND, tôi thấy cần trao đổi để cung cấp thêm thông tin và quan điểm của mình về vấn đề này.

Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ XHCN. Ghi nhận vai trò của HTND trong công tác xét xử của Ngành Tòa án trong những năm qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi, việc tham gia xét xử của HTND vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế nhiều HTND chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm mà pháp luật quy định, cũng như sự kỳ vọng của nhân dân.

Mục đích của chế định xét xử có HTND tham gia không đơn thuần là cùng Thẩm phán xét xử cho xong vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quan trọng hơn, pháp luật giao trọng trách cho HTND thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Thực tế thời gian qua cho thấy, chất lượng xét xử các loại án chưa cao, tình trạng tiêu cực của một số cán bộ Tòa án đã bị phát hiện ảnh hưởng uy tín của Ngành Tòa án. Để xảy ra tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính nội tại của Ngành Tòa án, có một phần trách nhiệm của các HTND. Do kiến thức pháp luật và bản lĩnh còn hạn chế nên hầu hết các HTND chưa thực hiện tốt nguyên tắc “Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” và nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việc HTND chưa phát huy hết được vai trò, trách nhiệm có lẽ xuất phát từ cả quy định của pháp luật và việc thực thi.

Continue reading

HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

CAO XUÂN THU VÂN

Đọc bài “Ai quản lý, điều hành Hội thẩm nhân dân?” của tác giả Phạm Dân, đăng trên báo ĐBND ngày 6.12.2009 và một số bài viết trước đó về chủ đề Hội thẩm nhân dân (HTND), tôi rất đồng cảm với những băn khoăn của các tác giả. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật và thực tế hoạt động ở địa phương, tôi thấy cần trao đổi thêm một số vấn đề sau.

Theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 2002 thì Chánh án Tòa án nơi HTND được bầu là người quản lý và điều hành HTND: HTND làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án và Chánh án có trách nhiệm quản lý HTND theo quy chế về tổ chức và hoạt động của HTND. Rõ ràng HTND do HĐND bầu chọn trên cơ sở giới thiệu của UBMTTQ cùng cấp, nhưng việc quản lý, điều hành HTND là thuộc trách nhiệm của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu. Vì vậy, bảo đảm chất lượng cũng như thành phần của HTND là trách nhiệm của nhiều cơ quan, người có thẩm quyền và cá nhân từng vị Hội thẩm. Thực tiễn hoạt động ở địa phương cho thấy, ngay từ khâu chọn lựa, giới thiệu nhân sự, UBMTTQ tỉnh và huyện, thị xã đã kết hợåp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp và Thủ trưởng đơn vị (nơi có ứng củ viên được chọn giới thiệu) để lựa chọn, giới thiệu bầu HTND đúng tiêu chuẩn, thành phần, có thể tham gia tốt hoạt động xét xử của Tòa án. Và, việc bầu HTND phải có số dư để đại biểu HĐND chọn lựa.

Như vậy, ngay từ khi lựa chọn ứng cử viên, vai trò của Chánh án và Thủ trưởng đơn vị- nơi có ứng cử viên tham gia HTND đã thể hiện rất rõ, tránh được tình trạng UBMTTQ giới thiệu người tham gia HTND không đủ khả năng hoặc không có thời gian thực hiện nhiệm vụ của của HTND theo quy định. Phương châm của địa phương là không nhất thiết giới thiệu người có chức vụ của các cơ quan, ngành, lĩnh vực tham gia, mà quan trọng là lựa chọn người có khả năng và kiến thức pháp luật (Cử nhân hoặc Trung cấp, nhất là chuyên ngành Luật), có quỹ thời gian dành cho hoạt động Hội thẩm. Khi được HĐND bầu chọn thì nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu phải chủ động thực hiện đầy đủ các chính sách đối với HTND (trang bị trang phục, công khai các quyền, nghĩa vụ, chế độ…) Chánh án không chỉ giao nhiệm vụ cho HTND trong hoạt động xét xử mà còn có trách nhiệm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp lý, kỹ năng xét xử; xét thi đua đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc chính mình khen thưởng đối với HTND trong thực hiện nhiệm vụ xét xử; đề nghị HĐND miễm nhiệm, bãi nhiệm HTND theo quy định của pháp luật. Như vậy, trách nhiệm quản lý, điều hành HTND đã rõ. Tác giả  bài báo đề xuất lịch xét xử của Tòa án gửi cho Thường trực HĐND và Thường trực HĐND phân công HTND tham gia xét xử, theo dõi đánh giá hoạt động của HĐND… là thiếu cơ sở pháp lý và chưa phù hợp với thực tế hoạt động của HTND. Bởi, Thường trực HĐND không có quyền hạn và trách nhiệm này; hoạt động của HTND gắn liền với hoạt động xét xử và người có trách nhiệm đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội thẩm là Chánh án- thông qua việc xem xét tiêu chí, xem xét chất lượng của các bản án, quyết định mà Hội thẩm tham gia xét xử, giải quyết”.

Continue reading

AI QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỘI THẨM NHÂN DÂN?

PHẠM DÂN

Hội thẩm Nhân dân (HTND) được tham gia quá trình tố tụng, tuy nhiên hoạt động còn rất hình thức. Mặt khác, do chưa có cơ chế quản lý, điều hành nên sự phân công nhiệm vụ cho HTND chưa được chú trọng. Chính những bất cập này đã làm giảm chất lượng xét xử và gây bị động, lúng túng cho các cấp Tòa án.

Ở địa phương, theo giới thiệu của MTTQVN, mỗi nhiệm kỳ, HĐND huyện đều tiến hành bầu 18-20 HTND để tham gia xét xử với Tòa án nhân theo quy định của pháp luật. Số HTND được bầu hầu hết là những cán bộ đương chức đang công tác tại các cơ quan nhà nước, ở các tổ chức chính trị-xã hội như: Liên đoàn Lao động, Hội LHPN, Hội Chữ thập đỏ…; một số là giáo viên, cán bộ Đoàn để bảo đảm cơ cấu khi trong hội đồng xét xử có bị cáo là người chưa thành niên. Điều đáng quan tâm là, trong nhiều nhiệm kỳ của HĐND, đa số HTND là cán bộ đương chức ít tham gia xét xử. Cá biệt, có những HTND trong suốt một nhiệm kỳ 5 năm không tham gia (hoặc không được tham gia) xét xử vụ án nào. Lý do, HTND đương chức bận công tác, hoặc HTND không có kiến thức về chuyên môn nên tự ti, mặc cảm từ  chối lời mời của Toà án. Thực tế, mỗi nhiệm kỳ thường thấy có ít nhất “một cặp” HTND là cán bộ hưu trí khá tích cực với việc tham gia xét xử. Không dưới 2/3 số bản án đã được xét xử trong một nhiệm kỳ do các HTND là cán bộ hưu trí tham gia. Trung bình mỗi tháng, lịch xét xử được bố trí từ giữa tháng đến cuối tháng, từ hình sự đến dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Nếu vì một lý do nào đó các vị HTND này không thể tham gia xét xử được thì các thẩm phán rơi vào thế bị động. Để xử lý tình huống này, Thư ký Tòa án thường gọi điện “tìm”và khó khăn lắm mới có thể mời được một HTND còn đương chức tham gia. Nhiều trường hợp, trước lúc mở phiên tòa, tất cả những người tham gia tố tụng đều đã có mặt thì HTND vì những lý do đột xuất không tham dự được, Tòa án lại phải gọi điện nhờ HTND khác “chữa cháy”. Tất nhiên, không có thời gian để nghiên cứu hồ sơ nên trước khi khai mạc phiên tòa, các vị HTND được Thẩm phán (chủ tọa phiên tòa) nêu“đại khái” một số tình tiết, nội dung giúp HTND nắm sơ bộ để có thể yên tâm ngồi vào vị trí xét xử cho đủ thành phần theo luật định. Những trường hợp này, phiên tòa khai mạc rất muộn và thường kéo dài. Nếu không có vị HTND nào tham gia thì đương nhiên phiên tòa bị hoãn lại, gây phiền toái cho người dân, ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của pháp đình. Quá trình tố tụng, do hạn chế về kiến thức pháp luật và không nắm rõ tình tiết vụ án nên có những HTND thẩm vấn nhiều câu hỏi không có trọng tâm, gây cười cho những người tham dự phiên Tòa.

Continue reading

TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM

VŨ THỊ NGỌC HÀ

Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án cần bắt đầu từ thẩm phán, những người đại diện cho công lý, bảo vệ công lý. Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động xét xử theo nguyên tắc Hiến định: “…Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử

Nguyên tắc: “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được đề cập một cách manh nha trong Bộ luật Hồng Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan kể trên phải xét xử cho công bằng và đúng pháp luật”. Điều 720 cũng qui định: “Không ai được cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo”. Tuy nhiên, đấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử độc lập.

Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 04 bản Hiến pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy có sự thay đổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử đều được qui định trong các bản hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của tòa án. 

Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã nâng cao trách nhiệm của các thẩm phán, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện Kiểm sát đưa ra.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VIỆC GIỚI THIỆU BẦU VÀ ĐỀ NGHỊ MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN NƠI KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;
Căn cứ Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 Ủy ban Thường vụ Quốc hội về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Sau khi thống nhất với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giới thiệu bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân đối với những Tòa án nhân dân huyện, quận, mà ở đó không tổ chức Hội đồng nhân dân như sau:

I. VỀ CƠ CẤU, SỐ LƯỢNG, TIÊU CHUẨN HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ HỒ SƠ NHÂN SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN

Về cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn Hội thẩm Tòa án nhân dân và hồ sơ nhân sự của người được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2004/TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 1 tháng 3 năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân.

II. VỀ VIỆC CHUẨN BỊ NHÂN SỰ VÀ GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM

Việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước một: Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, căn cứ vào nhu cầu xét xử của đơn vị mình thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận về cơ cấu, thành phần, số lượng nhân sự dự kiến đưa ra bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận.

Bước hai: Căn cứ kết quả thống nhất ở bước một, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận chủ trì và phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, xem xét lại đội ngũ Hội thẩm Tòa án nhân dân đương nhiệm những trường hợp vẫn đảm bảo tiêu chuẩn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đủ điều kiện thì đưa vào danh sách giới thiệu bầu. Nếu còn thiếu thành phần nào thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận hiệp thương với các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự kiến giới thiệu người bầu làm Hội thẩm Tòa án nhân dân.

Bước ba: Sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận lập danh sách và hồ sơ nhân sự được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận để báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Continue reading

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. NGUYỄN NGỌC KHÁNH – Phó Tổng biên tập Tạp chí Kiểm sát

1. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát (Viện công tố) của một số nước trên thế giới trong tố tụng dân sự

1.1. Vị trí, vai trò Viện công tố Pháp trong tố tụng dân sự

Viện công tố Pháp có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với hai tư cách: Thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố có thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự, đưa yêu cầu giải quyết việc dân sự ra trước Toà án (như đưa ra yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay là đã chết, đưa ra yêu cầu Toà án chỉ định người quản lý di sản thừa kế…), hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện; thứ hai, với vai trò đại diện và bảo vệ luật pháp, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) và tham gia tố tụng để cho ý kiến về việc áp dụng pháp luật tại phiên toà giải quyết vụ việc dân sự.

1.2. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát Liên bang Nga trong tố tụng dân sự

Viện kiểm sát Liên bang Nga tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, Kiểm sát viên Liên bang Nga thực hiện 2 nhóm quyền cơ bản: Thứ nhất, khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương; thứ hai, tham gia tố tụng và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ, hoặc trong những trường hợp khác do luật quy định.

1.3. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát Trung Quốc trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, vị trí, vai trò Viện kiểm sát Trung Quốc được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: Thứ nhất, nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng để khởi kiện vụ án dân sự, cụ thể là trường hợp tài sản quốc gia, tài sản tập thể bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên, mà cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không tự đề xuất khởi kiện dân sự, Viện kiểm sát có thể quyết định việc khởi kiện dân sự kèm theo cùng với việc đưa ra cáo trạng buộc tội. Việc khởi kiện dân sự sẽ được xét xử đồng thời với vụ án hình sự. Kiểm sát viên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án có quyền, nghĩa vụ tương tự như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ nộp các lệ phí tố tụng; thứ hai, thực hiện chức năng giám sát pháp luật trong tố tụng dân sự thông qua hoạt động kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯ KÝ TOÀ ÁN VỚI THẨM PHÁN, HỘI THẨM TOÀ ÁN, VIỆN KIỂM SÁT VÀ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT, XÉT XỬ CÁC LOẠI VỤ ÁN

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phán TANDTC

I. Một số khái niệm chung

Mối quan hệ giữa Thư ký Toà án với Thẩm phán, Hội thẩm Toà án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác được hiểu là mối quan hệ của Thư ký với những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Đây là những mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở pháp luật tố tụng, chỉ phát sinh khi những cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được xác lập trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời đây cũng là mối quan hệ phối hợp để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vụ án đúng đắn.

1. Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự:

1.1. Cơ quan tiến hành tố tụng:

* Cơ quan điều tra bao gồm: Công an nhân dân, Quân đội, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan điều tra nói trên phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thủ trưởng các cơ quan nêu trên được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự .

* Viện kiểm sát nhân dân các cấp: thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự)

Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; nếu thấy cần thiết thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn: bắt, giữ, tạm giam… Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ của cơ quan điều tra; yêu cầu truy nã bị can; quyết định truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi Kiểm sát điều tra (kiểm sát quá trình điều tra từ khởi tố đến các hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án; kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp vè thẩm quyền điều tra, yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật, xử lý điều tra viên khi có vi phạm; kiến nghị các cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm…).

* Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan xét xử của Nhà nước. Thẩm quyền xét xử của Toà án về hình sự được quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể là:

Continue reading

35 THẨM PHÁN BỊ KỶ LUẬT, TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Con số này được đưa ra tại  hội nghị triển khai công tác năm 2008 của ngành toà án sáng 22/1. Theo đó, toàn ngành còn hơn 200 thẩm phán chưa có bằng đại học luật, 11 thẩm phán toà án địa phương chưa được bổ nhiệm lại vì không hoàn thành nhiệm vụ.

Gần 1/2 án dân sự được hòa giải thành công

Theo báo cáo năm 2007, các toà án đã giải quyết được gần 250.000 vụ án trong tổng số gần 270.000 vụ án đã thụ lý (đạt 92,7%). Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ chiếm 1,2% (tăng 0,18% so với năm 2006); bản án bị sửa chiếm 2,89%.

Continue reading

QUI CHẾ ĐỐI VỚI THẨM PHÁN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Các quy chế đối với Thẩm phán là yếu tố quan trọng quyết định đến sự công bằng, chính xác trong việc xử án. Với các nước khác nhau có những quy định về vấn đề này không giống nhau.

Ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các thẩm phán không bị lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào khác của Nhà nước, các Thẩm phán được đảm bảo về mặt pháp lý, quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán. Thẩm phán được bảo vệ trước mọi sự đe doạn và tấn công khi làm nhiệm vụ. Không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các Thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ luật nếu chưa có Quyết định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành lập tại Toà án tối cao. Tuy nhiên, Chánh án Toà án tối cao có thể ra quyết định buộc thôi việc đối với những thẩm phán có hạn chế về sức khoẻ theo đề nghị của Hội đồng thẩm phán Toà án tối cao.

Ở Malaixia, các Thẩm phán phải đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, trừ khi bị sa thải do những hành vi sai trái. Lương của Thẩm phán được quy định bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Chánh án Toà án tối cao. Chỉ có Thẩm phán mới có quyền tài phán. Hiến pháp cho các Thẩm phán thẩm quyền khá rộng. Với tính chất độc lập của mình, cơ quan Tư pháp không phải chịu một sự kiểm sát nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vật chất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản lý. Song cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào chuyên môn của cơ quan xét xử. Họ không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào trong khi thực hiện hoạt động xét xử của mình. Tuy nhiên, khi xét xử, Thẩm phán rất chú trọng tời lập luận của Luật sư và Công tố viêc trước khi đưa ra những phán quyết cuối cùng theo quy định của pháp luật. Khi Thẩm phán nghi ngờ là có tội hay không có tội thì bị cáo được xem như là vô tội. Trong trường hợp bị cáo có tội thì Thẩm phán cho bị cáo nói lời sau cùng trước khi đưa ra quyết định của Toà án.

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, về nguyên tắc, các Thẩm phán không thể bị thuyên chuyển khỏi chức vụ mà họ đang giữ nếu không có sự đồng ý của họ, trừ trường hợp thuyên chuyển trong khuôn khổ của trình tự tố tụng. Các Thẩm phán có quyền tài phán, độc lập xét xử. Sự độc lập này thể hiện họ không phải chịu bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào khi thực hiện nhiệm vụ xét xử của mình.

SOURCE: HAIPHONG.GOV.VN

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN ĐỐI VỚI VIỆC MỞ RỘNG TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

TƯỞNG DUY LƯỢNG & NGUYỄN VĂNNG – Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. CHỦ THỂ THAM GIA TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Nhận thức về tranh tụng mở rộng tại Tòa án:

Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lấy phần phải”. Như vậy, từ điển Hán Việt chỉ giải thích theo ngữ nghĩa của từ tranh chấp, chứ không phải “tranh” theo một trình tự tố tụng.

Còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng là việc “yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình”. Do đó, tranh tụng chỉ đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tồ chức cho rằng quyền lợi của họ hay của người khác bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ cho họ. Yêu cầu này được Tòa án chấp nhận giải quyết theo trình tự tố tụng pháp luật quy định, khi việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự diễn ra từ khi bắt đầu khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung cho đến kết thúc giai đoạn tranh luận tại phiên tòa.

Các đương sự tham gia vào các giai đoạn này luôn đưa ra yêu cầu Tòa án xét xử theo hướng có lợi cho mình và đồng thời đưa ra lý lẽ để biện minh cho yêu cầu của mình đặt

ra là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay có quan điểm cho rằng tố tụng của Việt Nam là

tố tụng xét hỏi, do đó tranh tụng chỉ có trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa. Bởi lẽ, từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa các thẩm phán phải trực tiếp điều tra, thu thập chứng cứ,

có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp, có căn cứ về yêu cầu của các bên. Thực tế cho thấy, trước giai đoạn tranh luận, không có việc các bên đương sự đối đáp, tranh tụng trực tiếp với nhau, chỉ đến giai đoạn tranh luận thì mới xuất hiện sự tranh tụng, còn điều tra, xét hỏi tại phiên tòa thực chất là quá trình Tòa án tìm ra sự thật vụ án, chưa xuất hiện tranh tụng trong các giai đoạn này. Chúng tôi cho rằng cách hiểu về tranh tụng trong quan điểm này, chỉ coi sự đối đáp trực tiếp mới là tranh tụng sẽ không đầy đủ. Có lẽ cách hiểu đúng về thuật ngữ tranh tụng phải bao gồm cả đối đáp trực tiếp và cả sự “đối đáp” gián

tiếp. Trong đó một yếu tố không thể thiếu để có được sự tranh tụng thực sự đó là việc các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ, thông tin cho nhau, qua đó, các bên đưa ra lập luận, lý lẽ, chứng cứ được thể hiện bằng văn bản nhằm bác bỏ quan điểm phía bên kia.

Do đó, dù Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự còn nhiều hạn chế nhưng các quy định của Pháp lệnh đã phần nào thể hiện sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, còn dự thảo 12 Bộ luật tố tụng dân sự đã thể hiện một cách rõ nét sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, vai trò của các bên đương sự trong tố tụng đã được đề cao rất nhiều, nó thể hiện ngay trong trách nhiệm của các bên đương sự trong quá trình tố tụng.

2. Chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự, bao gồm:

– Đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được Viện kiểm sát khởi tố

vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa

vụ của họ.

– Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây có thể được chấp nhận làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư không bị cấm thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không phải là cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an; Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

– Các cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

– Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động.

– Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền,

lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng khác.

– Người đại diện.

Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự, như: đại diện cho đương sự là người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc đại diện cho cơ quan, tổ chức… Tuy nhiên, các trường hợp sau đây sẽ bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự: nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người đại diện mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền,

lợi ích hợp pháp của người được đại diện; nếu họ đang là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án; cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Thực tiễn tùy từng vụ án mà các đối tượng có thể tham gia tranh tụng do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Họ cũng có thể tham gia từ khi thụ lý vụ án, nhưng cũng có thể tham gia vào những giai đoạn tố tụng khác nhau. Khi tham gia tranh tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ được quy định trong tố tụng dân sự.

3. Sự khác nhau giữa tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng trong tố tụng hình sự:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra trong các phiên tòa mà phần tranh tụng chủ yếu là ở phần tranh luận; tại đây giữa các bên đã đối đáp nhau một cách trực tiếp. Chủ thể tranh tụng trong tố tụng hình sự bao gồm: Viện kiểm sát và người bị hại, nguyên đơn dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại, đại diện cho bị hại, nguyên đơn dân sự…, luật

sư của các bên và bị cáo.

Như vậy, trong tranh luận sẽ hình thành 2 tuyến chủ thể chủ yếu, đó là người buộc tội, còn một bên là người gỡ tội. Mặc dù bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng bị cáo và những người thuộc tuyến chủ thể này có quyền chứng minh sự vô tội của mình, họ đưa ra các căn cứ, lý lẽ, lập luận bác bỏ sự buộc tội của phía bên kia. Về nguyên tắc thì các bên đều bình đẳng với nhau trong quá trình tranh tụng. Nhưng thực tế bên bị buộc tội khó có thể có được sự bình đẳng thực sự trong tranh tụng, vì chính họ có thể bị thiếu những điều kiện, phương tiện và khả năng để thực hiện được sự bình đẳng trong tranh tụng. Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra tại phiên tòa, còn tranh tụng tố tụng trong dân sự diễn ra kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và giữa các bên trong quá trình tranh tụng hoàn toàn bình đẳng. Trong tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát là cơ quan đại diện quyền lực cho nhà nước, luôn luôn là một chủ thể phải tham gia tranh tụng với tư cách là người buộc tội, còn trong dân sự Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức xã hội chỉ tham gia tranh tụng khi họ là người khởi kiện hoặc khởi tố vụ án. Đây có thể là những dấu hiệu

cơ bản để phân biệt tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự.

II. VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tranh tụng là một hoạt động quan trọng trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Nó chỉ diễn ra trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là hoạt động của chủ thể trong quá trình chứng minh về tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu mà họ đặt ra hoặc chứng minh về tính bất hợp pháp, thiếu căn cứ về các yêu cầu mà phía đương sự bên kia đưa ra. Trong quá trình tranh tụng các bên đương sự sẽ đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, những lập luận nhằm bảo vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của đối phương. Do đó, tất cả các hoạt động như trình bày các yêu cầu của mình trong đơn, các bản tự khai trong đó đưa ra các lý lẽ, chứng cứ, lập luận, yêu cầu, phản yêu cầu, cung cấp chứng cứ, bằng chứng hoặc sự đối chất qua các bên, quá trình trao đổi

tài liệu chứng cứ cho nhau diễn ra trước khi mở phiên tòa, chính là quá trình các đương

sự thực hiện sự tranh tụng. Trong suốt quá trình tố tụng đó, vai trò của thẩm phán là rất quan trọng, thậm chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, hay là một bên trong quá trình tranh tụng nhưng với tư cách là người đại diện cho nhà nước, thực thi công lý, họ có vai trò là người trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật.

Nếu việc tranh tụng đó diễn ra tại phiên tòa thì vai trò của thẩm phán được thể hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên tòa là nơi sẽ diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn này vai trò của thẩm phán trong tranh tụng cũng được thể hiện một

cách nổi bật, thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm vào những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn, cần làm rõ của vụ kiện.

Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng thì thẩm phán lại có vai trò khác nhau:

1. Giai đoạn khởi kiện, khởi tố và thụ lý, điều tra vụ án:

Thẩm phán kiểm tra đơn khởi kiện, quyết định khởi tố có đủ điều kiện thụ lý hay không. Chỉ có các trường hợp sau đây thì đơn khởi kiện, khởi tố sẽ không được thụ lý:

– Thời hiệu khởi kiện đã hết;

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ các vụ án ly hôn mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc các vụ kiện đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho ở nhờ, mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện;

– Hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, khởi tố;

– Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Còn trong trường hợp khác thẩm phán phải thụ lý, nếu trong trường hợp đơn khởi kiện, khởi tố không đúng quy định của pháp luật thì yêu cầu người khởi kiện, khởi tố sửa đổi,

bổ sung đơn khởi kiện, quyết định khởi tố.

Sau khi thụ lý, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho các nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đồng thời yêu cầu họ đưa ta các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu của mình đưa ra là chính đáng và ngược lại đối với bên bị yêu cầu, nếu họ không chấp nhận yêu cầu của phía bên kia thì cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để bác bỏ yêu cầu của phía bên kia. Vấn đề này thể hiện thông qua đơn khiếu nại, giải trình, lấy lời khai đương sự, đối chất các chứng cứ tài liệu

do các bên xuất trình…

Trong quá trình tranh tụng các đương sự có thể yêu cầu hoặc Tòa án thấy cần thiết có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; trưng cầu giám định; quyết định,

định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác việc thu thập chứng cứ, sắp tới khi Bộ luật tố tụng dân sự thông qua, với yêu cầu nâng cao vai trò nghĩa vụ chứng minh của đương sự, để các bên có được thông tin khi thực hiện việc tranh tụng thì thẩm phán phải yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ của mình cho phía bên kia. Vì vậy, nếu thiếu vai trò tích cực của thẩm phán thì vấn đề tranh tụng của các đương sự không được thực hiện một cách triệt để. Đây là giai đoạn tranh tụng thể hiện bằng các hành vi pháp

lý, thông qua các hình thức văn bản là chủ yếu nhằm chuẩn bị cho tranh tụng có sự đối đáp trực tiếp tại phiên tòa.

2. Vai trò của thẩm phán đối với vấn đề tranh tụng trong phiên tòa:

* Về thủ tục xét hỏi

– Bắt đầu vào thủ tục xét hỏi, Hội đồng xét xử lần lượt nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của họ… Nếu tổ chức xã hội hoặc Viện kiểm sát… là người khởi tố thì Viện kiểm sát, tổ chức khởi kiện được trình bày và phát biểu trước. Người trình bày có quyền nêu rõ nội dung sự việc và yêu cầu, đồng thời xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

– Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện, hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng nói rõ những việc liên quan đến việc tranh chấp mà họ biết.

+ Trước khi nghe lời trình bày của người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu người làm chứng tuyên thệ trước Tòa là chỉ nói đúng sự thật.

+ Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu, người giám hộ giúp đỡ để hỏi.

– Hội đồng xét xử tiến hành xem xét các vật chứng và hướng dẫn cho đại diện Viện kiểm sát, đại diện của tổ chức, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự xem xét các vật chứng tại phiên tòa.

Nếu vật chứng không đưa đến phiên tòa được, khi cần thiết Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đến xem xét tại chỗ.

– Chủ tọa phiên tòa công bố bản kết luận giám định, nếu người giám định vắng mặt hoặc mời người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Người giám định có quyền giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định tại phiên tòa.

– Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát lần lượt đặt câu hỏi đối với từng vấn đề đang

có tranh chấp, câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, người được hỏi phải trả lời ngắn gọn và đúng vấn đề được hỏi và yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ kiện mà người đó đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

– Nếu thấy cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể cho đối chất ngay tại phiên tòa giữa những người đã trình bày về những điểm có mâu thuẫn.

– Những người tham gia tố tụng khác có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn

đề cần được hỏi thêm hoặc yêu cầu thu thập thêm chứng cứ. Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu đó và căn cứ vào tình tiết vụ án đề quyết định.

Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, luật sư… thực hiện đặt câu hỏi với phía bên kia, đối với người làm chứng, giám định và những người tham gia tố tụng khác về các tình tiết liên quan đến vụ án.

+ Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh tính hợp pháp của chứng cứ, nếu thấy việc đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ kiện.

+ Trường hợp chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm vật chứng, nếu không thực hiện được ngay, thì có thể phải dừng phiên tòa.

Trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử mà đặc biệt vai trò của thẩm phán chủ tọa là người chủ trì, điều khiển đảm bảo phiên tòa diễn ra một cách trật tự. Hội đồng xét xử phải khách quan tập trung lắng nghe lời khai của các bên, của các nhân chứng… lời phát biểu của luật sư, của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.

* Thủ tục tranh luận tại phiên tòa.

– Sau khi kết thúc việc xét hỏi, nếu không phải hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ việc xét xử thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận.

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bảo vệ quyền, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó lần lượt lập luận về các tình tiết của vụ kiện, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý và đề xuất hướng giải quyết vụ kiện. Nếu Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện hoặc cá nhân, tổ chức khởi kiện lợi ích của người khác thì Kiểm sát viên, cá nhân hoặc đại diện của tổ chức đó trình bày ý kiến của mình đầu tiên.

– Trong trường hợp đương sự có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa, trình bày

ý kiến trước thì người đại diện hợp pháp có quyền bổ sung hoặc nếu người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến trước thì đương sự được quyền trình bày ý kiến bổ sung.

– Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng thông thường họ chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Tuy nhiên, đối với tình tiết hoặc chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nội dung tranh chấp, Chủ tọa phiên tòa có thể để các bên tranh luận thêm. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ kiện.

– Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận, để việc tranh luận có chất lượng thì chủ tọa phải xác định những vấn đề mà các bên cần tranh luận với nhau, hướng việc tranh luận vào trọng tâm, vào những điều cần phải làm rõ để xác định sự thật, xác định được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

– Nếu qua tranh luận thấy việc điều tra vụ án chưa toàn diện thì có thể dừng phiên tòa

để điều tra bổ sung, nếu cần thấy phải xem xét thêm vật chứng, xét hỏi thêm thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại giai đoạn xét hỏi và sau đó lại tiếp tục tranh luận.

Tóm lại, quy trình tranh tụng như trên cho thấy thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng tranh tụng, nếu không có thẩm phán tham gia thì không thể có tranh tụng như luật quy định. Đối với các đương sự họ là nhân vật trọng tâm, là chủ thể chính của việc tranh tụng còn thẩm phán giữ vai trò là người tổ chức, điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật và là người trọng tài để đưa ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ, các quy định của pháp luật mà các đương sự đã chứng minh là đúng đắn trong quá trình tranh tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2 /2004

CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THẨM PHÁN THEO LUẬT PHÁP LIÊN BANG NGA

Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ. Ở Cộng hoà Liên bang Nga, nghề thẩm phán là một trong những nghề rất được xã hội trọng vọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi.

Một bộ phận cốt lõi của hệ thống tư pháp là cơ quan xét xử. Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư­.

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như­ quyền lợi của họ. Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn, quyền tài phán và quyền đư­ợc bảo vệ. Thẩm phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn đư­ợc mở rộng đến nơi ở, nơi làm việc, phư­ơng tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ đư­ợc áp dụng khi Thẩm phán đ­ương nhiệm mà còn cả khi họ về hư­u, từ chức.

Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán đư­ợc hư­ởng lư­ơng, lư­ơng hư­u và phụ cấp tư­ơng xứng. Thẩm phán đư­ợc cấp nhà, đ­ược miễn hoặc ư­u tiên trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như­: đư­ợc quyền sử dụng các phư­ơng tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được quyền giữ chỗ trư­ớc, phục vụ ­ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ và điều trị y tế không phải trả tiền. Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm phán đ­ược bảo hiểm bắt buộc lấy từ ngân sách Liên bang. Thẩm phán nghỉ hư­u mà vẫn tiếp tục nhiệm vụ của Thẩm phán thì đ­ược trả đủ lư­ơng h­ưu và tiền lương.

Ph­ương Yến (St) – HAIPHONG.GOV.VN

BÀI BIỆN HỘ CHO ÔNG CHÁNH ÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Giống như các chàng công tử quý phái thời La Mã cổ đại khi thấy những người thứ dân bị xét xử ở tòa, họ đã tình nguyện vào biện hộ không đòi chi phí; từ đó tạo nên nghề luật sư, và tiền trả cho luật sư được gọi là thù lao. Tôi không phải là quý tộc, ông Chánh án Tòa tối cao cũng chẳng phải là thứ dân; ông cũng chẳng khiến tôi làm; nhưng khi thấy ông bị Quốc hội chất vấn thì “máu nghề nghiệp” của tôi nổi lên và tôi xin nộp bản biện hộ này lên công luận để bênh vực cho ông. Vì thực sự là Ông Chánh án không hề nhờ tôi; nên tôi xin quý vị đang đọc giả vờ làm đại biểu để tôi có thể làm công việc của mình. Nếu Viện Kiểm sát có bản cáo trạng thì- là luật sư – tôi có bản biện minh trạng cho thân chủ của mình. Và nó như thế này.

Trong cuộc chất vấn, thân chủ chúng tôi đã được yêu cầu giải trình chín vấn đề: năm vấn đề liên quan đến nền tảng hệ thống tư pháp; bốn vấn đề mang tính vụ việc. Năm vấn đề đầu có thể rút lại còn ba là: bản án bị sửa và oan sai; dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết; duyệt án cùng tiền lệ của vụ Đồ Sơn. Cái gì là nền tảng thì sẽ lâu dài, từ xưa để lại và sau này vẫn còn. Cái gì là vụ việc thì sẽ ngắn, giải quyết xong thì hết. Ở đây tôi xin biện hộ cho thân chủ chúng tôi về các vấn đề có tính nền tảng còn xin để các vấn đề kia cho các đồng nghiệp khác.

1. Tổng quát

Đối với các vấn đề có tính chất là từ xưa để lại và sau này vẫn còn thì thân chủ chúng tôi mới tại chức trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi được quý vị tin tưởng và bổ nhiệm vào chức vụ hiện thời thì tình cảnh của thân chủ tôi giống như một người được cho vào ở một căn nhà xây đã lâu, về mỹ thuật thì nó rất đẹp, không nước nào có; nhưng về kỹ thuật thì thuộc loại tồi. Chính cái tính chất sau của nó mà nay khi nó bị mưa to gió lớn đánh vào, quý vị sốt ruột với thân chủ chúng tôi, chủ nhân căn nhà.

Với năm vấn đề mà quý vị đã nêu thì căn nhà kia giống như đang bị dột. Quả thật nó đang bị dột! Căn nhà bị dột thì thân chủ chúng tôi gánh chịu hậu quả ngay! Ấy là sự chất vấn của quý vị. Thế nhưng căn nhà kia không phải do thân chủ chúng tôi xây lên. Do đó, việc nó bị dột không phải lỗi của thân chủ chúng tôi. Từ quan niệm, kiểu thiết kế, đến lối xây dựng căn nhà đó, tất cả do những người trước để lại; mà những người trước ấy chính là các vị tiền nhiệm của quý vị. Họ đã thiết lập khi bỏ phiếu biểu quyết tán đồng, mà thường là 90% hay hơn. Căn nhà ấy đã được xây dựng với một nhiệt tình cách mạng; trong đó nhà nước nắm tất cả, và ban phát tất cả cho dân chúng như ước nguyện của họ. Làm như thế là để thiết lập một chế độ chính trị vạn lần đẹp hơn tất cả những cái đã có trong lịch sử trước kia. Do vậy, khi thiết kế căn nhà các kiến trúc sư đã không hề xem đến kinh nghiệm đã có hàng trăm năm nay của các hệ thống tư pháp khác vốn cũng đã trải qua những khó khăn như chúng ta và đã tìm ra giải pháp, tuy chúng mang tính tương đối nhưng mọi người bị buộc phải chấp nhận; nhờ thế nó tạo nên trật tự trong cuộc sống xã hội. Chúng ta chê bai tính tương đối của các hệ thống kia, cho rằng chúng thiếu tính triệt để và đã xây căn nhà của mình với mục đích đạt đến cái tuyệt đối vốn không có trên thế gian này: theo đuổi công lýý đến cùng! Do vậy căn nhà kia… bị dột! Và quý vị đang buộc thân chủ chúng tôi phải chịu trách nhiệm!

Do sự công bằng mà chúng ta theo đuổi, nên chăng thân chủ chúng tôi phải được đánh giá theo quan điểm (i) có nhận ra các điều trên không; (ii) đã chữa được đến đâu; chứ không phải theo quan điểm: tại sao, trách nhiệm thế nào và đến đâu?

Chúng tôi cho rằng thân chủ của chúng tôi phải được xem xét một cách công bằng hơn; bởi vì nhiều công việc chúng ta đang làm hiện nay và sau này, trong một số lãnh vực nào đó – trong đó có tư pháp – chỉ là sửa chữa những hậu quả để lại của nhiều thế hệ trước kia. Họ đã thực hiện công việc của mình dựa trên những qui luật rút ra từ kết quả của những cuộc nghiên cứu khoa học, công phu, theo một diện rộng và trải qua nhiều thời đại. Tuy nhiên họ đã không nhận ra được rằng đấy là quy luật rút ra từ những người đã chết và khi biến chúng thành luật pháp áp dụng cho từng cá nhân đang sống thì người sau không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp hành. Người đang sống không thể làm theo cách làm của người đã chết. Họ có thể theo gương về mặt tinh thần; nhưng không thể hành động theo khuôn khổ của người đã chết mà nay qui định thành “pháp lệnh” và bị chế tài. Mục đích việc làm không xấu, nhưng nó không khả thi và bây giờ để lại nhiều hậu quả, đặc biệt là về tâm lý. Vậy bây giờ chúng ta tất cả cần nhận ra điều này để cùng bắt tay sửa chữa trong địa vị, hoàn cảnh và khả năng của mình; chứ không phải tìm cách đổ tội cho ai đó. Nói đến đây, chúng tôi nghĩ đến những người đã từng thực hiện các việc kia; nay đứng ngoài chỉ trích làm như mình vô can! Thật đáng khen ngợi!

Vậy khi đặt ra trách nhiệm ấy cho thân chủ chúng tôi, thì nên chăng quý vị cũng đặt ra trách nhiệm cho chính mình rằng phải làm gì để giúp đỡ những người như thân chủ chúng tôi hầu họ có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiệm vụ của họ. Phải chăng quý vị chỉ quy trách để có thể nói với cử tri: “Vâng chúng tôi có nói rồi”; nghĩa là chỉ làm để cho nồi xúp de xì hơi an toàn rồi đâu vẫn vào đấy? Để không miên man trong phần tổng quát, chúng tôi xin đi vào các vấn đề cụ thể, phụ thêm cho những gì thân chủ chúng tôi đã trình bày.

2. Bản án bị sửa và oan sai

Bản án bị sửa và oan sai là do trình độ của thẩm phán. Vâng đúng vậy. Việc này liên quan đến: sự tuyển chọn thẩm phán, trình độ thẩm phán và sự trợ giúp thẩm phán nâng cao trình độ theo một cơ chế tự động và nội tại. Ba công việc này hiện nay ra sao? Chúng ta hãy nhìn vào sự thật. Vì nếu chúng chưa được giải quyết thì với việc phải “đôn” lái xe và đánh máy lên làm thẩm phán, dẫu có nói là “vơ vét” hay không cũng chỉ là từ ngữ sử dụng, râu ria của vấn đề.

a. Sự tuyển chọn thẩm phán

Mọi người trong ngành tư pháp đều biết hai sự kiện. Một là sinh viên tốt nghiệp thi vào làm thư ký tòa án thì phải mất khoảng bảy năm và phải vào Đảng mới đủ điều kiện làm thẩm phán. Hai là việc cho vào Đảng là quyết định của từng chi bộ tại các địa phương.
Thân chủ chúng tôi có thể làm gì trước hai thực tế này? Quý vị sẽ làm gì để khắc phục nếu không “vơ vét” như thân chủ chúng tôi?

b. Trình độ thẩm phán

Trừ một số do hoàn cảnh lịch sử để lại, các thẩm phán đều được đào tạo cơ bản ở các trường đại học luật. Kiến thức được trường luật trang bị sẽ giúp họ hành nghề sau này và mức độ trở nên thành thạo lâu hay chóng cũng tùy thuộc số kiến thức ấy. Điều này khiến chúng ta xem đến phương thức đào tạo sinh viên ở các trường luật.

Các vị đã thấy ngay từ khi thành lập, các trường đại học chuyên nghiệp đều do các bộ lập ra và nắm giữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nắm các trường đại học thuộc ngành nghệ thuật tự do (nhân văn, khoa học tự nhiên…). Sự kiện này cho thấy các trường đại học đào tạo sinh viên là để phục vụ mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của nhà nước. Do đó trong một thời gian dài sinh viên tốt nghiệp ra trường là làm cán bộ, công chức nhà nước hay vào các xí nghiệp quốc doanh. Trường luật không đi ra ngoài khuôn khổ này. Sinh viên luật được đào tạo để trở thành cán bộ hay công chức nhà nước; công việc của họ là viết luật cho dân chúng áp dụng. Họ phục vụ nhà nước. Dùng hình ảnh mô tả thì học xong “họ nhìn lên” nhà nước. Vì là người sẽ viết ra các “quy phạm pháp luật” nên luật trang bị cho họ được giảng dạy theo cách tại sao. Vậy họ được học “luật tại sao”. Và để trả lời người ta hướng họ về triết học. Luật trang bị cho sinh viên mang tính triết học và nó được gọi là “khoa học pháp lý”, rất nặng về câu chữ và lý luận. Khi quy về triết học thì không ai được đi ra ngoài các nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa. Và để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối, luật được giải thích là công cụ của chính trị, việc áp dụng nó thuộc về chủ quyền quốc gia. Khi tranh luận về luật, vấn đề quan điểm, lập trường luôn luôn được đặt nặng; người ta có khuynh hướng gạt bỏ những lập luận trái ngược rồi tự thưởng cho mình bằng cách kênh kiệu.

Tuy nhiên cuộc sống không phải do triết học thống lĩnh. Luật sở dĩ có vì nó cần thiết cho trật tự xã hội. Do đó, luật là để phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Nhà nước ban hành luật là để cho công dân áp dụng. Công dân áp dụng luật thì phải biết nó thế nào. Họ cần “luật thế nào”. Trong một quốc gia, về số lượng, thành phần nhà nước rất nhỏ so với thành phần dân chúng. Do đó sinh viên luật ra đời, để kiếm sống, họ phải phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Ngay cả thẩm phán khi xét xử thì họ cũng phục vụ xã hội. Họ nói ai phải ai trái trong một cuộc tranh chấp đang diễn ra trước mặt họ theo luật pháp của quốc gia. Khi ấy, thẩm phán trực tiếp phục vụ xã hội, gián tiếp phục vụ nhà nước. Phục vụ xã hội thì bắt buộc “họ nhìn xuống” và phải biết “luật thế nào”. Trường luật đã trang bị cho họ “luật tại sao” và “họ nhìn lên”! Thẩm phán cũng vậy, luật sư cũng thế! Họ được đào tạo theo một đường; nhưng khi hành nghề thì phải làm theo một nẻo!

Vì chỉ được dạy “luật tại sao” nên sinh viên tốt nghiệp trường luật không có một ý niệm gì về một khả năng gọi là cách suy xét theo luật học (legal reasoning). Sự tài ba của thẩm phán và của luật sư nằm ở khả năng này. Đó là khả năng biết phân tích và tổng hợp sự việc đã xẩy ra (mà mình đang xem xét để quyết định đúng hay sai), rồi lần lượt chọn ra các mảng sự việc quan trọng, nhiều ít khác nhau, hầu đặt ra các câu hỏi, cuối cùng có câu trả lời rồi áp luật pháp vào. Từ đó mới có các quyết định thuyết phục được các bên can dự. Vâng, các bên chứ không phải nhà nước.

Khi muốn biết “luật thế nào” thì ngoài cách đặt câu hỏi theo phương pháp đã nêu thì thẩm phán phải biết với những câu hỏi tương tự thì người đi trước đã giải quyết như thế nào. Vậy là phải có nhiều kinh nghiệm của người xưa truyền lại; trong luật người ta gọi là án lệ. Trong hệ thống giảng dậy luật pháp của ta, hai thứ này không có! Trình độ thẩm phán, trong những năm đầu, gây ra bởi những sự thiếu vắng này. Vậy trình độ của thẩm phán có phải hoàn toàn là trách nhiệm của thân chủ chúng tôi không?

c. Cơ chế tự động giúp thẩm phán nâng cao khả năng

Tự một mình mình, thẩm phán không thể nâng cao khả năng. Đó là sự thật giống như một học sinh không có bạn. Thẩm phán phải được hỗ trợ. Trong một vụ án hình, thẩm phán được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích trái ngược nhau: kiểm sát viên và luật sư của bị cáo. Trong một vụ dân sự thẩm phán cũng được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích khác nhau nhưng đều là luật sư. Chính khi nghe hai ý kiến khác nhau, thẩm phán xem xét và quyết định. Hệ thống tòa án chúng ta được khởi đầu bằng các vụ xử hình sự. Ở đó công lý được bảo đảm bằng một cơ cấu “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” do ba đơn vị thực hiện là công an, viện kiểm sát và tòa án. Ba đơn vị khác nhau thật, nhưng rất tiếc chúng cùng một gốc: tất cả đều là cơ quan nhà nước chưa nói đến chuyện họ cùng ở trong Ban Nội chính của một địa phương. Do đó oan sai đã xẩy ra. Phải có một đơn vị khác gốc thì mới thực sự có sự “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” hữu hiệu. Pháp lệnh luật sư ở ta chỉ mới có từ năm 1987. Nhưng họ được đối xử ra sao?

Thứ nữa, các bản án của tòa không được công bố rộng rãi. Điều này làm cho sinh viên luật muốn học thực tế, muốn tạo khả năng suy luận cũng không có phương tiện. Vì không phổ biến rộng rãi bản án; nên thẩm phán có thể viết “ý kiến luật sư không xác đáng” mà không sợ luật sư phản đối; họ cũng chẳng phải lo rằng lý lẽ của mình sẽ bị đem ra công luận để mà chau chuốt câu văn, lập luận rõ ràng. Họ thiếu cả áp lực lẫn sự kích thích để phải tuyên các bản án rõ ràng với lý luận sắc bén.

Thiếu kích thích nằm ở chỗ nhiệm kỳ năm năm của họ. Một thẩm phán muốn tự mình nâng cao khả năng thì cần một thời gian dài. Thẩm phán có còn cố gắng chăng trước câu hỏi: “liệu có được bổ nhiệm kỳ sau không?” Chân thiện mỹ là một cái gì lâu dài và phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Năm năm một lần không phải là một thời gian dài. Nó dành cho các chức vụ chính trị để tránh sự lạm dụng quyền hành và khuyến khích thay đổi trong các biện pháp đề ra. Tính chất của luật pháp khác hẳn. Nó phải tạo ra sự ổn định và tiên đoán được; do dó nó cần bền vững và có biểu tượng của sự bền vững để hôm nay khi nhìn lại hôm qua mọi người biết về ngày mai. Thẩm phán là biểu hiện của sự bền vững đó. Nhiệm kỳ năm năm là không phù hợp cho cố gắng muốn nâng cao khả năng mình của thẩm phán cũng như cho biểu hiện về sự bền vững của tòa án. Có sự nhầm lẫn về bản chất giữa chính trị và tư pháp.

3. Dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết

Vấn đề này liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự nhiều hơn là hình sự; bởi vì đa số các vụ hình sự đều trở thành chung quyết tại cấp phúc thẩm; chỉ có các vụ dân sự mới lên tới tòa tối cao.

Nói đến việc tòa án nhân dân tối cao có giải quyết hay không việc kêu oan của dân chúng thì phải nhìn vấn đề trong một tổng thể. Thứ nhất là việc xét xử ở cấp sơ thẩm rồi phúc thẩm; vì nếu hai cấp này đã giải quyết công minh vụ việc thì không cần phải đưa cấp tối cao. Thứ hai là bằng chứng vì việc xét xử ở các phiên tòa thực sự là việc xem xét bằng chứng mà các bên nêu ra để dựa trên đó luật được áp dụng và bản án được tuyên.

a. Việc xét xử ở các cấp tòa

Trong một vụ án có hai vấn đề tòa phải xem xét để ra bản án. Lấy một vụ đi vay tiền để nói cho dễ hiểu. A nói với B cho vay 5 tỉ và hẹn sau một năm sẽ trả lại. Nếu A không trả nợ hết mà bị đưa ra tòa thì ở đây có hai vấn đề: (i) việc đưa tiền cho vay và trả nợ và (ii) sự cam kết sẽ trả lại. Vấn đề (i) là sự kiện, còn (ii) là pháp lý. Vấn đề (i) liên quan đến bằng chứng, là đi tìm sự thật; vấn đề (ii) liên quan đến khả năng lập luận của thẩm phán để áp dụng luật có liên quan. Để bảo đảm sự công minh một vụ án được xét lần đầu tại cấp sơ thẩm; nếu bên nào không thích bản án sơ thẩm thì có quyền đem nội vụ lên cấp phúc thẩm rồi sau đó cấp tối cao.

Khi có hai vấn đề phải xem xét trong một vụ và ở các cấp tòa khác nhau thì luật tố tụng ấn định tòa các cấp sẽ xét xử cả hai vấn đề như nhau hay mỗi cấp chú trọng từng vấn đề khác nhau. Nghĩa là các tòa sẽ xét xử trùng nhau hay không. Do luật lệ về bằng chứng sẽ đề cập sau này tòa án ở chúng ta xem xét trùng lập ở cả ba cấp vì chúng ta coi trọng “sự thật khách quan”. Do cả ba cấp làm trùng nhau nên hiện nay việc xét xử các vụ dân sự của ta không có điểm dừng. Hệ thống ba cấp giống như cái thang có ba bậc, các bên tranh chấp có thể leo lên đến bậc cao nhất rồi lại xuống bậc thấp nhất rồi lại đi lên tiếp! Có vụ kéo dài đến cả chục năm. Bởi thế, sự hữu hiệu của hệ thống tòa án ta kém; niềm tin của dân chúng vào tòa án thấp. Khi thấy tòa xử kéo dài một vụ xù nợ, một người hàng xóm sẽ rút ra kết luận rằng cứ đi vay rồi xù cũng chẳng sao; tức là khi không sợ quyền uy của tòa án thì người ta lại càng hay làm sai rồi lại càng đưa ra tòa xử. Thủ tục tố tụng như thế này khuyến khích sự sai trái và làm tòa án bị tràn ngập công việc; tòa càng bị càng trở nên kém hữu hiệu. Do vậy mới có đề nghị – về mặt thủ tục là – tòa án tối cao không nên xem xét bằng chứng mới; nghĩa là không xử các việc mà dân chúng kêu oan. Khi nghe đề nghị như thế thì thân chủ chúng tôi cũng đã xem xét thấu đáo thủ tục xét xử ở các nước khác. Ở đó luật tố tụng của họ cho tòa phúc thẩm không xem xét bằng chứng mới; còn cấp tối cao chỉ xét xử khi quyết định của tòa phúc thẩm không đúng với hiến pháp.

Có vị đại biểu đã tuyên bố phải để cho dân kiện lên đến tòa tối cao hầu bảo đảm quyền khiếu nại của họ. Quyền ấy là cao nhất. Khi nói như thế vị đại biểu ấy đã cố thiết lập “sự tuyệt đối” trên thế gian này! Buộc cả ba cấp tòa phải xử như nhau. Điều mà đã gây ra sự thiếu kính trọng đối với tòa án, biểu tượng của quyền uy của quốc gia hiện nay. Chúng ta hãy xem ở các hệ thống pháp luật khác người ta làm như thế nào và họ có bảo vệ “quyền cao nhất” của người dân hay không?

Trong các hệ thống pháp luật khác – thông luật của Anh, Mỹ; dân luật của Pháp, Đức – luật tố tụng của họ quy định (qua văn bản hay tập tục) tòa sơ thẩm xem xét các vấn đề pháp lý lẫn sự kiện và tuyên án; nếu một trong hai bên kháng cáo thì tòa phúc thẩm chỉ xem các vấn đề pháp lý của bản án đã tuyên. Rất hiếm khi tòa phúc thẩm xem chứng cứ mới vì coi rằng tòa sơ thẩm đã làm đủ và đúng theo luật. Để làm việc ấy, luật tố tụng dân sự của họ được xây dựng trên hai nền tảng chính liên quan đến bằng chứng.

b. Luật về bằng chứng

Luật của ta chỉ liệt kê các loại chứng cứ mà không ấn định loại nào có giá trị hơn loại nào và để cho tòa thẩm định. Vì thế, luật mới sợ tòa dưới thẩm định sai và cho tòa trên được xem xét lại, không sợ trùng việc vì nguyên lý nền tảng là “sự thật khách quan”.
Ở Pháp hay Mỹ họ có luật về mức độ tin cậy của bằng chứng. Ở Pháp công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư (vì thế mới có công chứng viên). Ở Mỹ bằng chứng có giá trị phải là bằng chứng có liên quan (relevant), chứ không phải là của bất cứ ai (hearsay), hay của những ai được phép không phải tiết lộ (privileged). Để ý ta thấy luật của họ lấy bằng chứng (một sự kiện vật chất) làm nền tảng; còn chúng ta lấy sự thẩm định của thẩm phán làm gốc; (tức là lấy con người). Vì bằng chứng là nền tảng nên luật tố tụng của Mỹ cho phép hai bên “đào bới” bằng chứng. Nguyên đơn có thể xin tòa buộc bị đơn phải trưng ra bằng chứng dẫu bất lợi cho mình. Họ không cho giấu bằng chứng. Luật của Pháp cho xét xử bằng giấy tờ; nghĩa là thẩm phán dựa theo các bản lý đoán của hai bên mà quyết. Mỗi bên cứ nêu bằng chứng và lập luận lên tòa; qua luật sư, họ phải gửi bản sao cho bên kia xem. Bên kia sẽ trả lời, nêu bằng chứng khác để đánh đổ lập luận vừa nhận. Cứ việc “lời qua tiếng lại” đến khi không còn gì nói nữa thì hai bên xin tòa nghị án. Thẩm phán không tác động gì trong quá trình này. Bên nào đưa bằng chứng thiếu thì ráng mà chịu.

Như thế nghĩa là luật của cả hai hệ thống buộc các bên phải trưng ra hết mọi bằng chứng ở cấp sơ thẩm; các bên chủ động đẩy diễn tiến phiên tòa; thấy đủ hết rồi mới xin tòa xử. Vậy khi tòa đã xử thì không thể kêu ca nữa về bằng chứng, về “sự thật” đã đưa ra. Kháng cáo lên tòa trên là chỉ phàn nàn về cách lập luận của chánh án; tức là xin xem xét các vấn đề pháp lý để tăng hay giảm hình phạt.

Luật tố tụng của chúng ta để chánh án chủ động trong xét xử, lại không đặt ra mức độ tin tưởng của chứng cứ; chỉ nhấn mạnh “sự thật khách quan” và để cho lòng người xác định; nên mới xẩy ra những gì chúng ta đã thấy. Lịch sử phát triển của nền tư pháp trên thế giới cho thấy chính người dân tranh chấp trước, họ đến xin tòa giải quyết cho họ. Ở thế đó, tòa để cho hai bên chủ động; giúp họ tìm bằng chứng, chứ không đi lấy hộ; ai có bằng chứng “thật hơn” thì tòa dựa vào đó và sẽ lập luận. Nếu hai bên làm sai từ đầu (thí dụ hợp đồng vô hiệu) thì tòa bảo “không cưỡng chế thi hành được” (unenforceable). Và hai bên về tự giải quyết lấy, ai làm bạo thì đã có luật hình. Như là một quy luật tâm lý, khi phải tự xử mình lúc làm sai, thì người ta sẽ tìm cách làm đúng ngay từ đầu.

Luật pháp của chúng ta làm ngược lại, giao cho tòa án sứ mạng bảo vệ quyền lợi của công dân; buộc thẩm phán phải chủ động. Hễ cứ có việc gì xẩy ra, anh Việt kiều lừa tiền, lừa tình chẳng hạn, thì dư luận đặt ngay câu hỏi: cơ quan nào có trách nhiệm, ai quản lý! Ít ai bảo: “Anh, chính anh phải chịu trách nhiệm, anh phải tự quản lý anh.” Cá nhân nào cũng sợ “làm mất lòng người khác” nên bán cái cho xã hội. Xem như thế những vấn đề tiềm ẩn trong hệ thống luật pháp của chúng ta còn liên quan đến nhận thức.

c. Uy lực của bản án đã xử

Luật pháp phải có tác dụng là bảo cho công dân biết; (i) nếu anh làm như thế thì (ii) anh sẽ bị đối xử như vậy, như vậy”. Vế (i) giúp người dân ổn định, vế (ii) giúp họ tiên đoán được. Sự tiên đoán kia phải dựa trên thực tế tức là các quyết định tòa án đã ra; vì giữa cách đối xử mà luật định và biện pháp tòa án đưa ra có khác nhau (do có xét đến hoàn cảnh cụ thể). Để giúp cho luật pháp tiên đoán được, các hệ thống khác đặt ra nguyên tắc là đối với các vụ án có cùng một tính chất thì kết quả của vụ án trước ràng buộc vụ án sau. Cùng nguyên tắc nhưng kỹ thuật sử dụng của mỗi hệ thống khác nhau. Bên thông luật gọi một bản án chung thẩm là tiền lệ (precedence); dân luật gọi là án lệ (jurisprudence). Tòa sơ thẩm ở Anh, Mỹ khi xử bị bắt buộc phải tra cứu và áp dụng tiền lệ. Tòa sơ thẩm ở Pháp không bị buộc phải tuân theo án lệ, nhưng khi bản án bị kháng cáo thì tòa phúc thẩm sẽ dẫn án lệ. Vậy, tòa dưới “chẳng dại gì” mà không tuân theo án lệ.

Cách sử dụng tiền lệ, tra cứu án lệ, tạo nên một sự hơi khác biệt trong cách thức áp luật vào sự kiện của các thẩm phán ở hai hệ thống kia; nhưng cả hai đều giống nhau trong phương pháp suy luận khi phân tích sự kiện. Đó là tài năng của thẩm phán. Và ở hai cấp tòa thì trình độ này khác nhau; cho nên vấn đề pháp lý được tòa phúc thẩm xem xét khi bản án bị kháng cáo và chỉ vấn đề này.

Chính trên cái tổng thể này mà tòa phúc thẩm ở các hệ thống khác họ không xem xét chứng cứ mới; hoặc có thì rất ít. Chính nhờ vào (i) tín lực của bằng chứng và cách buộc đưa ra nó; (ii) quyền của tòa bác hay nhận; (iii) án lệ; và (iv) xét lại khả năng lập luận của thẩm phán ở tòa dưới (tức là vấn đề pháp lý của nội vụ) nên ở họ không có chuyện “án dân sự xử kiểu nào cũng được”. Tòa án có uy. Dân nghĩ đến tòa án là đã sợ; nên ngần ngại nuốt lời đối với gì mình đã cam kết.

Các nước phát triển – mà luật pháp của họ được coi là một nguồn gốc của luật quốc tế – họ làm như thế. Nếu thân chủ chúng tôi có nêu vấn đề lên ở đâu đó thì có phải là một cái lỗi hay không? Chúng ta có nên tiếp tục thiết lập sự tuyệt đối trong hệ thống tòa án của chúng ta không, sau bao nhiêu hậu quả của nó đã thấy?

Gần đây trong báo giới có bàn về câu hỏi tòa phúc thẩm có xem xét chứng cớ mới hay không; tức là một vấn đề cũng giống như chúng tôi đang biện hộ cho thân chủ ở đây. Có các câu trả lời khác nhau đã được đưa ra. Người bảo có và lý do là để “tìm ra sự thật khách quan nhất”. Nguời bảo không thì nói rằng đó là để tránh sự “không công bằng” và xóa “áp lực sổ đen” cho thẩm phán.

Thưa qúy vị, vai trò của hệ thống xét xử không phải là để làm việc ấy. Vai trò của tòa án là bảo đảm niềm tin của công dân vào chế độ; là duy trì chế độ; là bảo đảm sự ổn định và tiên đoán được của luật pháp, hầu tạo sự an tâm cho công dân, khuyến khích họ làm đúng qua đó phát triển sự lương thiện trong xã hội. Đấy mới là nguyên lý của hoạt động xét xử.
Khi thiết lập hệ thống tư pháp chúng ta hầu như không để ý đến nguyên lý này vì chúng ta khởi đầu từ tòa án nhân dân, xét xử những vụ hình sự; mãi sau này mới xét những vụ dân sự; nên ta đã đem những nguyên tắc xét xử của hình sự sang dân sự vốn khác tính chất. Mối quan tâm chính khi xử một vụ hình là chấm dứt tội phạm, răn đe người khác, và phạm nhân đi tù. Đó là những mục tiêu ngắn hạn và tác động của nó lan tỏa không rộng; vì không phải ai cũng muốn vi phạm hình sự. Trái lại tác động của một bản án dân sự lan tỏa rộng, do đó nó kéo dài. Bởi vì hành vi dân sự (vay nợ) hay việc dân sự (sinh con) chính là cuộc sống, và ai cũng phải sống. Vay tiền thì ai cũng có một hai lần làm trong cuộc đời mình. Một bản án dân sự bênh con nợ sẽ khuyến khích người dân xù nợ, và việc này rất dễ lan rộng vì nó có lợi nếu làm. Khi người đi vay xù nợ thì người có tiền sẽ không muốn cho vay, tiền của người sau biến thành vàng chôn dưới đất. Nền kinh tế thiếu tiền mặt thì làm sao phát triển?

Ưu tư của thân chủ chúng tôi là vào những vấn đề này chứ không phải “quyền cao nhất” của dân chúng; khi nhìn sang các hệ thống khác mà người ta đã có cách giải quyết.

4. Duyệt án – Vụ Đồ Sơn

Hai vấn đề này là những thứ nằm tiềm tàng từ lâu trong hệ thống tòa án của ta. Vấn đề đầu thân chủ chúng tôi đã phát biểu tại diễn đàn Quốc hội. Về vấn đề sau thì nó không phải chỉ mới xuất hiện trong thời gian nhiệm chức của thân chủ chúng tôi. Nó là những gì thuộc về tính chất của ngôi nhà.

Tòa án có thực sự độc lập không? Chúng ta phải xem, phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới thấy hết vấn đề được. Nguyên tắc độc lập xét xử luôn được khẳng định; chỉ có điều ta có muốn làm hay không. Đồ Sơn là một bài học rất lớn mà báo chí đã nói thay ngành tòa án. Thân chủ chúng tôi ủng hộ việc lên tiếng của báo chí. Phải để cho cơ quan tư pháp độc lập. Quý vị có thể nói rằng pháp luật qui định độc lập thế rồi, sao tòa án không độc lập? Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Khi một anh sống ở địa phương, quyền lợi gắn bó ở đó, bổ nhiệm, nhận xét, khen thưởng đều gắn với cấp ủy, chính quyền địa phương thì anh lựa chọn thế nào? Thưa quý vị phải nhìn thẳng vào sự thật chứ ạ!

Để kết thúc bài biện minh này, thì trách nhiêm thực sự mà thân chủ chúng tôi chịu, theo thiển ý, chỉ là nhận thức ra được tình hình của căn nhà đến đâu và đã sửa chữa nó được đến mức nào chứ không phải về những vấn đề nền tảng mà quý vị đã nêu vốn do tính chất bẩm sinh của căn nhà gây ra. Thân chủ chúng tôi nếu có sai sót chỉ là ở cách thức trình bày chứ không phải ở nội dung. Nhưng sau khi biết những gian truân của thân chủ chúng tôi khi ở trong căn nhà dột, hẳn quý vị cũng cảm thông với thân chủ chúng tôi và sẽ sẵn sàng giúp đỡ thân chủ chúng tôi trong cố gắng tân trang căn nhà. Đó là việc làm cần thiết của tất cả chúng ta cho tổ quốc thân yêu này: nhận ra vấn đề, cùng chung sức làm, thay vì quy trách.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG