MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC KIỆN ĐÒI NHÀ, ĐẤT DO NGƯỜI KHÁC CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TS. NGUYỄN VĂN CƯỜNG –Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Vấn đề bảo vệ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản luôn luôn được nhà nước quan tâm, được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và hàng loạt văn bản khác. Trong đó, quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp luật định, như: yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người xâm phạm trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại xẩy ra hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu. Tuy nhiên, việc chiếm hữu tài sản trong thực tiễn diễn ra rất phong phú, đa dạng; có thể qua các giao dịch dân sự hay thông qua hành vi chiếm dụng tài sản không có căn cứ pháp luật. Trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập thực trạng giải quyết tại Tòa án nhân dân việc giải quyết việc kiện đòi nhà, đất đối với người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật.

I. Tình hình giải quyết việc kiện đòi nhà, đất đối với người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật

1.1. Trường hợp nguồn gốc nhà, đất thuộc quyền sở hữu của chủ cũ nhưng do chiến tranh tàn phá nhà bị sập hoàn toàn. Năm 1975 chủ mới đã tự ý xây dựng nhà trên diện tích đất của chủ cũ, có trường hợp được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ mới. Hiện nay giải quyết có nhiều quan điểm khác nhau, nên bác yêu cầu của chủ cũ hay công nhận cho chủ mới.

Trường hợp thứ 1: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là Huỳnh Thị M và bị đơn là bà Kiều Thị T.

Nguồn gốc khu đất có diện tích 497 m2 toạ lạc tại thị xã TH thuộc quyền sử dụng đất của bà T (mẹ bà M). Năm 1965 bà T chết có để lại di chúc giao toàn bộ diện tích nhà đất trên cho bà M. Năm 1967 do chiến tranh ác liệt bà M phải đi tản cư. Năm 1975 ông Huỳnh R (cha bà M) cùng bà T (vợ hai ông R) xây dựng nhà tại khu đất có diện tích 497m2 toạ lạc thị xã TH để ở. Năm 2001 bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà M yêu cầu bà T trả đất.

Toà án nhân dân huyện TH (bản án dân sự sơ thẩm 518/DSST/2001 ngày 15 tháng 9 năm 2001) buộc bà T phải giao trả bà M diện tích đất 497m2 thị xã TH. Bà M thanh toán bà T 2.269.000 đồng.

Ngày 12/10/2002, bà T kháng cáo.

Toà án nhân dân Tỉnh PhY (bản án dân sự phúc thẩm số 23/DSPT/2003 ngày 26 tháng 3 năm 2003) về cơ bản vẫn giữ nguyên bản án cấp sơ thẩm chỉ thay đổi số tiền bà M phải thanh toán cho bà Th là 3.399.000 đồng.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà T có đơn khiếu nại.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị (quyết định số 43/2006/DS-KN ngày 24-03-2006) bản án phúc thẩm nêu trên.

Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao (Quyết định giám đốc thẩm số 112/GĐT-DS ngày 25-05-2006) huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 23/DSPT/2003 ngày 26 tháng 3 năm 2003 của Toà án nhân dân Tỉnh PY và bản án dân sự sơ thẩm 518/DSST/2001 ngày 15 tháng 9 năm 2001 của Toà án nhân dân Huyện TH; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Huyện TH xét xử sơ thẩm lại. Với nhận định: Mặc dù nguồn gốc nhà đất của gia đình bà M nhưng do chiến tranh tàn phá nhà của gia đình bà M bị sập hoàn toàn (bà M không chứng minh còn nên mong nhà cũ), Năm 1975 bà T, ông R đã xây dựng nhà trên diện tích đất đang tranh chấp và năm 2001 được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này lẽ ra cần bác yêu cầu của bà M nhưng Tòa án các cấp lại buộc gia đình bà T trả đất cho bà M là không đúng.

Trường hợp 2: vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ở PY giữa nguyên đơn là bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh ch với bị đơn là bà Lâm Bích Ng (chết), người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Ng là các con bà Ng bao gồm các anh chị: A, Ph, S, Tr, Th, M, H.

Nguồn gốc nhà đất tại 122, Phan Đình Phùng, thị xã TH, tỉnh PhY thuộc quyền sở hữu của cụ X và cụ L (cha, mẹ bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh ch) nhưng do chiến tranh nhà bị sập hoàn toàn chỉ còn nền móng. Năm 1955 ông H chiếm dụng đất và nền móng nhà của cụ X để làm nhà ở, năm 1976 ông H cho bà Ng thuê, quá trình sử dụng bà Ng xây nhà và năm 1993 bà Ng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay các con của cụ X và cụ L là bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch yêu cầu bà Ng phải trả đất.

Tòa án nhân dân thị xã TH (bản án sơ thẩm số 28/DSST ngày 28,29-10-2002) bác yêu cầu của bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch.

Sau khi xét xử sơ thẩm bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch có đơn kháng cáo.

Tòa án nhân dân tỉnh PhY (bản án phúc thẩm số 61/DSPT ngày 19,22-09-2003) ghi nhận bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch không đòi giá trị diện tích 105 m2 nằm trong khuôn viên nhà, đất đang tranh chấp mà gia đình bà Ng đã cất nhà ở và các anh chị (con bà Ng) là: A, Ph, S, Tr, Th, M, H được quyền sử dụng đất tại nhà số 122 Ph Đ Ph, thị xã TH, tỉnh PhY nhưng phải thối lại giá trị diện tích 99, 93 m2 đất là 300 triệu đồng cho bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch (là con cháu ông Hg, bà L).

Sau khi xét xử phúc thẩm, nguyên đơn có đơn khiếu nại.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị (quyết định số 116/KN-DS ngày 27-12-2004) bản án phúc thẩm nêu trên.

Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao (Quyết định giám đốc thẩm số 28/GĐT-DS ngày 21- 02-2005) huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 61/DSPT ngày 19,22- 09-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh PhY; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh PhY xét xử phúc thẩm lại. Với nhận định: Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch không đòi giá trị diện tích 105 m2 nằm trong khuôn viên nhà, đất đang tranh chấp mà gia đình bà Ng đã cất nhà ở và công nhận phần còn lại thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn là đúng (vì chưa có cơ quan nhà nước nào thu hồi đất và nền móng của cụ X, cụ L và cũng không thuộc diện điều chỉnh theo quyết định 111/CP ngày 14- 04-1977), nhưng lại giao toàn bộ đất cho gia đình bà Ng và buộc gia đình bà Ng thanh toán giá trị đất cho nguyên đơn là không xem xét đến nhu cầu sử dụng đất của nguyên đơn. Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm trích 99.720.000 đồng cho bà Ng, vì có công bảo quản và tôn tạo đất là không có cơ sở.

Chúng tôi đồng tình về cách xử lý của Toà án cấp giám đốc thẩm đối với hai vụ án nêu trên.

1.2. Trường hợp nguồn gốc đất thuộc quyền sử dụng của chủ cũ nhưng bỏ hoang, sau đó UBND thu lại và cấp cho người khác trong thời gian dài, nay chủ cũ yêu cầu trả đất.

Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ở VL giữa nguyên đơn là Nguyễn Thị H với bị đơn là Phùng Thị T.

Nguồn gốc 4200 m2 đất ruộng của ông L, bà H nhưng ông L, bà H bỏ hoang, nên 1985 Hợp tác xã đã thu giao diện tích đất này cho bà T canh tác và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà H yêu cầu bà T phải trả lại đất.

Tòa án nhân dân huyện BM (bản án sơ thẩm số 14/DSST ngày 26- 02-2003) đã bác yêu cầu đòi đất của bà H. Bà H kháng cáo.

Tòa án nhân tỉnh VL (bản án phúc thẩm dân sự số 269/DSPT ngày 16-09-2003) buộc bà T trả lại diện tích đất nêu trên cho bà H.

Bản án phúc thẩm nói trên đã bị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 17/GĐT-DS ngày 01- 02-2005, Toà Dân sự đã huỷ bản án phúc thẩm số (269/PTDS) nêu trên; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh VL xét xử phúc thẩm lại theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn.

Chúng tôi thấy rằng, việc cấp sơ thẩm và cấp giám đốc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, mặc dù nguồn gốc đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nhưng đã bị UBND thu hồi, cấp cho người khác. Mặc dù việc thu hồi không đúng quy định của pháp luật nhưng phía nguyên đơn không có ý kiến gì, nhà nước không có chủ trương xem xét lại chính sách thù hồi đất trong thời kỳ thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với đất đai, thực tế bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất.

1.3. Trường hợp đương sự lợi dụng sơ hở, lòng tin của chủ sở hữu nhà và đã đưa giấy tờ mua bán để chủ sở hữu nhà ký nhằm chiếm đoạt nhà của chủ sở hữu.

Vụ án mua bán nhà đất giữa anh A và ông Th ở tỉnh An Giang.

Nội dung vụ việc diễn biến như sau: Theo Anh Huỳnh Ngọc A và chị Võ Thị Kim M thì, khoảng tháng 3 năm 1997, thấy ông Th đăng bảng bán nhà, vợ chồng anh chị đã thỏa thuận mua căn nhà 358/18B của ông Th với giá 60.000.000 đồng. Nhà có diện tích xây dựng là 70m2 (cũng là diện tích đất sử dụng). Vợ chồng anh chị nhận giấy tờ nhà đất, làm các thủ tục hợp pháp hóa chủ quyền đất cho ông Th. Ngày 01-08-1997 ông Th ký giấy bán nhà cho vợ chồng anh, gia đình anh giao đủ cho ông Th 60.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận. Vợ chồng anh đã làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận ngày 6-11-1997. Nhưng ông Th vẫn không chịu giao nhà cho vợ chồng anh. Nay anh A và chị M yêu cầu buộc ông Th phải giao nhà theo đúng cam kết của hợp đồng mua bán.

Còn ông Lê Văn Th cho rằng, ông có vay anh A, chị M nhiều lần. Tính đến 1996, ông còn nợ anh A 30.000.000 đồng. Anh A có nói với ông giúp hợp thức hóa chủ quyền, để bán nhà có giá cao. Khi làm xong chủ quyền, bán được nhà, ông sẽ trả nợ anh A và trả chi phí mà anh A đi làm thủ tục. Ông đã đưa cho anh A toàn bộ giấy tờ về nhà đất, khoảng 7 ngày sau anh A dẫn người đến đo đạc, ông và hàng xóm có ký vào các giấy tờ về xác minh nhà đất. Sau một thời gian anh A gặp lại ông, nói là hồ sơ trước ký nhầm phải ký lại. Ông cũng tin tưởng anh A ký lại theo yêu cầu của anh A mà không coi lại giấy tờ.

Tháng 11-1997 anh A cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh A và đòi ông phải giao nhà. Ông ra Ban tư pháp phường mới biết bị lừa ký vào các giấy tờ mua bán nhà. Ông yêu cầu hủy bỏ các giấy tờ mà ông bị lừa ký vào hợp đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 76/DSST ngày 29-4-1998, TAND thị xã LX, tỉnh AG quyết định:

Bác yêu cầu của anh A và chị M.

Hủy hợp đồng ký ngày 1-8-1997 về mua bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất tại 358/18B nêu trên, vì “vô hiệu do bị lừa dối”.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh AG, hủy quyết định chứng nhận quyền sử dụng đất 6-11-1997 đối với anh A và khôi phục quyền sử dụng đất cho ông Th theo giấy chứng nhận ngày 19-7-1997.

Ngày 8-5-1998, anh A kháng cáo.

Tại án phúc thẩm dân sự số 25/DSPT ngày 30-6-1998, TAND tỉnh AG quyết định: Công nhận hợp đồng mua bán chuyển nhượng nhà đất giữa anh A và ông Th.

Buộc ông Th phải giao căn nhà 70,1 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 06-11-1997 cho vợ chồng anh A, chị M.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Th có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 149/KN-DS ngày 20-11-1998, Phó Chánh án TANDTC kháng nghị đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 45/GĐ-DS ngày 24-2-1999, Tòa Dân sự TANDTC quyết định: hủy án phúc thẩm dân sự số 253/DSPT ngày 30-6-1998 của TAND tỉnh AG. Giao cho TAND tỉnh AG xét xử lại từ giai đoạn phúc thẩm.

Tòa dân sự TANDTC nhận định: thực tế không có hợp đồng viết về mua bán nhà giữa ông Th và anh A. Ông Th chỉ ký vào (đơn xin mua bán nhà) đề ngày 01- 8-1997. Đơn này chỉ là văn bản dự kiến ký kết hợp đồng, đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép ký kết hợp đồng mua bán nhà. Ngoài ra, ông Th còn ký vào một số giấy tờ có nội dung chuyển quyền sử dụng đất chứ không phải mua bán nhà. Đơn xin mua bán nhà chưa hề có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ông Th khai rằng ông bị lừa ký vào một số giấy tờ (đơn xin mua bán nhà và giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất cho anh A) là vì trước đó anh A làm hộ thủ tục hợp thức hóa chủ quyền nhà đất cho ông, nên ông đã ký những giấy tờ tương tự. Việc anh A giúp ông là vì ông nợ tiền anh A 30.000.000 đồng, có dự kiến phải bán nhà trả nợ. Lời khai của ông Th phù hợp với giao dịch thông thường và phù hợp lời khai các nhân chứng là hàng xóm đã ký giấy tờ xin đứng tên quyền sử dụng đất của ông Th. Anh A và chị M khai rằng họ chỉ ngẫu nhiên đến mua nhà khi thấy ông Th đăng bảng bán nhà. Ông Th khai rằng ông không đăng bảng bán nhà và các nhân chứng cũng xác nhận như vậy. Ngay việc từ trước tháng 8-1997 anh A đã nhận giấy tờ về chủ quyền nhà đất của ông Th, đứng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th, anh A không hề trình bày trong các đơn từ gửi đến Ủy ban nhân dân phường và TAND khi mới tranh chấp.

Việc mua nhà và chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh A không có nhân chứng nào chứng kiến, kể cả bà T là người đang chung sống với ông Th là việc không bình thường. Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th, thì anh A có xin xác nhận của các hộ liền kề, nhưng khi làm thủ tục chuyển sang tên mình (anh A) không xin xác nhận của những người này mặc dù trong mẫu đơn cũng bắt buộc phải có.

Về việc thực hiện hợp đồng, anh A khai rằng đã giao cho ông Th 60.000.000 đồng. Ông Th không thừa nhận và anh A cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào khác về việc giao tiền này. Với diễn biến chứng cứ như đã nêu trên, án sơ thẩm xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa anh A và ông Th là “giao dịch dân sự do bị lừa dối” theo Điều 142 BLDS là đúng.

Chúng tôi cho rằng: Do không xem xét dưới góc độ hình sự, nên Tòa án các cấp giải quyết góc độ dân sự. Việc nhận định của Toà án cấp cấp giám đốc thẩm là có căn cứ.

1.4. Nhận xét chung

Do chính sách quản lý về nhà, đất nước ta chưa chặt chẽ, nên diễn ra tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật còn nhiều, như: tự ý chiếm nền móng nhà và đất của người khác, chiếm đất liền kề (tranh chấp ranh giới) hoặc có sự hậu thuẫn của chính quyền địa phương…., nhất thời kỳ trước khi có Luật đất đai năm 1993, có trường hợp chủ sở hữu nhà, chủ sử dung đất có ý kiến nhưng có trường hợp thấy người khác sử dụng đất của mình không có ý kiến gì và khi chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác cũng không quan tâm, không có đơn khiếu nại. Có trường hợp việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân không theo đúng trình tự, thời gian.

Khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án xẩy ra nhiều tình huống khác nhau, có trường hợp người đang sử dụng đất đã làm các thủ tục kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó chủ đất cũ không đăng ký kê khai và không thực hiện một nghĩa vụ nào với nhà nước, hoặc cũng có trường hợp chủ cũ kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thậm chí có trường hợp chính quyền địa phương cấp cho cả hai bên (chủ mới và chủ cũ) hoặc cả hai bên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi có đơn khởi kiện đòi lại đất của chủ cũ, Toà án các cấp không biết dựa tiêu chí nào để giải quyết. Nếu căn cứ vào thời gian của người sử dụng đất thì thời gian là bao nhiêu năm được coi là ổn định lâu dài?; nếu chỉ dưa vào nguồn gốc và việc chiếm hữu bất hợp pháp để buộc trả tài sản cho chủ cũ không phù hợp chính sách về đất đai. Nếu dựa vào giấy chứng nhận do chính quyền địa phương cấp thì Toà án hoàn toàn thụ động, không đảm bảo quyền lợi cho đương sự. Vì có địa phương cấp giấy CNQSD đất không đúng luật, không theo trình tự, không thông báo công khai…, có trường hợp khi Toà án yêu cầu cung cấp hồ sơ cấp GCNQSD đất, UBND trả lời mất giấy tờ gốc hoặc không cung cấp…

Về vấn đề này hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng: Trường hợp người đã quản lý sử dụng lâu dài, ổn định, đã làm nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì áp dụng Luật đất đai bác yêu cầu đòi đất của chủ cũ, nếu chủ cũ được cấp GCNQSD đất thì buộc bên đang sử dụng đất phải trả lại. Còn quan điểm khác cho rằng cần tôn trọng quyền sử dụng đất của chủ cũ, vì chưa có văn bản pháp lý nào của Nhà nước thu hồi đất của chủ cũ giao cho chủ mới, khi giải quyết Toà án cần chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của bên giao đất hoặc có trường hợp cho rằng cần buộc người sử dụng đất thanh toán giá trị đất cho chủ cũ.

II. Một số khuyến nghị khi giải quyết loại tranh chấp này

Tổng hợp các quan điểm giải quyết nêu trên và trên cơ sở văn bản pháp luật từ trước đến nay quy định bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và các chính sách về đất đai của Nhà nước ta qua các thời kỳ. Tôi xin có một số ý kiến như sau:

1. Trước hết cần phải phân biệt trường hợp nào áp dụng quy định về đất đai để giải quyết và trường hợp nào áp dụng văn bản pháp luật về nhà ở để giải quyết.

a. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, nhưng sau đó bị xập hoàn toàn (kể cả trường hợp còn nền móng) và chủ sử dụng nhà đã xây nhà mới ở, nếu chủ cũ biết không có ý kiến gì, quá trình giải quyết chủ cũ đề cập đến việc trả đất (kể cả trường hợp chủ cũ yêu cầu trả nền móng) thì xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và áp dụng các quy định về đất đai để giải quyết.

b. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới ở, quá trình giải quyết chủ cũ chỉ đề cập đến việc trả đất, không đề cập đến việc trả nhà thì xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và áp dụng các quy định về đất đai để giải quyết.

c. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới ở, quá trình sử dụng người sử dụng đã lấn chiếm đất khuôn viên, khi giải quyết tranh chấp chủ cũ yêu cầu trả nhà đất, thì thì xác định quan hệ tranh chấp là nhà và áp dụng quy định pháp luật về nhà để giải quyết.

2. Khuyến nghị về hướng giải quyết đối với loại tranh chấp này.

Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sở hữu nhà không có căn cứ pháp luật, khi giải quyết tại Toà án nhân dân thường không có vướng mắc hoặc vướng mắc không nhiều về mặt đường lối xử lý, vì quy định pháp luật tương đối rõ ràng, khó khăn chủ yếu là đánh giá chứng cứ. Do vậy, tác giả tập trung đề xuất vướng mắc trong việc xử lý đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật

2.1. Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật nhưng xẩy ra trước 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực).

Căn cứ vào Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, quy định của pháp luật dân sự và Điều 1, Điều 16 và Điều 18 Luật Đất đai năm 1987, Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 và khoản 3 Điều 4, Khoản 4, Điều 5 Khoản 2 Điều 9, Điều 10 Luật Đất đai năm 2003, chúng tôi khuyến nghị cần có hướng dẫn về vấn đề này, như sau:

a. Trong tr­ường hợp chủ đất cũ có kê khai đứng tên trong sổ địa chính, đã đựơc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó là có căn cứ pháp luật, hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, quá trình sử dụng người sử dụng xây dựng đều xin ý kiến của chủ cũ hoặc người sử dụng tự ý xây dựng nhưng bị chủ cũ phản đối và còn ng­ười đang sử dụng đất không kê khai, không đ­ựơc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Toà án công nhận quyền sử dụng đất cho bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

b. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, nhưng sau đó bị sập hoàn toàn (kể cả trường hợp còn nền móng) người sử dụng nhà đã xây nhà mới ở hoặc bị chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới, chủ cũ biết không có ý kiến gì và người đang sử dụng đất đã kê khai, đăng ký đứng tên trong sổ địa chính và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục về việc kê khai, đăng ký và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện đúng quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan; còn chủ cũ không kê khai, không thực hiện quyền quản lý, sử dụng của chủ sử dụng đất, thì Toà án cần bác yêu cầu đòi đất của chủ đất cũ và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ng­ười đã đựơc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

c. Đối với tr­ường hợp cả hai bên (chủ đất cũ và người đang sử dụng đất) đều đ­ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 hoặc Luật đất đai năm 1993 (cấp trùng nhau), nay các bên tranh chấp quyền sử dụng đất, thì Toà án căn cứ thời gian sử dụng đất; đồng thời thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc khi người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất chủ cũ có ý kiến gì không và quá trình các bên thực hiện thủ tục kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ pháp lý để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cần l­ưu ý hỏi thêm ý kiến của cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để làm rõ trường hợp nào Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng pháp luật, để từ đó công nhận quyền sử dụng đất cho bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

d. Đối với trường hợp chưa bên nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như: xây nhà, xây tường bao… chủ cũ biết không có ý kiến gì thì cần tham khảo ý kiến của chính quyền địa phương, sau đó tùy từng trường hợp để giải quyết. Nếu quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như xây nhà… chủ cũ biết phản đối và yêu cầu địa phương can thiệp thì cần công nhận quyền sử dụng đất cho chủ cũ. Nếu quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như xây nhà… chủ cũ biết không phản đối và cũng không yêu cầu địa phương can thiệp thì cần công nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng.

e. Cần lưu ý nếu Tòa án buộc người sử dụng đất phải trả đất cho chủ cũ thì phải căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên và căn cứ vào yêu cầu, mức độ lỗi của các bên để giải quyết tài sản trên đất do người sử dụng đất đầu tư.

2.2. Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật nhưng xẩy ra sau 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực).

Trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật trong thời gian dài thì cần căn cứ vào những diễn biến cụ thể để xác định tại sao chủ cũ biết đất đang bị người khác chiếm hữu mà không đòi ?, chủ cũ có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 50 Luật đất đai 2003 hay không ? việc cấp giấy của UBND cho chủ mới có đúng trình tự thủ tục hay không?, chính sách đất đai đối với từng loại đất và căn cứ vào quy định BLDS, Luật đất đai… để xem xét việc chấp nhận việc đòi đất của chủ cũ hay không? (nếu là đất ruộng, đất nông nghiệp cần phải xem xét chính sách về đất đai đối với loại đất này, tham khảo với đề xuất nêu trên).

Trên đây là ý kiến của cá nhân tôi (thông qua tổng kết thực tiễn giải quyết khiếu kiện tại toà án nhân dân), rất mong các quý vị tham gia Hội thảo đóng góp ý kiến để bài viết thêm hoàn thiện.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Toà án nhân dân

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.

1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng

Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164 BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….

Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và Nghị định số 75/CP về công chứng chứng thực. Thẩm phán cũng cần có sự phân biệt việc ủy quyền giữa cá nhân, pháp nhân, ủy quyền thường xuyên hay ủy quyền theo vụ việc.

Ví dụ, A xác lập hợp đồng vay tiền ở Ngân hàng Công thương chi nhánh quận Đống Đa, Hà nội thời hạn vay tiền từ ngày 20/5/2006 đến ngày 20/7/2006. Đến hạn trả nợ ngày 20/7/2006 A không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy giám đốc chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Đống Đa đã đại diện cho Ngân hàng làm đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp này, khi kiểm tra điều kiện khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng chuyên doanh (ví dụ, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển…) thì các chi nhánh không có quyền tham gia tố tụng khi không có ủy quyền của Tổng giám đốc. Vì vậy, khi thụ lý giải quyết tranh chấp này Tòa án cần kiểm tra giám đốc chi nhánh Ngân hàng công thương quận Đống Đa có được ủy quyền hợp lệ của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương tham gia tố tụng không.

Thẩm phán cũng cần kiểm tra hồ sơ khởi kiện, các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với loại vụ án tranh chấp hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến yêu cầu kiện của nguyên đơn thông thường bao gồm:

– Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện: Nếu là cá nhân thì giấy tờ thường là chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; Giấy phép đầu tư; giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ pháp nhân, ….

– Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tượng giao dịch của hợp đồng. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở thì đương sự phải nộp các giấy tờ về nguồn gốc nhà; Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương sự phải nộp các giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất…

– Các bản hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến giao dịch. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như hợp đồng vay, giấy biên nhận vay tiền, giấy khất nợ, tài liệu thừa nhận việc vay nợ, giấy xác nhận của người làm chứng chứng kiến việc cho vay…;

– Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:

Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết” (điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi kiện tại các Tòa án khác.

Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.

Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm phán phải nắm vững quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện:

– Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự xác lập trước ngày 1/7/1991. Thời điểm này không có quy định áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Việc bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cũng được áp dụng cho việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng giao kết trước ngày 1/7/1996;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1991 đến ngày 1/7/1996 áp dụng Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày “vi phạm hợp đồng”;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005 được quy định cụ thể tại tiểu mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004, cụ thể là:

+ Nếu tranh chấp hợp đồng phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005;

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập kể từ ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Thẩm phán cần lưu ý việc tính thời hiệu kể từ “ngày tranh chấp phát sinh” (theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm” (điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).

Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:

– Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người khác đang sử dụng;

– Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.

Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.

Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Tòa án nhận đơn của đương sự. Nếu không có việc hòa giải của UBND cấp xã, phường thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sự khác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ ưu tiên xác định Tòa án nơi có bất động sản và xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau.

Đặc trưng cơ bản khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thẩm phán phải có sự phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của các cơ quan hành chính (theo quy định của Luật đất đai năm 2003). Đồng thời để xác định chính xác thẩm quyền, Thẩm phán cũng phải phân biệt rõ tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự với các quan hệ khiếu kiện liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc các quan hệ tranh chấp nằm một trong 3 nhóm tranh chấp quyền sử dụng đất sau:

Nhóm 1: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất. Về bản chất, khi giải quyết tranh chấp này Tòa án phải xác định chủ quyền đất thuộc về ai. Đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;

Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;

– Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.

Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác để tạm xác định giá quyền sử dụng đất có tranh chấp và trên cơ sở đó tính tiền tạm ứng án phí của vụ án để thông báo về việc nộp tạm ứng án phí cho đương sự.

Một số trường hợp cần tham khảo các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi tính tạm ứng án phí: Những vụ án tranh chấp đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê thì là vụ án không có giá ngạch (Công văn số 451/KHXX ngày 20/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao;. Những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vụ án có giá ngạch (điểm 9 mục IV Công số số 16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 của Tòa án nhân dân tối cao).

1.2.3. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp về thừa kế

Thẩm phán kiểm tra đơn kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định các loại tranh chấp về thừa kế thuộc dạng tranh chấp nào:

– Tranh chấp về quyền thừa kế: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

– Tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật;

– Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

Xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình (căn cứ theo quy định tại Điều 165 BLTTDS): Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…

Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm mở thừa kế – thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

* Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được xác định là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với các vụ án có thời điểm mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1991 (khoản 1, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1991; Điều 648 BLDS 1995; Điều 645 BLDS 2005);

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện. Cụ thể là:

– Vụ án có rơi vào trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;

– Thẩm phán cần lưu ý các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005;

– Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990). Việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế. Đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (ngày 30/8/1990), theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện đến hết ngày 9/9/2000. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 25/8/1998 của Uỷ ban thường vụ quốc hội từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/1998 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991. Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 9/3/2003. Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990.

Đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 1/7/1991 đây cũng là loại vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết do đợi Nghị quyết 58/1998, thời gian từ 1/7/1996 đến 31/1/21998 cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện, do vậy những vụ án thừa kế có thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian từ 10/9/1990 đến ngày 30/6/1991 đến 1/1/2004 mới hết thời hiệu khởi kiện.

Ngoài ra, khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý quy định về “không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế’ được hướng dẫn tại Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.

Hướng dẫn này cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và có đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản:

– Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ ngày banh hành Pháp lệnh thừa kế (khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990) thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005: áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm quy định tại Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản (do tại Điều 648 BLDS 1996 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/1/2006 thời hiệu khởi kiện về về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được xác định là 3 năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết (Điều 645 BLDS 2005)

Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết. Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS.

Thẩm phán cũng cần xem xét trường hợp vợ góa hoặc chồng góa có quyền yêu cầu chưa chia di sản nếu trong thời hạn nhất định (không quá 3 năm) việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ (khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

1.2.4. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi kiểm tra đơn khởi kiện Thẩm phán cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung đơn kiện xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của đương sự và bản chất pháp lý của yêu cầu để Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nào:

– Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín;

– Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra…

Thẩm phán cần có sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ).

Các giấy tờ cần thiết mà đương sự phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu có)…

Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán cần hướng dẫn cho đương sự (nguyên đơn) khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người có trách nhiệm bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…).

Ví dụ: A là lái xe của pháp nhân B, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân B giao, A đâm vào C gây tai nạn cho C. Trong trường hợp này C có quyền yêu cầu pháp nhân B phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định tại Điều 618 BLDS. Tuy nhiên nếu C không kiện pháp nhân B mà chỉ kiện A, trong trường hợp này Tòa án nên hướng dẫn C khởi kiện đúng đối tượng là pháp nhân B. Nếu C vẫn không khởi kiện pháp nhân B, thì vẫn phải xác định A là bị đơn – người bị nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã xâm phạm lợi ích của họ. Tòa án cần đưa pháp nhân B (người có trách nhiệm bồi thường – theo quy định tại Điều 618 BLDS 2005) tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Khi kiểm tra tư cách chủ thể kiện, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại;

Thực tiễn xét xử nhiều trường hợp vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tòa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Thẩm phán cần lưu ý phải hướng dẫn cho nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tòa án nơi nguyên đơn cư trú; Tòa án nơi nguyên đơn làm việc; Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở; Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết

Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý giải thích cho nguyên đơn biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn.

Khi kiểm tra thời hiệu giải quyết, nguyên tắc chung Thẩm phán phải xác định ngày tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Ngoài ra, theo quy định chung điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù đã được Tòa án giải quyết và đang thi hành thì Tòa án vẫn được quyền thụ lý giải quyết vụ án mới nếu người bị thiệt hại khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành không còn phù hợp nữa.

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Tòa án không yêu cầu người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án.

1.2.5. Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn, kiểm tra các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân. Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình) để vào sổ thụ lý giải quyết.

Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:

Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

– Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được. Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);

Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có)…

Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện. Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);

Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).

Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân. Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác. Lưu ý hướng dẫn tại mục 4 “về khoản 3 Điều 33 BLTTDS, phần I “Thẩm quyền của Tòa án” Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS năm 2004” thì vụ án có đương sự ở nước ngoài; tài sản ở nước ngoài; Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng vụ án có đương sự là nước ngoài, hiện đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000);

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

– Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS;

Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 50.000 đồng (khoản 1 Điều 7 Nghị định 70 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS). Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (khoản 3 Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)

———————————————-

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

XUNG QUANH VẤN ĐỀ NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN

NGUYỄN NGỌC DŨNG – Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) có hiệu lực từ ngày 01-01-2005, tại chương XII quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án, so với các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động trước đây có chặt chẽ hơn. Song, vấn để nhận và trả lại đơn kiện theo quy định của pháp luật hiện hành cũng còn có một số vấn đề cần trao đổi thêm.

I. AI LÀ NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN?

1. Nhận đơn khởi kiện

Theo Điều 167 BLTTDS

“Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu diện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1/ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2/ Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3/ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu quy định “Toà án phải nhận đơn khởi kiện… phải ghi vào sổ nhận đơn…phải xem xét và có một trong các quyết định…” thì chưa ổn, bởi vì, việc thụ lý này phải được tiến hành bởi một trong các chức danh của những người tiến hành tố tụng cụ thể (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án…) chứ không phải Toà án.

Ngoài ra, việc quy định rạch ròi đối với các chức danh của từng cá nhân tiến hành tố tụng cụ thể còn liên quan đến các giai đoạn tiếp theo sau của quá trình tố tụng.

2. Trả lại đơn khởi kiện

Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được qui định tại các điều khoản sau:

Khoản 3 Điều 167

“Trả lại đơn kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Điều 168

“1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a/ Thời hiệu khởi kiện đã hết:

b/ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

c/ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyển, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhà mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện:

d/ Hết hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

d/ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện

2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện”

Khoản 2 Điểu 192:

“Toà án ra quyết định đỉnh chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án đó thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 168 BLTTDS”

Điều 413

“1. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự.

2. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”

II. TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 thì thủ tục trả lại đơn khởi kiện bắt buộc phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Vấn đề đặt ra là, văn bản này phải theo hình thức nào? Quyết định theo quy trình tố tụng hay Công văn mang tính chất thông báo và ai sẽ là người ký văn bản này ?

Đối chiếu với quy định tại Điều 170 BLTTDS về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh sán Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiểu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a/. Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b/. Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án”.

Như vậy, người ký văn bản trả lại đơn khởi kiện chỉ có thể là Thẩm phán (khoản 2 Điều 168) chứ không thể là Chánh án vì Chánh sán còn phải thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện theo khoản 2 Điều 170 BLTTDS.

Đồng thời, tại khoản 1, Điều 171 về thụ lý vụ án cũng quy định:

“1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí…”

Tóm lại, qua các điều luật trên (167,168, 171 và 413 BLTTDS) không thấy xuất hiện chủ thể tham gia quan hệ luật pháp trong giai đoạn “tiền thụ lý” này: (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký, Toà án, Văn thư…)

– Nhận đơn khởi kiện;

– Xem xét có thụ lý hay không thụ lý đơn khởi kiện;

– Thông báo cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc trả lại đơn khởi kiện nếu không đủ điều kiện thụ lý vụ án.

Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 172 quy định về phân công Thẩm phán giải quyết vụ án:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”.

Và Điều 173, 174 BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi tiến hành lập hồ sơ vụ án có quy định Thẩm phán có nhiệm vụ “thông báo về việc thụ lý vụ án”.

Như vậy các Điều 171, 172, 173 BLTTDS chỉ thể hiện rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của thẩm phán Sau khi đã thụ lý vụ án và được Chánh án phân công giải quyết vụ án, còn ai nhân đơn khởi kiện, ai xem xét nội dung đơn khởi kiện, ai trả lại đơn khởi kiện thì luật chưa nói rõ.

III. QUYẾT ĐỊNH TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN CÓ BỊ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ HAY KHÔNG?

Xin được nêu một ví dụ để minh hoạ: Một công dân nộp đơn và các tài liệu liên quan đến Toà án cấp huyện để khởi kiện một vụ án dân sự. Có hai giả thiết đặt ra:

Một là: Hồ sơ vụ kiện đó không có căn cứ pháp luật và Toà án đã trả lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện khiếu nại và Chánh án Toà án cấp huyện căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 170 BLTTDS “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Hai là: Hồ sơ vụ kiện đó có căn cú pháp luật và việc khởi kiện đó là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, nhưng do một lý do nào đó (áp dụng sai pháp luật, định kiến, do có mối quan hệ với phía bị đơn…) mà Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện vẫn căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 170 BLTTDS để “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Vậy thì, sau khi cấp sơ thẩm đã giải quyết việc khiếu nại nhưng một trong hai giả thiết trên thì người khởi kiện có quyền khiếu nại tiếp theo hay không? Và ai sẽ là người giải quyết khiếu nại đó? Trình tự, thủ tục giải quyết như thế nào?

Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như các văn bản hướng dân chưa quy định cụ thể vấn đề này, nhưng trong thực tiễn đã xảy ra. Quá trình giải quyết đã phát sinh một số quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề

Thông thường, không đồng tình với quyết định của Chánh án Toà án cấp huyện trong việc “Giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện”, nguyên đơn sẽ tiếp tục khiếu nại đến Toà án nhân dân cấp tỉnh. Có hai trường hợp xảy ra:

Một là: Trong trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” do việc khởi kiện không có căn cứ pháp luật thì khi giải quyết khiếu nại, Toà án tỉnh vẫn phải trả lời đơn cho đương sự biết là việc khởi kiện đó không đủ căn cứ để thụ lý giải quyết.

Theo tôi khi có khiếu nại liên quan đến cấp dưới thì lãnh đạo cấp trên (người nhận được khiếu nại) phải trả lời đơn cho đương sự. Đây là vần đề mang tính nguyên tắc, không cần phải bàn thêm.

Hai là: Đối với trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” mà không có căn cứ, do áp dụng sai điều luật, do định kiến, do tình cảm riêng tư…

Có ba quan điểm khác nhau trong tình huống này:

1/ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành mà không bị kháng cáo, kháng nghị vì thực tế, luật không quy định việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định tả lại đơn khởi kiện.

Tôi không đồng tình với quan điểm này, vì quyết định của cấp sơ thẩm không thể là quyết định cuối cùng. Trong khi quyết định đó thật sự có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

2/ Quan điểm thứ hai lại cho rằng: nếu cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì cấp trên chỉ cần có văn bản chỉ đạo cấp sơ thẩm rút lại các quyết định đã ban hành và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Với quan điểm này có phần nhẹ nhàng hơn do không xảy ra hậu quả pháp lý là các quyết định của cấp sơ thẩm bị huỷ, không làm ảnh hưởng đến điểm thi đua của Thẩm phán.Tuy nhiên, bản thân tôi cũng chưa đồng tình, vì với một quyết định được ban hành theo một trình tự tố tụng thì để sửa sai các quyết định đó cũng phải bằng một quyết định theo một trình tự tố tụng chứ không thể sửa sai một quyết định tố tụng bằng một mệnh lệnh mang tính hành chính được.

3/. Quan điểm thứ ba cho rằng, quyết định của cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì phải được kháng cáo, kháng nghị và Toà án cấp trên trực tiếp được quyền xem xét lại các quyết định trên theo trình tự giám đốc thẩm theo Điều 283 BLTTDS, bởi vì, cấp sơ thẩm đã có sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Hơn nữa, các quyết định trả lại đơn đã được phát hành và đã phát sinh hiệu lực thì việc sửa sai các quyết định đó phải bằng một quyết định khác của cấp có thẩm quyền, trong trường hợp này, cấp có thẩm quyền đó chính là Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh.

Tôi nhất trí với quan điểm thứ ba này, đồng thời, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sớm có Nghị quyết hướng dẫn thi hành về vấn đề này.

IV. VẤN ĐỀ THAY ĐỔI THẨM PHÁN THEO ĐIỀU 47 BLTTDS?

Liên quan đến việc trả lại đơn bằng một quyết định trả lại đơn khởi kiện như phân tích trên thì việc Thẩm phán tham gia giải quyết việc trả lại đơn khởi kiện đó được giải quyết như thế nào?

Việc Thẩm phán ra quyết định trả lại đơn có bị thay đổi theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS hay không?

Tại khoản 3 Điều 47 BLTTDS cũng như tại điểm 3.2 Mục II Nghị quyết 01/2005/NQ-HDDTP ngày 31/3/2005 của Hội động Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004 đã quy định: ”3.2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của BLTTDS, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ “Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm…trong vụ án đó”. Đã tham gia giải quyết và đã ra bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm hoặc quyết định công nhận sự thoả thuânh của các đương sự, quyết định đình chỉ vụ án”.

Như vậy, quyết định trả lại đơn khởi kiện sẽ không rơi vào trường hợp bị thay đổi Thẩm phán theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với trường hợp “đình chỉ vụ án” như đã được giải thích ở Nghị quyết 01 nêu trên, cần được loại trừ một số điểm c,e,g khoản 1 Điều 192 BLTTDS vì đây là những trường hợp mà sau này nguyên dơn được quyền khởi kiện lại vụ án đó (khoản 1 Điều 193 BLTTDS). Vì trên thực tế, Thẩm phán đã ra quyết định đình chỉ vụ án theo một trong các lý do được nêu trên có thể được xem như là chưa từng giải quyết vụ án đó về mặt nội dung. Vì vậy, việc thay đổi Thẩm phán trong những trường hợp này là không phù hợp với thực tiễn xét xử và trong điều kiện vẫn còn thiều nhiều Thẩm phán cấp huyênh như hiện nay.

Qua các vấn đề vừa trình bày trên, thiết nghĩ, rất cần được sự hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong cả nước.

===========================

SOURCE: http://vietnamese-law-consultancy.com

TRANH TỤNG KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ HẲN XÉT HỎI

ĐỨC MINH

Gần đây, báo chí, đặc biệt là báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh có nhiều bài nhìn lại thực trạng tố tụng sau năm năm cải cách tư pháp, trong đó nêu ra một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động xét xử như tòa dồn ép, buộc tội bị cáo; viện kiểm sát không tranh tụng, chuyện án “bỏ túi”…. Về những vấn đề này, ông Đinh Văn Quế, chánh án Tòa hình sự TAND tối cao, đã dành cho báo một cuộc trao đổi rất thẳng thắn.

– Không ít trường hợp khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa như đã kết luận bị cáo phạm tội.

– Nhiều trường hợp kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc…

Theo ông Quế, năm năm cải cách tư pháp, phiên tòa hình sự ở tòa án các cấp đã có nhiều tiến bộ, thu được những kết quả nhất định: từng bước bảo đảm được sự tôn nghiêm, dân chủ, văn minh; chất lượng xét xử được nâng cao; hạn chế thấp nhất việc xử oan, sai nghiêm trọng; tạo đà cho việc cải cách toàn diện các cơ quan tư pháp…

Tranh tụng đến đâu ?

Thưa ông, dư luận cho rằng gần đây vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự không được các tòa án quan tâm như trước?

Đúng là trong thời gian qua, các phương tiện thông tin đại chúng it nói đến vấn đề tranh tung tại phiên tòa như thời gian sau khi có Nghị quyết số 8–NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị nhưng không vì thế mà cho rằng tòa án không quan tâm đến vấn đề tranh tụng nữa. Trong các văn bản hướng dẫn, cũng như trong các lớp tập huấn cho các thẩm phán về kỹ năng xét xử, TAND tối cao vẫn thường xuyên nhắc nhở các tòa án phải tiếp tục quán triệt Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự dân chủ; việc phán quyết của tòa phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên xử.

Có người nói vì Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định tòa xét hỏi trước và chịu trách nhiệm xét hỏi trước chính nên tính chất tranh tụng tại phiên tòa không được thể hiện một cách đầy đủ?

Trước đây, khi soạn dự thảo Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003, cơ quan chức năng có tính đến chuyện quy đinh Viện Kiểm sát (VKS) hỏi trước, tòa án hỏi bổ xung… nhưng khi đưa ra thảo luận thì không đứng vững được vì như thế sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống pháp luật của ta.

Theo tôi, tranh tụng tại phiên tòa hình sự chỉ là một trong những hoạt động tố tụng chứ không bao trùm lên toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không phải là “tố tụng tranh tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa kiểm sát viên, người bị hại với bị cáo, người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa kiểm sát viên với người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau. HĐXX không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau. Do đó, vai trò của HĐXX mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục đích là vô cùng quan trọng.

Luật có mâu thuẫn?

Cũng có người nói là Nghị quyết 08 đề cao “tố tụng tranh tụng” nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự lại chưa thể chế hóa được yêu cầu này khi vẫn quy định về “tố tụng xét hỏi”. Như vậy có mâu thuẫn? Có cần phải sửa luật để phiên tòa thật sự có tính tranh tụng?

Giữa Nghị quyết 08 và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không có gì mâu thuẫn cả. Tố tụng của chúng ta là “tố tụng xét hỏi”, còn tinh thần tranh tụng theo Nghi quyết 08 là bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, bào chữa, những người tham gia tố tụng chứ đây không phải là “tố tụng tranh tụng” như ở một số nước khác theo pháp luật án lệ.

Trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ Tư pháp đã có cả một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ cho rằng tố tụng của ta muốn hòa nhập giữa “tố tụng tranh tụng” với tố tụng xét hỏi”, giữa luật thành văn với án lệ. Một số nhà khoa học đặt vấn đề Viêt Nam cũng muốn theo “tố tụng tranh tụng” như một số nước trên thế giới, trong khi hệ thống pháp luật của ta là luật thành văn. Đây là vấn đề mới, khi đưa ra thảo luận trước Quốc hội, do còn nhiều ý kiến khác nhau, không thông qua nên Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 vẫn theo hướng “tố tụng xét hỏi”.

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 có cần sửa đổi không? Luật pháp bao giờ cũng đi sau cuộc sống nên có những luật vừa ban hành đã phải sửa đổi. Nghị quyết 49 cũng phải sửa đổi bộ luật này cho phù hợp với hội nhập. Nhưng sửa như thế nào thì các cơ quan chức năng phải xem xét: “Tố tụng tranh tụng” và “tố tụng xét hỏi” có sửa hay không thì cũng phải xem xét và đi từng bước căn cứ vào thực tiễn.

Nhiều tòa vẫn kết tội trước?

Nhưng thưa ông, thực tế vẫn có không ít thẩm phán thay vì phải làm nhiệm vụ như ông nói cũng vội về “phe” kiểm sát viên kết tội bị cáo?

Tôi cho rằng nhìn chung, ở rất nhiều phiên tòa, HĐXX mà trước hết là chủ tọa phiên tòa đã thể hiện được vai trò điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, đồng thời xử lý kịp thời, đúng pháp luật các tình huống xảy ra tại phiên tòa. Những ý kiến khác nhau được HĐXX tôn trọng và dành thời gian thỏa đáng để cho các bên tranh luận phát biểu ý kiến của họ nhằm tìm ra sự thật….

Tuy nhiên, tại một số phiên tòa, việc xét hỏi chưa tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn, còn có ý kiến khác nhau. Cũng có trường hợp khi xét hỏi, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã kết luận bị cáo phạm tội. Hay khi xét hỏi, những người tham gia xét hỏi không tập trung theo dõi, nhiều câu hỏi và bị cáo hoặc người tham gia tố tụng đã trả lời nhưng kiểm sát viên và luật sư vẫn hỏi lại…

Và vẫn còn tình trạng kiểm sát viên không tranh luận mà chỉ nói “giữ nguyên quan điểm đã truy tố” Ông nghĩ sao về thực tế này?

Đại diện VKS giữ nguyên công tố tại phiên tòa phải bảo vệ cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa; chứng minh mọi luận điểm trong cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi thẩm vấn, đưa ra những chứng có trực tiếp và chững cớ gián tiếp để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ chi tiết từng sự việc của vụ án. Nhưng còn có phiên tòa kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc mới hỏi và cũng chỉ hỏi có tính chất bổ xung, còn việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của vụ án vẫn do chủ tọa phiên tòa thực hiện.

Phần tranh luận, một số kiểm sát viên không đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến mà luật sư và những người tham gia tố tụng nêu ra làm cho việc tranh tụng bị hạn chế.

HĐXX không được áp đặt, “mớm cung”?

Vậy theo ông, để phiên tòa đảm bảo được yêu cầu tranh tụng theo Nghị quyết 08 trong “tố tụng xét hỏi” hiện nay thì ngành tòa án cần phải làm gì?

Tôi cho rằng trong từng giai đoạn xét xử có những yêu cầu cụ thể đối với từng thành viên của HĐXX mà đặc biệt là vai trò của chủ tọa phiên tòa.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, HĐXX cần trao đổi với kiểm sát viên tham giam phiên tòa về kế hoạch xét hỏi (đề cương thẩm vấn); cần có sự phân công là HĐXX hỏi những nội dung gì. Việc thống nhất về phương pháp xét hỏi này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của HĐXX.

Giai đoạn tranh luận tại phiên tòa, để việc tranh luận diễn ra được dân chủ, khách quan, HĐXX phải chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến của kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng, tránh định kiến sẵn, đặc biệt phải chú ý lắng nghe ý kiến của luật sư, của bị cáo nếu khác với lời luận tội của viện kiểm sát….

Trong cả giai đoạn xét hỏi cũng như tranh luận, HĐXX không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, cũng không được đánh giá, nhận xét đúng sai. Nếu cần phải giải thích cho người tham gia tố tụng thì chỉ giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng, tuyệt đối không được giải thích các quy định của BLHS…

Xin cảm ơn ông.

Ý kiến luật sư thường bị “bỏ qua”?

Giới luật sư than phiền rằng ý kiến của họ thường bị HĐXX “bỏ qua”. Điều này thể hiện rõ nhất ở việc có những tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền cho đương sự nhưng không được lập luận trong bản án. Đây cũng là lý do khiến dư luận nghi ngờ về sự tồn tại của “án bỏ túi”?

Thực tế đúng là có trường hơp HĐXX kết luận trước về lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khiến cho bị cáo và nhưng người tham dự phiên tòa cho rằng bản án được viết sẵn (án bỏ túi). Hay một số bản án của tòa còn thiếu sức thuyết phục, nhất là trong phần nhận định phải xử phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo những phần quyết định lại cho bị cáo hưởng án treo. Mặt khác, có nhưng tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận nhằm gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng không được lập luận trong bản án….

SOURCE: báo Pháp Luật TP.HCM

CHẾ ĐỊNH PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong Bộ luật tố tụng dân sự, chế định phúc thẩm dân sự được quy định tại Phần thứ ba gồm 3 chương (từ Chương XV đến Chương XVII), 39 điều luật (từ Điều 242 đến Điều 281). Có thể nói, các quy định trong BLTTDS về thủ tục phúc thẩm dân sự đã được kế thừa từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Tuy nhiên, các quy định này đã có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Những sửa đổi, bổ sung cơ bản về thủ tục phúc thẩm dân sự trong BLTTDS gồm những vấn đề cơ bản sau đây:

1. Về tính chất của xét xử phúc thẩm

Từ trước đến nay hệ thống toà án của chúng ta vẫn thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử tuy nhiên đến năm 2002 mới được ghi nhận trong Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002. Hiện nay, tại Điều 242 BLTTDS khẳng định xét xử phúc thẩm là việc toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Việc BLTTDS quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm nhằm khẳng định phúc thẩm là một cấp xét xử và là cấp xét xử thứ hai, được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm.

2. Kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

– Về người có quyền kháng nghị

Trước đây, Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ chỉ quy định viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm mà không nói cụ thể ai là người có quyền kháng nghị. Việc quy định như vậy dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện kháng nghị cũng như việc chịu trách nhiệm pháp lý trước quyết định kháng nghị của mình. Để giải quyết vấn đề này, Điều 250 BLTTDS đã quy định viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

– Về đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị

Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ, Điều 60 PLTTGQCTCKT chỉ quy định người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản trong đó nêu rõ nội dung phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, lý do và yêu cầu kháng cáo, kháng nghị. Hiện nay, các điều 244, 251 BLTTDS quy định cụ thể về nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị. Đồng thời người kháng cáo, kháng nghị gửi kèm theo đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, yêu cầu kháng nghị của viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp. Đây là quy định hoàn toàn mới có ý nghĩa buộc người kháng cáo, kháng nghị phải thực hiện nghĩa chứng minh trong trường hợp họ kháng cáo bản án, quyết định của toà án.

Ngoài ra, Điều 246 BLTTDS còn quy định trách nhiệm của toà án cấp sơ thẩm khi nhận được đơn kháng cáo. Nếu đơn kháng cáo không có đầy đủ nội dung theo quy định của BLTTDS thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo. Trong trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ, nếu có để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. Quy định mới này của BLTTDS bảo đảm cho đương sự và những người có quyền kháng cáo có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà án đồng thời tạo điều kiện cho toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án một cách nhanh chóng và chính xác.

– Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Điều 59 PLTTGQCVADS, Điều 61 PLTTGQCTCLĐ, Điều 61 PLTTGQCVAKT đều quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án và quyết định của toà án cấp sơ thẩm là giống nhau theo đó thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày. Nay các điều 245, 252 BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm và quyết định của toà án cấp sơ thẩm là khác nhau, trong đó giữ nguyên thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm nhưng rút ngắn thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của toà án cấp sơ thẩm. Việc BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị như vậy là hoàn toàn hợp lý, người kháng cáo, viện kiểm sát có đủ thời gian cần thiết để suy nghĩ và quyết định xem mình có nên kháng cáo, kháng nghị hay không đồng thời khắc phục tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết vụ án. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định các trường hợp khác nhau để xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Nếu đương sự, viện kiểm sát có mặt tại phiên toà sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị tính từ ngày tuyên án, nếu đương sự, viện kiểm sát không có mặt tại phiên toà thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hoặc ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.

Ngoài ra, khác với các quy định của các văn bản pháp luật đã ban hành trước đây, BLTTDS không quy định kháng nghị quá hạn của viện kiểm sát cũng như không ấn định thời hạn cụ thể kháng cáo, kháng nghị quá hạn. Theo Điều 247 BLTTDS kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn luật quy định. Và để xem xét kháng cáo quá hạn đó có được chấp nhận hay không BLTTDS còn quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục xét đơn kháng cáo quá hạn, đó là sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ, nếu có cho toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và toà án cấp sơ thẩm; nếu toà án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ vụ án cho toà án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, BLTTDS chưa quy định cụ thể cách thức làm việc của hội đồng xét xử khi tiến hành xem xét đơn kháng cáo quá hạn đó là toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà hay không phải mở phiên toà để xét đơn kháng cáo quá hạn. Theo chúng tôi, để tránh sự tuỳ tiện trong áp dụng cũng như có khả năng khắc phục nhanh nhất những sai lầm có thể xẩy ra thủ tục này nên quy định theo hướng toà án cấp phúc thẩm không phải mở phiên toà, hội đồng xem xét lý do của việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn và sau đó ra quyết định.

– Về thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

Trước đây, Điều 60 PLTTGQCVADS quy định trước hoặc tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo có quyền sửa đổi nội dung kháng cáo, viện kiểm sát có quyền sửa đổi nội dung kháng nghị. Tuy nhiên, Điều 256 BLTTDS đã quy định chặt chẽ hơn đó là việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết. Việc quy định như vậy nhằm mục đích để các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với đối phương để họ chuẩn bị tổ chức việc biện hộ sau khi đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, như thế nào là không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu? Phải chăng không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu được hiểu là không vượt ra ngoài các nội dung cụ thể và trong mỗi nội dung cụ thể không vượt quá mức độ, quy mô đã được đặt ra ban đầu của yêu cầu kháng cáo, kháng nghị? Và khi đã tiến hành xét xử phúc thẩm thì lúc đó đương nhiên là đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên việc BLTTDS quy định tại phiên toà phúc thẩm việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết được hiểu như thế nào?. Chúng tôi thiết nghĩ để áp dụng thống nhất quy định này cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có hướng dẫn cụ thể.

Theo Nghị quyết số 03/ HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS (NQ 03/HĐTP) khi người kháng cáo rút kháng cáo, viện kiểm sát rút kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, việc ra quyết định này không thể hiện được là sau khi toà án cấp phúc thẩm chấp nhận cho rút kháng cáo, kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm có tiếp tục xét xử nữa hay không cũng như bản án, quyết định sơ thẩm trong trong trường hợp này có hay không có hiệu lực pháp luật. Để giải quyết những vướng mắc này, BLTTDS đã quy định toà án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã rút kháng nghị. Khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xử phúc thẩm và bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 256, 260).

3. Về chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Các văn bản pháp luật tố tụng trước đây không có quy định về việc thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm. Việc không quy định những vấn đề này đã gây khó khăn cho toà án cấp phúc thẩm khi xác định thời hạn xét xử phúc thẩm cũng như trên thực tế có những trường hợp mà toà án cấp phúc thẩm không thể tiếp tục xét xử phúc thẩm hoặc không còn đối tượng để xét xử phúc thẩm nhưng không thể ra quyết định gì vì không có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, những vấn đề này đã được quy định trong BLTTDS. Cụ thể:

– Toà án cấp phúc thẩm vào sổ thụ lý vụ án ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu chứng cứ kèm theo (Điều 257).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó; một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, BLTTDS cũng quy định thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cũng được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm (Điều 259).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 260).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp này toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm. (Điều 269).

Trước đây, theo hướng đẫn của NQ 03/HĐTP, trước khi xét xử phúc thẩm toà án cũng tiến hành hòa giải và nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thủ tục ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự giống như ở sơ thẩm. Tuy nhiên, theo Điều 258 BLTTDS trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, toà án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Như vậy, khác với các quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng trước đây, trước khi mở phiên toà phúc thẩm nếu các đương sự có hoà giải thành thì toà án cũng không ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Vậy trong trường hợp này toà án cấp phúc thẩm giải quyết như thế nào? Phải chăng thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án chỉ lập biên bản hòa giải thành sau đó mở phiên toà và hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự như hướng dẫn tại Công văn số 81/KHXX ngày 10/6/2002 của Toà án nhân dân tối cao. Chúng tôi cho rằng trước khi xét xử phúc thẩm nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì toà án không cần phải mở phiên toà vì khi các đương sự đã đạt được sự thống nhất chung về các vấn đề giải quyết trong vụ án thì thẩm phán phải công nhận sự thoả thuận đó và sự thoả thuận của họ đã đương nhiên phủ nhận giá trị pháp lý của bản án, quyết định sơ thẩm. Ngoài ra, bản án, quyết định sơ thẩm chưa hẳn là đã có sai lầm, vi phạm pháp luật để toà án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm đó. Do đó, theo chúng tôi, trong trường hợp này cần hướng dẫn thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và tuyên bố bản án sơ thẩm không có hiệu lực pháp luật.

4. Thủ tục xét xử phúc thẩm

– Về việc hoãn phiên toà phúc thẩm

Các văn bản pháp luật trước đây quy định nguyên đơn kháng cáo đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Nếu đương sự kháng cáo không phải là nguyên đơn hoặc đương sự không kháng cáo nhưng đã được toà án cấp phúc thẩm triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng Toà án xét xử vụ án vắng mặt họ. Tuy nhiên việc quy định này là không hợp lý vì việc xét xử phúc thẩm là dựa trên yêu cầu kháng cáo, trong khi đó bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu kháng cáo triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án xét xử vụ án vắng mặt họ hoặc nguyên đơn cũng không có mặt tại phiên toà phúc thẩm mà không có lý do chính đáng thì hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn phải mở phiên toà để xét xử. Để khắc phục hạn chế này, Điều 266 BLTTDS quy định người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Nếu người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Toà án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phần vụ án có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt. Người tham gia tố tụng khác không phải là người kháng cáo vắng mặt tại phiên toà thì việc hoãn phiên toà hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện như ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại các Điều 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205 và 206 BLTTDS. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 208 BLTTDS.

– Thủ tục phiên toà phúc thẩm

Điều 68 PLTTGQCVADS, Điều 69 PLTTGQCVAKT, Điều 70 PLTTGQCTCLĐ quy định về thủ tục phiên toà phúc thẩm rất sơ sài, chỉ quy định chung chung là được tiến hành tương tự phiên toà sơ thẩm. Tuy nhiên, BLTTDS đã quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà phúc thẩm từ khi chuẩn bị khai mạc phiên toà đến khi kết thúc phiên toà trong đó đã bổ sung các quy định để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, mở rộng quyền dân chủ, phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc trình bày yêu cầu, đề nghị, xuất trình chứng cứ, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Cụ thể:

Trước khi khai mạc phiên toà, thư ký toà án phải tiến hành các công việc để chuẩn bị khai mạc phiên toà. Sau đó, chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà; giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; xem xét, quyết định, hoãn phiên toà khi có người vắng mặt; bảo đảm tính khách quan của người làm chứng (Điều 267, 212, 213, 214, 215, 216).

Trong phần hỏi tại phiên toà, BLTTDS đã có một số quy định mới so với các văn bản pháp luật tố tụng trước đây cụ thể như sau:

Thứ nhất, chủ toạ phiên toà hỏi và hội đồng xét xử xem xét việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, việc thoả thuận của cá đương sự tại phiên toà phúc thẩm.

Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên toà phúc thẩm vẫn tiến hành bình thường. Nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 268, 269). Quy định mới này vừa thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc quyền tự định đoạt của dương sự đồng thời vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác.

Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, thì hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của đương sự. (Điều 268, 270).

Thứ hai, việc nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên toà. Theo quy định tại Điều 271 BLTTDS người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thường trình bày trước sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Quy định mới này cho thấy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự dần dần được giao cho những người am hiểu pháp luật và có trình độ chuyên môn cao thực hiện và như vậy chất lượng và hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ một cách tốt nhất.

Việc tiến hành tranh luận, nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm tuy nhiên việc hỏi và tranh luận chỉ về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 273, 274).

Có thể nói các quy định của BLTTDS về phiên toà phúc thẩm đều nhằm thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong phiên toà đồng thời tôn trọng và phát huy quyền tự định đoạt của đương sự qua đó toà án có thể ra được một bản án chính xác, công bằng và đúng pháp luật.

5. Quyền hạn của hội đồng xét xử phúc thẩm

Điều 69 PLTTGQCVADS chỉ quy định hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án nhưng lại không quy định về quyền sửa một phần bản án sơ thẩm, không tuyên bố về số phận pháp lý của bản án sơ thẩm là có hay không có hiệu lực pháp luật, không quy định về quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm. Điều này đã dẫn đến khó khăn cho toà án trong việc áp dụng khi không có các căn cứ pháp lý để ra quyết định. Tất cả những vướng mắc này hiện nay đã được BLTTDS giải quyết. Cụ thể theo quy định tại các điều 260, 265, 275, 276, 278 BLTTDS hội đồng xét xử có quyền hạn sau:

– Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nếu toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong trường hợp việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định của BLTTDS; việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều 189 BLTTDS;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều 260 của BLTTDS.

Trên đây là những sửa đổi, bổ sung cơ bản về chế định phúc thẩm dân sự trong BLTTDS. Những quy định mới này có thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn hay không cần phải có thời gian nhận thức, kiểm nghiệm. Và còn nhiều vấn đề khác nữa cần phải được tiếp tục nghiên cứu để chế định phúc thẩm dân sự ngày càng hoàn thiện hơn./.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

CHẾ ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẢM, TÁI THẨM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ Đ ẶT RA CHO VIỆC THI HÀNH

THS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Luật dân sự – ĐHLHN

Mục đích của tố tụng dân sự là nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ việc dân sự. Do vậy, để có thể bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo việc xét xử của toà án được đúng đắn thì pháp luật tố tụng dân sự cần phải xây dựng được một cơ chế tố tụng thích hợp. Để góp phần làm rõ cơ chế tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bài viết này đề cập tới một số vấn đề của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự.

1. Những điểm mới của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm

– Về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) được ban hành trước đây không có những quy định mang tính định nghĩa về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy vậy, các quy định mang tính định nghĩa này của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã được ghi nhận tại các điều 282, 304 BLTTDS.

Quy định tại các điều 282, 304 BLTTDS đã thể hiện được tính chất cơ bản của hai loại thủ tục nói trên. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đều là thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của những người có thẩm quyền. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dựa trên những căn cứ kháng nghị khác nhau. Từ điểm khác biệt cơ bản này, dẫn tới sự khác nhau trong các quy định về thời hạn kháng nghị và quyền hạn của hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

– Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo khoản 1 Điều 76 PLTTGQCVADS thì “Hội đồng giám đốc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị”. Quy định này cũng được áp dụng cho thủ tục tái thẩm các vụ án dân sự. Trong khi đó khoản 1 Điều 76 PLTTGQCTCLĐ quy định “Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có thể xem xét nội dung của vụ án liên quan đến phần quyết định bị kháng nghị”. Vấn đề này không được quy định trong PLTTGQCVAKT. Do vậy, trong thực tiễn việc vận dụng các quy định về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động là không thống nhất.

BLTTDS hiện nay đã khắc phục được những bất cập của các pháp lệnh trước đó và đã có một quy định thống nhất về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo Điều 296 và 310 BLTTDS thì hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm “chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị”. Ngoài ra, hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền “xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án”.

– Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Điều 71 PLTTGQCVADS, đã quy định bốn căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:

+ Việc điều tra không đầy đủ;

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 75 PLTTGQCVAKT và Điều 73 PLTTGQCTCLĐ chỉ quy định ba căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Kế thừa các quy định này, BLTTDS quy định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dựa trên ba căn cứ sau đây:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Việc BLTTDS quy định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dựa trên ba căn cứ nêu trên mà không quy định dựa trên căn cứ “Việc điều tra không đầy đủ” là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì “Việc điều tra không đầy đủ” chỉ là một trong những nguyên nhân dẫn tới “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án”. Thực chất đây là trường hợp toà án trong quá trình giải quyết vụ án đã có những sai lầm khi đánh giá về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Còn căn cứ “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và “Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” thực chất là trường hợp khi toà án tiến hành giải quyết vụ việc đã có những sai lầm nghiêm trọng trong việc vận dụng pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và tố tụng dân sự.

– Về thời hạn kháng nghị

BLTTDS cũng đã có những quy định mang tính thống nhất về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động. Trước khi ban hành BLTTDS, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được pháp luật quy định đối với các bản án, quyết định này là khác nhau. Theo PLTTGQCVADS, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; thời hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày phát hiện được những tình tiết mới là căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Đối với việc kháng nghị không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì không bị hạn chế về thời gian. Theo các điều 77, 83 PLTTGQCVAKT thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 9 tháng, thời hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Theo Điều 75 PLTTGQCTCLĐ thì “Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là 6 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động thì thời hạn đó là một năm”.

Như vậy, theo PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đều được tính từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật.Trong khi đó, PLTTGQCVADS có phân biệt mốc tính thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm.

BLTTDS, đã khắc phục những hạn chế của các pháp lệnh nêu trên đồng thời quy định một thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chung, thống nhất áp dụng cho tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo Điều 288 và Điều 308 BLTTDS thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

– Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị

Các văn bản pháp luật về thủ tục được ban hành trước đó không có quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị sau khi người có thẩm quyền đã tiến hành kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Khắc phục những bất cập này, lần đầu tiên các quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị đã được ghi nhận tại Điều 289 và Điều 310 BLTTDS.

Theo các quy định của BLTTDS thì người đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị; có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm. Các quy định này là một điểm mới so với các quy định tại các văn bản pháp luật trước đó.

Qua các vấn đề nêu ở trên có thể thấy rằng các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS đã có nhiều sửa đổi, bổ sung và tiến bộ so với các văn bản pháp luật trước đó. Tuy vậy, việc vận dụng các quy định này trong thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải có những nghiên cứu và hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.

2. Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

– Về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Hiện nay, Điều 282 BLTTDS chỉ đề cập tới thủ tục giám đốc thẩm với tính chất là thủ tục “xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Quy định tại Điều 282 BLTTDS không đề cập tới thủ tục giám đốc thẩm với tính chất là thủ tục xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện sai lầm của toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ việc.

Chúng tôi cho rằng bản chất của thủ tục giám đốc thẩm là việc xét xử lại vụ việc mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết. Những sai lầm, thiếu sót của toà án khi giải quyết vụ việc có thể ở hai dạng cơ bản là sai lầm về các tình tiết, sự kiện của vụ việc hoặc sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và pháp luật tố tụng dân sự. Do vậy, quy định về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm như Điều 282 BLTTDS là chưa đầy đủ và không lột tả được hết bản chất của thủ tục giám đốc thẩm. Mặt khác, quy định này cũng không thể hiện đầy đủ các căn cứ kháng nghị theo Điều 283 BLTTDS. Theo chúng tôi, Điều 282 BLTTDS về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm cần được sửa đổi như sau:“ Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm của toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”.

– Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Các quy định về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS là chưa thật sự hợp lý, cần phải mở rộng phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với toàn bộ bản án, quyết định như đã từng quy định trong PLTTGQCVADS trước đây. Quy định của BLTTDS hiện nay về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có thể dẫn tới những bất cập trong việc áp dụng. Cụ thể là đối với trường hợp những người có thẩm quyền chỉ tiến hành kháng nghị đối với một phần bản án, quyết định thì một vụ án có thể bị kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm nhiều lần gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

– Về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo khoản 4 Điều 291 BLTTDS thì những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của các cấp toà án khác nhau được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 291 thì toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án. Theo chúng tôi, quy định tại khoản 4 Điều 291 BLTTDS về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là không rõ ràng có thể dẫn tới những cách hiểu và vận dụng khác nhau. Theo cách quy định này có thể dẫn tới cách hiểu là toà án có thẩm quyền cấp trên có thể giám đốc thẩm toàn bộ vụ án mà không bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị theo quy định về phạm vi xét xử tại Điều 296 BLTTDS. Do vậy, cần phải có những giải thích, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

– Về căn cứ kháng nghị

Một vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về thủ tục giám đốc thẩm là trường hợp nào được coi “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều 283 BLTTDS không quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào Điều 299 BLTTDS có thể coi việc vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi :

+ Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS;

+ Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Vấn đề là ở chỗ cần phải hiểu “có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” là như thế nào? Theo chúng tôi, những vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng có thể được hiểu là toà án khi tiến hành giải quyết vụ việc đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự như nguyên tắc hoà giải, nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc về tiếng nói chữ viết trong tố tụng dân sự…hoặc vi phạm các quyền tố tụng cơ bản của đương sự như quyền tham gia phiên toà; xác định sai thẩm quyền của toà án, xác định sai tư cách đương sự.v.v. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để tránh cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn.

Theo Điều 304 của BLTTDS thì tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các đương sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các đương sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó” là chưa chính xác và mâu thuẫn với quy định về căn cứ kháng nghị theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án”. Xét về thuật ngữ thì việc “các đương sự không biết được” và việc “đương sự đã không thể biết được” là hoàn toàn khác nhau. Mặt khác, việc sử dụng thuật ngữ “đương sự đã không thể biết được” cũng không thật sự rõ ràng. Từ đó, có thể dẫn tới cách hiểu tình tiết mới được phát hiện phải là tình tiết mà nhiều đương sự không thể biết, thậm chí là toàn bộ các đương sự trong vụ việc không thể biết mới được coi là căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Còn trường hợp tình tiết mới được phát hiện mà chỉ có một đương sự không thể biết thì không coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Cách hiểu này có thể dẫn tới việc những người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm sẽ không tiến hành kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới của vụ việc mà chỉ có một đương sự trong vụ việc không biết được những tình tiết này. Chẳng hạn, nhiều người thừa kế trong vụ án chia thừa kế biết là có một bản di chúc nhưng cố tình giấu đi để yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, gây bất lợi cho người thừa kế được định đoạt di sản theo di chúc, trong khi đó bản thân người này cũng không biết được là người có di sản đã có di chúc định đoạt tài sản cho mình. Nếu coi đây là trường hợp “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” để kháng nghị giám đốc thẩm thì có thể gây bất lợi cho đương sự ngay tình “không thể biết” được các tình tiết đó vì lý do đã hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Bởi lẽ, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được quy định là ba năm nhưng lại được tính từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, cần phải có những hướng dẫn về vấn đề này theo hướng coi là căn cứ để kháng nghị tái thẩm khi “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà một trong các đương sự hoặc các đương sự trong vụ việc dân sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc”.

– Về việc phát hiện căn cứ kháng nghị và thời hạn kháng nghị

Hiện nay, các quy định tại Điều 284 và Điều 306 BLTTDS chỉ dừng lại ở chỗ ghi nhận quyền phát hiện và thông báo những vi phạm pháp luật, những tình tiết mới của vụ việc của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng như nghĩa vụ của viện kiểm sát, toà án trong việc phát hiện và thông báo cho những người có thẩm quyền kháng nghị các căn cứ kháng nghị, không có những quy định về một cơ chế để xử lý, giải quyết những thông báo nhận được. Thiết nghĩ, quyền phát hiện và thông báo những vi phạm pháp luật, những tình tiết mới của vụ việc chỉ thực sự có ý nghĩa nếu quy định một cơ chế rõ ràng, cụ thể cũng như một thời hạn nhất định để những người có thẩm quyền xử lý những thông tin thu nhận được. Mặt khác, bản thân những người có thẩm quyền kháng nghị cũng không thể tự mình xử lý được toàn bộ những đơn từ khiếu nại, tố cáo. Do vậy, cần phải có quy định cụ thể về bộ máy giúp việc, cơ chế hoạt động, trách nhiệm của các thẩm tra viên khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Ngoài ra, BLTTDS không có những quy định về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm do có những trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền kháng nghị không thể tiến hành kháng nghị hoặc trường hợp có căn cứ rõ ràng để kháng nghị tái thẩm mà những người có thẩm quyền vẫn không kháng nghị mặc dù biết rõ các căn cứ này. Do vậy, nếu không có những hướng dẫn bổ sung về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ dẫn đến những bất cập trong việc áp dụng, không đảm bảo được sự công bằng và quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

Theo quy định của BLTTDS thì thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Như vậy, việc kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hiện nay là phụ thuộc vào việc người có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết các căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Và việc người có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết các căn cứ để kháng nghị tái thẩm chủ yếu lại phụ thuộc vào việc thẩm tra viên có đề xuất việc kháng nghị hay không. Do vậy, cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các thẩm tra viên và người có thẩm quyền kháng nghị cũng như trách nhiệm của họ đối với việc không kháng nghị các bản án, quyết định của toà án mặc dù rõ ràng có căn cứ để tiến hành kháng nghị. Quy định này cùng với các quy định về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, đảm bảo công bằng xã hội.

– Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị

BLTTDS hiện nay không có những quy định về thủ tục giải quyết trong trường hợp người đã kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm. Vậy khi vận dụng trong thực tiễn, đối với những trường hợp này, toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm có phải ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm hay không? Đặc biệt, trong trường hợp xét thấy bản án, quyết định có xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án mà người có thẩm quyền kháng nghị đã rút toàn bộ kháng nghị thì toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ phải giải quyết như thế nào cũng không được đề cập. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu bổ sung các quy định về thủ tục giải quyết trong trường hợp người đã kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.

– Về vấn đề giám đốc thẩm, tái thẩm đối với việc dân sự

Trước kia, theo Nghị quyết số 03/ HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS thì đối với các việc về yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết mà người bị xác định là đã mất tích hoặc đã chết đó lại quay trở về thì vụ việc sẽ được xét lại theo thủ tục tái thẩm. Hiện nay, theo quy định của BLTTDS thì yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết lại thuộc thẩm quyền của toà án cấp sơ thẩm. Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm cũng có thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Do vậy, có thể suy luận việc xem xét lại theo thủ tục tái thẩm đối với các loại việc này không được đặt ra. Tuy nhiên, đối với các việc dân sự khác mà quyết định về việc dân sự đã có hiệu pháp luật mà có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới thì có được kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không ?

Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS về nguyên tắc giải quyết việc dân sự thì khi giải quyết việc dân sự, toà án áp dụng những quy định của Chương XX, đồng thời áp dụng những quy định khác của BLTTDS không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự. Như vậy, các quy định tại Điều 311 BLTTDS cũng không thể hiện rõ ràng về việc có áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các việc dân sự hay không và nếu có áp dụng thì sẽ được áp dụng đối với các loại việc dân sự nào? Thiết nghĩ, các quyết định về việc dân sự mặc dù đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi về cơ bản nội dung vụ việc. Do vậy, cũng cần phải có những hướng dẫn cụ thể về thủ tục xét lại các quyết định giải quyết việc dân sự đã có hiệu lực pháp luật.

– Về những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo Điều 292 và Điều 310 BLTTDS thì phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm phải có sự tham gia của viện kiểm sát cùng cấp. Khi xét thấy cần thiết, toà án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà. Hiện nay, theo Điều 64 BLTTDS thì “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết”. Như vậy, việc “xét thấy cần thiết” có phải triệu tập đương sự, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của toà án. Theo chúng tôi, để tạo điều kiện cho đương sự có thể bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình, đảm bảo sự công khai, minh bạch trong việc giải quyết vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì pháp luật nên quy định toà án sẽ triệu tập các đương sự có liên quan tới vụ việc và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự đó tham gia phiên toà, trường hợp đã được triệu tập mà vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ việc.

Trên đây là một số ý kiến rút ra từ việc nghiên cứu chế định thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS. Rất mong được các cơ quan có thẩm quyền lưu tâm tham khảo trong việc hướng dẫn áp dụng BLTTDS./.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Trần Phương Thảo

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm cho việc thi hành án. Kế thừa và phát triển các quy định của các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã có Chương VIII với 28 điều luật (từ Điều 99 đến Điều 126) quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

1. Những điểm mới của chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời

– Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 102 BLTTDS đã quy định 12 biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án được áp dụng. Đây là sự kế thừa các quy định tại Điều 41 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 42 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Tuy vậy, cũng có một số biện pháp lần đầu tiên được bổ sung quy định trong BLTTDS như các biện pháp về phong toả tài sản, tài khoản, buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng sức khỏe bị xâm phạm… Ngoài ra, khoản 2 Điều 102 BLTTDS còn thừa nhận cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định. Việc Bộ luật tố tụng dân sự quy định tương đối đầy đủ các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Không chỉ quy định nhiều hơn về số lượng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự, BLTTDS còn quy định tương đối cụ thể về điều kiện áp dụng đối với từng biện pháp. Chúng ta có thể nhận thấy điều này qua nội dung của 13 điều luật (từ Điều 103 đến Điều 116). Chính các điều luật này đã tạo nên các cơ sở pháp lý cụ thể, giúp toà án có thể áp dụng đúng và phù hợp các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

– Về chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS, chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khác. Theo Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tối cao ngày 27 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì những chủ thể này bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tập thể người lao động do Bộ luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định. Việc mở rộng hơn các chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS sẽ góp phần bảo vệ kịp thời, đầy đủ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, toà án chỉ xem xét để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu các chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề đạt yêu cầu đó với toà án. Vì thế thông thường toà án sẽ không tự mình chủ động ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong 5 trường hợp quy định tại Điều 119 BLTTDS. Đây cũng là một quy định mới của BLTTDS bởi theo các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, toà án chủ động, tự mình áp dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật có quy định. Chính các quy định này của Pháp lệnh đã hạn chế quyền yêu cầu của đương sự, hạn chế sự nỗ lực của họ trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Bộ luật tố tụng dân sự quy định toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có yêu cầu và toà án chỉ chủ động ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một số trường hợp cần thiết đã khắc phục được những hạn chế đó.

– Về thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có tác dụng giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo vệ được bằng chứng, bảo vệ được tài sản…Vì vậy, việc xác định thời điểm toà án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất quan trọng. Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong suốt quá trình toà án giải quyết vụ việc dân sự. Điều này có nghĩa toà án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời điểm nào trước và trong khi xét xử. Thậm chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu toà án áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện. Quy định này của BLTTDS đã tạo ra sự năng động, kịp thời trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, đồng thời khắc phục được hạn chế của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào thời điểm trước khi xét xử.

– Về việc ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Người có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có quyền yêu cầu toà thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng không còn phù hợp (Điều 121 BLTTDS). Toà án có quyền hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ; người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ với bên có yêu cầu; nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 122 BLTTDS).

Trước đây do các văn bản pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên trong thực tiễn áp dụng đã có những trường hợp toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sai, không phù hợp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bên đương sự bị áp dụng nhưng vẫn không thay đổi, hủy bỏ được biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Hiện nay, BLTTDS đã quy định việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án áp dụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Thẩm quyền xem xét để ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định cụ thể tại Điều 100 BLTTDS. Theo điều luật này nếu yêu cầu áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được đưa ra vào thời điểm trước khi mở phiên toà thì thẩm quyền quyết định sẽ do một thẩm phán thực hiện. Nếu yêu cầu đó đưa ra vào thời điểm tại phiên toà thì thẩm quyền xem xét, quyết định sẽ do hội đồng xét xử. Các quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, toà án phải thông báo quyết định này tới các chủ thể liên quan.

– Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

Buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm là một trong những quy định rất mới của BLTTDS (Điều 120). Tương ứng với quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm mà cụ thể là họ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì “nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Còn “người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là người đại diện theo ủy quyền của đương sự thì người có nghĩa vụ phải thực hiện là đương sự. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa tình trạng người có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời lạm dụng quyền này. Tuy nhiên không phải người nào đưa ra yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Điều 120 BLTTDS đã quy định rõ những trường hợp người đưa ra yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do toà án ấn định. Đối với những trường hợp khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm này không quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu. Nếu việc thực hiện biện pháo bảo đảm vào ngày lễ, ngày nghỉ, khoản tiền thực hiện biện pháp bảo đảm sẽ được giữ lại toà án. Toà án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng trong ngày làm việc tiếp theo.

– Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 117 BLTTDS quy định người đưa ra yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ phải nộp đơn gửi đến toà án có thẩm quyền mà đơn đó phải thể hiện được các nội dung theo luật định. Tùy từng trường hợp, kèm theo đơn, người đưa ra yêu cầu phải cung cấp cho toà án những chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chính quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra yêu cầu không có căn cứ từ phía những người có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đồng thời quy định này cũng giúp toà án có cơ sở rõ ràng để nhanh chóng ra được quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thông thường khi thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thời hạn để họ ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là 3 ngày kể từ ngày nhận đơn nếu người đưa ra yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp bảo đảm. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được đưa ra tại phiên toà thì hội đồng xét xử sẽ xem xét để ra quyết định ngay sau khi người đưa ra yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm.

Đối với những tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì chánh án phải chỉ định ngay một thẩm phán giải quyết và thời hạn để ra quyết định là 48 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu và các chứng cứ kèm theo. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì thẩm phán đó cũng phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng là phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ hoặc phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì toà án chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

Như vậy, so với các quy định trước đây, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự đã được quy định cụ thể và phù hợp hơn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc toà án ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự đều có thể ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp cho đương sự. Vì vậy, BLTTDS quy định đương sự có quyền khiếu nại, viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho người khác có quyền kiến nghị với chánh án toà án đang giải quyết vụ án nếu cho rằng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án đã xâm phạm đến quyền lợi của đương sự. Thời hạn các chủ thể này thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án hoặc trả lời của thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Khi nhận được khiếu nại, kiến nghị, chánh án toà án phải xem xét, giải quyết trong thời hạn 3 ngày làm việc. Quyết định của chánh án về việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị là quyết định cuối cùng, được cấp hoặc gửi ngay theo quy định của pháp luật.

Về cơ bản, quy định của BLTTDS về quyền khiếu nại, kiến nghị và việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị giống với các quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây. Điểm mới trong BLTTDS là ngoài việc quy định các chủ thể theo luật định có quyền khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thì còn quy định các chủ thể có quyền khiếu nại, kiến nghị về việc toà án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định mới này là cần thiết bởi trong thực tế đã có trường hợp vì toà án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên đã không bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Theo Điều 101, người yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. vì vậy, nếu yêu cầu của họ không đúng, gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì theo quy định của pháp luật, họ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này buộc người có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải suy nghĩ chín chắn trước khi đưa ra yêu cầu, buộc họ phải có trách nhiệm với hành vi của mình.

Ngoài quy định trách nhiệm bồi thường của đương sự và những chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS còn quy định trách nhiệm bồi thường của toà án nếu quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Theo khoản 2 Điều 101 BLTTDS, toà án sẽ phải bồi thường trong trường hợp toà án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời

Có thể khẳng định các quy định của BLTTDS về biện pháp khẩn cấp tạm thời có nhiều điểm mới tiến bộ và tương đối phù hợp với thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, theo chúng tôi một số quy định của BLTTDS về biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn còn chưa thật phù hợp.

Thứ nhất, các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 102 BLTTDS tuy tương đối đa dạng nhưng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy có những vụ việc rất cần toà án phải áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời khác các biện pháp đó. Vậy trong trường hợp này toà án có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp cần thiết đó hay không? Nếu không thì sẽ không thể kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, khoản 13 Điều 102 BLTTDS nên được bổ sung theo hướng toà án có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định và cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật chưa có quy định nếu không trái với các quy định của Bộ luật này.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, đương sự chỉ có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu họ khởi kiện vụ án dân sự. Trong thực tế có nhiều trường hợp đương sự chỉ muốn yêu cầu toà án áp dụng ngay một biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình mà không muốn khởi kiện bởi họ không có tranh chấp hoặc có tranh chấp nhưng tranh chấp đó đã được giải quyết sau khi toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết. Với quy định như hiện nay trong BLTTDS thì vô hình chung đã buộc đương sự phải khởi kiện vụ án dân sự ngay cả khi họ không muốn. Theo chúng tôi BLTTDS nên thừa nhận quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự khi họ không khởi kiện vụ án dân sự tại toà án. Yêu cầu này sẽ được giải quyết giống như một việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án.

Thứ ba, khoản 1 Điều 102 BLTTDS có quy định biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với người chưa thành niên. Theo chúng tôi ngoài đối tượng là người chưa thành niên thì người mắc bệnh tâm thần và mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình cũng rất cần được toà án áp dụng biện pháp này. Vậy cần bổ sung vào khoản 1 Điều 102 BLTTDS quy định giao người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom nuôi dưỡng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến họ mà chưa có người giám hộ.

Thứ tư, quy định của BLTTDS tại khoản 2 Điều 101 về trách nhiệm bồi thường của toà án trong trường hợp toà án đã áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Đây là một quy định mới tiến bộ vừa có tác dụng nâng cao trách nhiệm của toà án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời lại bảo đảm quyền lợi cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của toà án được quy định tại khoản 2 Điều 102 BLTTDS, nhưng các căn cứ này mới chỉ đề cập đến trách nhiệm của toà án khi áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà chưa đề cập đến trách nhiệm của toà án trong trường hợp toà án đã không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong thực tế, việc toà án đã không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể gây thiệt hại không nhỏ cho đương sự. Vì vậy, để xác định được đầy đủ hơn trách nhiệm của toà án, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 102 BLTTDS thêm một căn cứ nữa, đó là toà án phải bồi thường thiệt hại cho người đưa ra yêu cầu nếu toà án có lỗi trong việc không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

Thứ năm, mục đích của việc toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm kịp thời bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Tuy nhiên, theo quy định tại các Điều 108, 109 và 110 BLTTDS thì các biện pháp kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp chỉ được toà án ra quyết định áp dụng nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ tài sản này có hành vi tẩu tán, chuyển dịch quyền tài sản hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản. Điều này có nghĩa khi toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên thì những hành vi tẩu tán tài sản, chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp hoặc hành vi thay đổi hiện trạng tài sản đã được thực hiện. Nếu vậy việc toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là quá muộn, không còn ý nghĩa. Theo chúng tôi, để khắc phục hạn chế này, các điều 108, 109, 110 BLTTDS nên được sửa đổi theo hướng thay thế cụm từ “…nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ về tài sản có hành vi…” bằng cụm từ “…nếu có căn cứ cho thấy cần ngăn chặn người đang nắm giữ tài sản có hành vi…”

Thứ sáu, về thủ tục ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 117 BLTTDS cũng còn bất cập. Thời hạn để thẩm phán ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là ba ngày hoặc 48 giờ tùy từng trường hợp cụ thể vẫn là quá dài, không đáp ứng được tính khẩn cấp. Bởi đối với những biện pháp phong tỏa về tài khoản, tài sản thì đương sự có khả năng bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này chỉ cần một thời gian rất ngắn để rút tiền hoặc tẩu tán tài sản. Theo chúng tôi trong trường hợp này BLTTDS nên quy định ngắn hơn về thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đặc biệt nên quy định trong những trường hợp cấp bách đương sự có thể yêu cầu toà án ra ngay quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Kể cả trong ngày lễ, ngày nghỉ đương sự vẫn có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Dựa vào yêu cầu của đương sự, thẩm phán sẽ ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu xét thấy cần thiết.

Thứ bảy, về quy định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm tại Điều 120 BLTTDS cũng có chỗ chưa hợp lý. Cụ thể là khi chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 BLTTDS, thẩm phán hoặc hội đồng xét xử buộc người yêu cầu phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do thẩm phán hoặc hội đồng xét xử ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Cụ thể hơn, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba. Theo chúng tôi hướng dẫn này rất bất hợp lý bởi khi đưa ra yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời làm sao toà án cũng như người đưa ra yêu cầu biết được mức thiệt hại thực tế có thể như thế nào./.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004