TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn Luật sư TPHCM

I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định trong khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.

Các thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Khoản 5 và 6 điều 40 Luật Luật sư quy định, một trong những nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 38 và 39 Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của Chính phủ quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng và có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. Continue reading

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…

Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Continue reading

BIẾT – HIỂU VÀ VẬN DỤNG LUẬT

image LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Đoàn Luật sư TPHCM

Tôi viết bài này cho các bạn đang tập sự (Luật sư tập sự – Civillawinfor), để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”.  Ta đi vào từng cái.

A. Ấn định trách nhiệm

Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm.

Continue reading

“VẬN DỤNG” LUẬT PHÁP – SOS!

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty Luật Hợp danh DC) dẫn lời bài viết “ Biết – hiểu – và vận dụng luật” (Bản Tin Luật Sư số tân niên ngày 13.3.2010) rằng ông viết bài này nhằm chỉ “cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng vác củi”.

Tôi không nghĩ như vậy khi đọc xong bài viết của ông, bởi những nội dung mà ông thể hiện trong bài viết có thể cũng là “bí mật” mà nhiều người chưa biết (không chỉ có người tập sự luật sư ) ví như điều “bí mật” của luật pháp mà ông đã đề cập đến. Tôi đặt vấn đề này không nhằm “dám” trao đổi “song phương” với bậc đại thụ về những nguyên tắc “bất di, bất dịch” của luật pháp, lại càng không phải muốn tranh luận hay phản biện với những tâm huyết thật bình dị mà sâu sắc của tác giả đã muốn gởi gắm trong bài viết của mình. Vậy nên, tôi chỉ cảm thấy muốn được chia sẻ nhiều hơn những cái bất cập từ thực tế của luật pháp, và tin chắc rằng những trăn trở ấy không chỉ riêng tôi.

Có chăng “bí mật” ngoài luật pháp?

“Luật là thực tế!” Vâng. Cũng biết rằng mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội, tạo sự an tâm của mọi người hôm nay và mai sau, vì thế các nhà làm luật luôn mong muốn sử dụng một kỹ thuật hoàn hảo để có thể dễ dàng ứng dụng nó vào trong cuộc sống, nhằm bảo vệ nhu cầu chính đáng của xã hội. Người biết luật là người biết cả những kỹ thuật mà luật sử dụng. Đọc một văn bản quy phạm pháp luật, biết văn bản đó điều chỉnh những vấn đề nào, các quan hệ nào, đối tượng nào …điều đó giúp chúng ta tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Thế nhưng, đôi khi nếu chỉ dựa vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh mà luật đã ban hành dường như chưa thuyết phục lắm, bởi sự chồng chéo, mâu thuẫn của “luật trước” với “luật sau”, luật “trong” với luật “ngoài” (quốc tế) cả việc xác định cái “tư cách” pháp lý hay “địa vị” pháp lý nào đó thì luật pháp dường như cũng bó tay trước những diễn biến và tác động của cuộc sống thực tế vẫn diễn ra mỗi ngày. Cứ thế, luật pháp chạy theo đến mỏi chân mà không thấy tới. Trong khi đó những người đi cùng luật pháp vẫn vừa chạy nhưng lại vừa cố tìm cách nào đễ “chạy” nhanh nhất.

Continue reading

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ -  Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

Continue reading

LUẬT SƯ NỘI BỘ – MỘT NGHỀ TRIỂN VỌNG

XUÂN HỢP

Nếu hiểu rõ, nắm bắt kịp thời và tỉnh táo trong các vấn đề liên quan luật kinh tế, thương mại, dân sự, sở hữu trí tuệ…, doanh nghiệp sẽ không chỉ tránh được những tình huống xấu bất ngờ mà có thêm lợi thế cạnh tranh. Hiểu được như thế, nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm và xây dựng cho mình một hoặc nhiều cố vấn pháp luật. Một số doanh nghiệp xây dựng cả một phòng luật sư nội bộ (phòng pháp chế) để giải quyết mọi các vấn đề  liên quan văn bản, hợp đồng, luật, cố vấn tranh tụng, dự báo và xử lí khủng hoảng.

“Luật sư nội bộ” – từ gốc tiếng Anh là “In House Counsel”. Khái niệm này còn có thể hiểu là “luật sư riêng”, “luật sư công ty”, “luật sư gia đình”, “cố vấn pháp luật”… Theo định nghĩa của Association of Corporate Counsel, luật sư công ty là nhân viên được tuyển dụng vào công ty để làm công việc luật sư. Theo luật một số bang của Mỹ, luật sư công ty bị hạn chế một số nghiệp vụ, trong đó có việc tranh tụng trước toà với tư cách đại diện công ty mình. Theo Luật luật sư của Việt Nam (có hiệu lực từ năm 2007), luật sư chỉ được hành nghề trên các hình thức Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH. Do đó luật sư nội bộ tại Việt Nam phần lớn mới ở dạng tư vấn pháp luật, xử lí hợp đồng…

Trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, các doanh nghiệp lớn đều có luật sư riêng. Những luật sư này có vị trí cao trong công ty và thường ở dạng cố vấn cao cấp cho chủ doanh nghiệp. Trong những nền kinh tế phát triển cao, luật sư là một nghề sáng giá. Nhiều chính khách vốn hoặc đồng thời là luật sư (như Đimitơrôp, Phiđen Caxtrô, Milôsêvích, Bin Clintơn, Nguyễn Hữu Thọ…). Những luật sư nội bộ cũng được hình tượng hóa qua các tiểu thuyết nổi tiếng thế giới (như Jenifer Packer trong “Thiên thần nổi giận” của Shedney Sheldon, Tom Haghen trong “Bố Già” của Mario Puzo…) Trong những cuốn sách đó, các luật sư nội bộ đều ở vị trí cao chỉ sau ông chủ và là nhân vật cực kỳ quan trọng đối với công ty, gia đình và cả đối thủ của họ.

Để làm tốt vai trò này, ngoài việc am hiểu rộng pháp luật dân sự, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, luật sư nội bộ phải có nhiều yếu tố khác:

Continue reading

ĐÀOTẠO LUẬT SƯ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THU HÀ – TS. NGÔ HOÀNG OANH – TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

1. Đào tạo luật sư ở Pháp

Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.

Continue reading

Đào tạo luật sư ở một số nước trên thế giới và những kinh nghiệm ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THU HÀ,  TS. NGÔ HOÀNG OANH & TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

1. Đào tạo luật sư ở Pháp

Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.

Continue reading

NGÀY XUÂN SUY NGẪM VỀ NGHỀ LUẬT SƯ

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM

Lẽ thường, xuân về Tết đến sẽ mang điều lành đến với mọi người, mọi nhà. Với những bài báo đầu năm 2010, cũng là khởi đầu Báo Pháp Luật TP.HCM “lột xác” thì giới luật sư được đưa lên “bàn mổ” với những điều dị nghị mang đậm sự phản cảm của dư luận.

Bốn số liền (từ ngày 01 đến ngày 04/01/2010) tờ báo phê phán một số luật sư là những “con sâu làm rầu nồi canh” trong hoạt động nghề nghiệp luật sư. Với tiêu đề: Tiền thầy bỏ túi, bài báo khái quát: “… không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân”. Phải chăng Báo Pháp Luật muốn tạo ra biệt lệ?

Là người trong giới luật sư, tôi thấm thía và đau đớn vô ngần. Đành rằng, không có nghề xấu, chỉ có người xấu vì “mía sâu có đốt, nhà dột có nơi”. Điều đáng buồn ở chỗ: từ xa xưa nghề luật sư được xã hội đề cao, coi trọng như là thiên chức. Nay lại có những con sâu làm tổn thương uy tín, hoen ố thanh danh những “hiệp sĩ” mà các bậc tiền bối đã dày công gầy dựng, vun đắp.

Chúng ta cần nghiêm khắc với bản thân: “tiên trách kỷ”. Trong lúc những đồng nghiệp chân chính, chấp nhận “thà cạp đất mà ăn” chứ không cam tâm làm điều xấu, thì đó đây có những “thầy cải” sẵn sàng “bán mình cho quỷ dữ”, nhắm mắt chạy theo tiền tài, vật chất!

Nhà thơ Trần Tế  Xương đã từng cảnh báo:

Văn minh Đông Á trời thu sạch,
Này lúc cương thường đảo ngược ru!

Continue reading

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi

Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.

Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.

Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ

Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.

Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…

Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: LUẬT SƯ GIỮ BÍ MẬT CHO THÂN CHỦ ĐẾN ĐÂU?

HỒNG TÚ

Luật sư không được câu kết với cán bộ tố tụng, không được giúp đỡ khách hàng giải quyết công việc bằng những thủ đoạn, hành vi bất hợp pháp.

Đạo đức hành nghề của luật sư được các đại biểu tham gia hội thảo “Quản lý nghề luật sư: Kinh nghiệm của Việt Nam và Nhật Bản” rất quan tâm, nhất là khi sắp tới, nội dung này sẽ được Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành thành quy tắc. Vấn đề đầu tiên trong đạo đức hành nghề luật sư là mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Tố giác hay im lặng?

Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư. Khi đó họ sẽ cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin liên quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư”.

Nhiều đại biểu tán đồng ý kiến này. Tuy nhiên, luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) tỏ ra băn khoăn khi đặt giả thuyết: Nếu khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư phải làm thế nào? Đi báo cơ quan chức năng hay im lặng che giấu tội phạm?

Luật sư Toriyama Hanroku (Đoàn Luật sư Osaka) nêu kinh nghiệm của Nhật Bản để các đại biểu tham khảo. Theo ông, luật sư Nhật Bản không được phép tiết lộ thông tin của khách hàng. Tuy nhiên, nếu biết được khách hành của mình đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, luật sư được phép báo cho cơ quan chức năng sau khi đã làm hết các biện pháp khác nhưng không ngăn cản khách hàng được. Còn lại, tất cả các trường hợp khác luật sư đều không được tố cáo, đó là nguyên tắc nghề nghiệp.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 123/QĐ-TTg NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” với các nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Xây dựng và phát triển đủ số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư để đáp ứng nhu cầu tư vấn và tham gia tranh tụng các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có cơ quan Chính phủ, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Continue reading

LUẬT SƯ LÀM RẦU THÂN CHỦ

NHÓM PV BÁO PLTPHCM

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

1. Tiền thầy bỏ túi

Số lượng luật sư đã không nhiều, năng lực của một số luật sư chưa cao, chưa thể đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Ðã vậy, không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân.

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

Ứng tiền, dzọt mất

Trên thực tế, để nhận được thù lao, luật sư phải lao tâm khổ tứ nghiên cứu hồ sơ, đi lại, quan hệ lo vụ việc của thân chủ. Những hoạt động này rất khó định tên nên có những luật sư nhận tiền ứng trước của thân chủ rồi chẳng làm gì nhưng vẫn vin vào đó để biện hộ rằng “tôi đã làm hết khả năng”.

Năm rồi, luật sư D. (Đoàn Luật sư tỉnh Q.) vào “ngồi ké” một văn phòng luật sư ở quận Gò Vấp (TP.HCM) và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với ông L. Hai bên thỏa thuận sẽ “cưa đôi” khoản tiền gần 6 tỉ đồng nếu đòi được nợ. Đòi được đến đâu, “cưa” đến đó và ông L. đã ứng trước 30 triệu đồng cho luật sư…

Continue reading

QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT SƯ VỚI CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

Nghề Luật sư được xã hội trọng vọng, tôn kính. Ngay từ thời La Mã Cổ đại, người Luật sư được xem như một hiệp sĩ, nghề luật sư được coi như một thiên chức (chức vụ thiêng liêng). Ở miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng 30/4/1975, ban nhạc hài hước nổi tiếng AVT đã từng cất lời ca trên đài phát thanh Sài Gòn: Luật sư đắc vợ, nhiều tiền, từ hai tay trắng làm nên nhà lầu!

Được biết, người Sài Gòn đã có thói quen tìm đến luật sư khi hữu sự, chẳng may phải “đáo tụng đình”. Vì vậy mà tổ chức luật sư ra đời tại “thánh địa” nầy ngay từ năm 1867 tính tới nay là 142 năm (chỉ gián đoạn 14 năm: từ năm 1975 đến năm 1989).

Để tạo được truyền thống danh giá tốt đẹp, giữ được sự tin cậy và trọng nể của người đời thì luật sư và tổ chức hành nghề luật sư suy nghĩ và hành động mẫu mực, thao thức với lời căn dặn được lưu truyền từ ngàn xưa: mua danh ba vạn, bán danh ba đồng; hoặc mất tiền bạc có thể làm ra tiền bạc, mất uy tín là mất tất cả.

Là luật sư, hơn các giới khác trong xã hội, chúng ta cần tuân thủ triệt để quy định pháp luật và ứng xử nhân văn trong làm việc và lối sống. Ở chừng mực nào đó, dân thường vi phạm pháp luật có thể được tha thứ hoặc châm chế do lạc hậu về kiến thức và nhận thức. Nhưng những “thầy luật” mà vi phạm pháp luật thì thật đáng chê trách. Trong số những điều tối kỵ của nghề luật sư là hành vi “chạy án”. Tại hội nghị tổng kết hàng năm của Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh, chúng ta luôn mạnh mẽ lên tiếng: cương quyết nói “không” với chạy án.

Khái niệm “chạy án” được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng nói theo dân gian là việc làm “đổi trắng, thay đen” trong hoạt động tố tụng làm sai lệch sự thật khách quan được thể hiện trong bản án để hưởng lợi bất chính. Là người “phụ tá công lý”, chúng ta xem công lý là kim chỉ nam, là vị thần bất khả xâm phạm. Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi đất lành chim đậu, với hào khí Nam bộ không cho phép chúng ta làm ngơ trước bất công, mà phải tỏ rõ thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (thấy việc nghĩa không làm thì không phải là người có dũng khí).

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

LS. NGUYỄN THÀNH VĨNH

Trong một chế độ dân chủ, đã nói đến Toà án là phải nói đến luật sư, nói đến công tác xét xử thì không thể nói đến vai trò của luật sư. Vì nội dung cơ bản của dân chủ là quyền của công dân, quyền của con người. Và một trong những người bảo vệ quyền con người là luật sư.

Chức năng, nhiệm vụ của luật sư đã được quy định tại Luật Luật sư. “Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 (Hết hiệu lực) của Hội đồng Bộ trưởng từng nói “Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cua công dân, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hộichủ nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị định đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công dân lên hàng đầu. Chiến lược cơ bản của chế độ ta là chiến lược con người, là “tất cả vì dân”, “tất cả vì hạnh phúc của con người”.

Để đạt được mục đích cao cả đó, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công lý. Luật sư, qua việc làm sáng tỏ sự thật về vụ án và vận dụng đúng đắn pháp luật cóliên quan, góp phần tích cực cùng với Toà án, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế. Do đó, sự đảm nhận một vai trò rất quan trọng trong bộ máy xét xử, và là một bánh xe cần thiết, không thể thiếu được trong bộ máy xét xử.

Vai trò của luật sư càng cần thiết và quan trọng trong việc giải quyết các vụ kiện hành chính. Vì từ trước tới nay, công dân chỉ có quyền khiếu tố đến cơ quan hành chính, quyền này được các Hiến pháp của Nhà nước ta và Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và 1991 quy định. Nhưng quyền đó nhiều khi không thực hiện được trong thực tế. Vì người bị kiện chính là “quan toà”. Đôi khi đơn khiếu tố được giải quyết bằng một chỉ thị hành chính. Nhưng chỉ thị đó không có hiệu lực thi hành và thường không được thi hành.

Continue reading

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ ĐẾN NĂM 2020: ĐIỂM TỰA CHO LUẬT SƯ VIỆT NAM

THIÊN LONG

"Từ nay đến năm 2020, số luật sư (LS) sẽ tăng gấp 3 lần (hiện là 5.500 người), tỷ lệ LS trên dân số khoảng 1/12.000 người. Số LS được đào tạo bài bản, trang bị đủ các kỹ năng tranh tụng, tư vấn pháp luật ít nhất đạt 90% và hình thành được ít nhất 150 LS, 30 tổ chức hành nghề LS đạt tiêu chuẩn quốc tế". Đó là những nội dung chính của đề cương Chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 do các nhà hoạch định chính sách đề ra.

Theo LS Trần Hữu Huỳnh (Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), từ năm 2005 đến 2008, cả nước đã ban hành 17.196 văn bản qui phạm pháp luật. Hiện cả nước có khoảng gần 400.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký hoạt động. Trong đó, có khoảng gần 300.000 DN hoạt động thực tế. Với số lượng văn bản pháp luật "khổng lồ" và DN không ngừng phát triển như vậy, nhu cầu dịch vụ pháp lý là rất lớn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới đây của các cơ quan chức năng, trong năm 2001, chỉ có 6% số DN từng sử dụng dịch vụ LS, năm 2006 là 13% và rất nhiều tranh chấp "đáng giá" được giải quyết bởi LS nước ngoài. Qua khảo sát, 60% số DN đánh giá chất lượng dịch vụ là trung bình, 30% đánh giá trên trung bình, chỉ 8% cho là "ổn". "Không nên xây dựng chiến lược phát triển LS chỉ chú trọng về số lượng, hay phát triển ở vùng, miền nào Điều quan trọng là phải đảm bảo cho mọi người dân, DN khi cần sử dụng dịch vụ pháp lý (LS) là có. Và đào tạo, bồi dưỡng LS thế nào để có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan đặt ra". LS Trần Hữu Huỳnh nêu quan điểm và chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 nên đặt mục tiêu xây dựng môi trường cho LS phát triển, không nên đưa ra tiêu chí cụ thể như "LS quốc tế". Bởi vì tiêu chuẩn này khá mù mờ và duy ý chí. Ngoài ra, Nhà nước cần đa dạng các hình thức đào tạo, chứ một mình Học viện Tư pháp đảm nhận sẽ thiếu tính cạnh tranh.

Continue reading

CẢM NHẬN CỦA MỘT LUẬT SƯ: VIỆC NHỎ HAY VIỆC LỚN

LS. ĐOÀN THỊ LAN

Một dịp thật vô tình. Tôi được tham dự một phiên tòa phúc thẩm xét xử tranh chấp thừa kế, vụ việc đã được Tòa án Nhân dân (TAND) quận Gò Vấp xử sơ thẩm ngày 13/04/2009, nguyên đơn, bị đơn vụ kiện, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo và tòa dân sự thành phố xét xử phúc thẩm vào ngày 29/05/2009.

Dưới sự chủ tọa của thẩm phán phó chánh tòa dân sự thành phố, việc xét xử được diễn ra nhanh chóng gọn, chưa hết 2 tiếng đồng hồ kể cả thời gian nghị án, bản án phúc thẩm đã được tuyên theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND quận Gò Vấp vì đã vi phạm tố tụng dân sự và thiếu cơ sở pháp lý để tuyên án.
Rời phiên tòa trong cái nắng nóng gay gắt của tháng 5 không làm tôi mệt mỏi nhưng cảm nhận của tôi đối với các nguyên đơn, bị đơn theo đuổi vụ kiện tôi thấy mệt mỏi cho họ. Mất thật nhiều thời gian, công sức mà bị hủy án vì lý do chủ quan của cơ quan xét xử cũng thấy nhiều điều trăn trở. Sau một phiên xử đối với người làm công tác pháp luật, bản án đã tuyên, thế là xong, việc còn lại là của bộ phận khác. Trong vụ kiện này tôi cảm nhận được 2 điều:

1- Việc chia thừa kế theo pháp luật đã có qui định rõ ràng tại các văn bản pháp luật và Nghị quyết 02 ngày 10/08/2004 của hội đồng thẩm phán vấn đề này tôi  nghĩ những người ngồi xét xử chắc chắn phải hiểu rõ hơn ai hết, trường hợp nào được thụ lý chia tài sản thừa kế, trường hợp nào không thụ lý được vì đã hết thời hiệu khởi kiện.

Continue reading

HÙNG BIỆN – NGUỴ BIỆN

LS. TRẦN CÔNG LY TAO

Trong đời sống xã hội, các chính khách trổ tài hùng biện khi vận động tranh cử vào các chức vụ trọng yếu như Nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng, Tổng thống… Sự hùng biện của “thầy cãi”  chẳng những chỉ thể hiện bằng ngôn ngữ đanh thép, xoáy vào lòng người mà còn bao hàm cả sự diễn cảm qua ánh mắt, nụ cười, khi cần pha chút hài hước. Luật sư nhập vai một diễn giả giàu bản lĩnh và nghị lực, xem cử toạ như “con cháu trong nhà”. Có tự tin luật sư mới mạnh dạn khi “diễn thuyết” một cách thao thao bất tuyệt trước chốn pháp đình. Luật sư hùng hồn nhấn mạnh điểm mấu chốt liên quan tới nhân vật then chốt mà luật sư bảo vệ trong vụ án. Thỉnh thoảng luật sư đưa mắt về phía họ nhằm bày tỏ sự quan tâm của luật sư đối với thân chủ. Luật sư cố gắng tránh tật nói lắp, nói ngọng. Chúng ta nên kiên trì sửa chữa khuyết tật ấy, nếu không giọng nói của luật sư ấp a, ấp úng, lập cà, lập cập chắc hẳn sẽ là vở hài kịch nơi công đường.

Nghề luật sư là một trong số nghề nghiệp mang đậm tính chất hùng biện. Có lẽ vì thế mà ở nước ta, ngay từ những ngày đầu mới hình thành vào cuối thế kỷ 19 giới “thầy cãi” được mệnh danh là trạng sư.

Tiếng nói của luật sư ở chốn pháp đình thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khán thính giả; trong đó có Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), luật sư đồng nghiệp, phóng viên báo chí, bị cáo, bị hại, những đương sự khác… tham dự phiên toà. Nội dung luận cứ của luật sư dù có súc tích, sắc sảo đến đâu mà diễn đạt thiếu mạch lạc, hùng hồn, chẳng những không lôi cuốn mà còn làm cho cử toạ chê bai.

Cách thức diễn đạt luận cứ của luật sư (tương tự biện minh trạng đối với vụ án hình sự, lý đoán đối với vụ án phi hình sự mà luật sư nước ta thể hiện tại toà án trước năm 1975) được xem là thước đo năng lực lý luận của luật sư, nhằm thuyết phục HĐXX tin rằng bị cáo, đương sự mà luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi vô tội  hoặc ít ra sai phạm chưa đến mức độ như đại diện viện kiểm sát quy buộc. Đây cũng là thời điểm thích hợp để luật sư trình bày quan điểm pháp lý nhằm thuyết phục HĐXX cân nhắc, đánh giá vụ án một cách khách quan, toàn diện để có một phán quyết phù hợp thấu tình, đạt lý.  Continue reading

ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG

ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM – Bộ Luật Tố tụng Hình sự (năm 2003) có hiệu lực hơn 4 năm qua thực tế là đã bước đầu thể chế hóa các quan điểm về cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã nêu. Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng Hình sự chủ yếu là “bảo đảm tranh tụng dân chủ và phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp) cũng đã nhấn mạnh “Cần chọn tòa án là khâu đột phá trong cải cách tư pháp… tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước, của nền công lý nước ta, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN…”.

Để có thể nhận xét, đánh giá hoạt động của luật sư trong 2 năm qua, kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực 01/01/2007 đến nay, chúng tôi xin nêu số liệu thống kê luật sư tham gia tranh tụng trong 2 năm 2007- 2008 (tính từ 01/10/2006 đến 30/09/2008) như sau:

Năm

Hồ sơ tòa án thụ lý

Hồ sơ tòa án đã giải quyết

Luật sư tham gia theo HĐ với khách hàng

Luật sư tham gia theo CQĐT-VKS-TA yêu cầu

2007 2.132 vụ 2.117 vụ 312 lượt (15%) 677 lượt (32%)
2008 1.989 vụ 1.973 vụ 346 lượt (17,5%) 718 lượt (36%)

Số lượt luật sư tham gia (theo cả hai hình thức HĐ với khách hàng và do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu) nói trên là khá cao theo tỷ lệ chung của toàn ngành. Có thể lý giải điều này bởi lẽ Tòa Hình sự- TAND TP.HCM giải quyết hồ sơ sơ thẩm, chủ yếu là án có khung hình phạt lên đến chung thân, tử hình. Do vậy, nếu bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS) và tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

Continue reading