CHẾ ĐỊNH THU HỒI TÀI SẢN TRONG CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA VIỆT NAM

THS. NGUYỄN QUỐC VĂN – Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra Chính phủ

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế.

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế. Công ước đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/10/2003 trong phiên họp lần thứ 58 tại Niu -oóc. Việt Nam đã tham gia đầy đủ 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước trong thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003. Ngày 10/12/2003, tại Hội nghị cấp cao để ký Công ước được tổ chức tại Mê -hi-cô, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra nhà nước đã cùng đại diện của 95 quốc gia khác tham gia ký Công ước. Theo quy định của Luật Quốc tế, việc mỗi quốc gia ký Công ước chủ yếu là biểu đạt thiện chí chính trị mà chưa ràng buộc về mặt pháp lý với Công ước. Để trở thành thành viên chính thức của Công ước, các quốc gia phải thực hiện việc phê chuẩn hay gia nhập Công ước.

Trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị đề xuất cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước được tiến hành từ năm 2004 đến nay, thì vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng được quy định tại Công ước đã thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của các bộ, ngành, các chuyên gia nghiên cứu và các cán bộ công tác thực tiễn, nhất là khi đánh giá các yêu cầu của Công ước đối với các quốc gia thành viên về vấn đề này và bàn về khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của Công ước về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng, đồng thời rà soát, đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của nước ngoài là sự cần thiết khách quan đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong quá trình chuẩn bị đề xuất phê chuẩn thực thi Công ước. Những vấn đề cụ thể đã và đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu là: (1) nhận thức đúng và thống nhất về chế định thu hồi tài sản tham nhũng và các quy định có liên quan; (2) đánh giá khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai; (3) khẳng định việc Việt Nam có bảo lưu hay không bảo lưu chế định này khi phê chuẩn Công ước; (4) nhận định những khó khăn của Việt Nam khi thực hiện chế định này sau khi phê chuẩn Công ước; (5) đề xuất nội luật hoá để thực thi các quy định này phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi xung quanh các vấn đề trên.

Continue reading

PHẠM VI TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DÂN SỰ

HOÀNG THU HÀ – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một lớn mạnh giữa các quốc gia, đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau. Sự hợp tác này làm phát sinh ngày một nhiều các vấn đề dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Sự hợp tác giữa các quốc gia trên thực tế có thể tiến hành theo nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế với mục đích chính là đảm bảo sự thừa nhận về quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân và pháp nhân của quốc gia này trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia khác.

Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác định thẩm quyền của các Toà án, áp dụng pháp luật, đảm bảo các quyền tố tụng của cá nhân và pháp nhân nước ngoài, thực hiện các uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự.

Trong tất cả các vấn đề được nêu ở trên, việc thực hiện các uỷ thác tư pháp, công  nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự được gọi chung là hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế. Do đó, hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế được hiểu là hoạt động mang tính trợ giúp về mặt pháp lý giữa các quốc gia, nếu không có sự trợ giúp này các cơ quan tư pháp của các quốc gia rất khó có thể thực hiện việc điều chỉnh cũng như thi hành pháp luật đối với cá nhân và pháp nhân của quốc gia mình.

Do vậy có thể khẳng định hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế là việc các quốc gia (chủ yếu thông qua các cơ quan tư pháp như Toà án, Kiểm sát, Công an) giúp đỡ nhau về các vấn đề tư pháp (bao gồm cả dân sự và hình sự) trên cơ sở điều ước quốc tế liên quan hoặc trên nguyên tắc có đi có lại, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, công dân và pháp nhân mỗi nước trên lãnh thổ của nhau. Để các hoạt động tương trợ tư pháp đạt hiệu quả và giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, hoạt động tương trợ tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Việc tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp của Việt Nam và cơ quan tư pháp của các nước được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cũng có lợi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, phù hợp với pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài chưa ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy định về tương trợ tư pháp thì việc tương trợ tư pháp được Toà án Việt Nam chấp nhận trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không được trái pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế [1].

Continue reading

HÀNG HẢI VIỆT NAM ĐỨNG NGOÀI NHIỀU CÔNG ƯỚC

VŨ ĐẶNG DƯƠNG

Sự chậm trễ gia nhập các công ước sẽ đặt những dấu hỏi của cộng đồng quốc tế lên không chỉ trình độ phát triển của ngành hàng hải Việt Nam, một đất nước có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành, mà còn khiến dư luận thế giới tự hỏi Việt Nam quan tâm như thế nào và có khả năng xử lý đến đâu trong các vấn đề môi trường và sinh thái biển.

Từ một công ước

Sơn chống hà là loại sơn được sơn định kỳ lên vỏ ngoài tàu, để đảm bảo cho vỏ tàu không bị các sinh vật biển như các loại tảo và các loài động vật thân mềm, bám vào vỏ tàu, làm cho tàu bị giảm tốc độ và tăng mức hao tổn nhiên liệu. Ở buổi bình minh của ngành hàng hải, người ta dùng nước vôi và arsenic, một loại hóa chất rất độc cho mục đích này.

Về sau, nhờ thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, ngành hàng hải và ngành công nghiệp hóa chất đã phát triển mạnh mẽ, nhờ đó mà các nhà khoa học đã tìm ra các hợp chất hữu cơ khác hiệu quả hơn để bổ sung cho các loại hóa chất truyền thống. Trong thành phần các loại sơn chống hà mới có một số kim loại như kẽm, đồng, chì, thủy ngân và các hóa chất như tributyl tin (TBT), tributyl tin chloride (TBTCl).

Điều đáng nói là đây vẫn là các hóa chất rất độc ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái biển, TBT đã được chứng minh là làm biến dạng hàu, trai sò và thay đổi giới tính các loài ốc biển.

Một số nhà nghiên cứu chứng minh rằng có sự liên hệ giữa việc cá heo chết lần lượt ở vùng bờ biển Nhật Bản và Mỹ với hàm lượng TBT ở các khu vực này cao hơn hẳn ở các khu vực tương tự. Các nước EU đã cấm sử dụng các loại hóa chất này từ 20 năm trước.

Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thông qua Công ước quốc tế về kiểm soát các hệ thống chống hà độc hại trên tàu biển (Antifouling System Convention – AFS) vào tháng 10-2001.

Công ước này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 17-9-2008. Theo nội dung Công ước, các nước thành viên IMO phải cấm hoặc hạn chế việc dùng hệ thống chống hà có hại trên các tàu mang cờ cũng như các tàu không mang cờ nước mình nhưng hoạt động trên vùng biển thuộc quyền kiểm soát của mình và tất cả những tàu vào cảng, cơ sở sửa chữa hoặc các cảng ngoài khơi của mình. Tính đến nay, đã có 36 quốc gia thành viên IMO gia nhập và phê chuẩn công ước này.

Continue reading

Vì sao người Việt Nam không thân thiện VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC

NGUYỄN HẢI HOÀNH (Lược dịch và giới thiệu theo Cư dân mạng Trung Quốc phân tích)

Hôm nay (17 tháng 2) là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh.

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Căm-pu-chia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam 30 năm trước. Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khơ-me Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Căm-pu-chia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô chưa từng có tại Pnông-pênh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách thống trị của Khơ-me Đỏ. Tại cuộc mit tinh, Chủ tịch Thượng viện Căm-pu-chia Chia-xin cảm ơn Việt Nam “đã cứu Căm-pu-chia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khơ-me Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn (?) những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp hôm nay ngày đặc biệt này để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta cảnh giác và suy nghĩ.

Continue reading

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG THÂN THIỆN VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC

NGUYỄN HẢI HOÀNH ( Lược dịch và giới thiệu theo Cư dân mạng Trung Quốc phân tích)

Hôm nay (17 tháng 2) là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh. 

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Căm-pu-chia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam 30 năm trước. Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khơ-me Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Căm-pu-chia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô chưa từng có tại Pnông-pênh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách thống trị của Khơ-me Đỏ. Tại cuộc mit tinh, Chủ tịch Thượng viện Căm-pu-chia Chia-xin cảm ơn Việt Nam “đã cứu Căm-pu-chia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khơ-me Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn (?) những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp hôm nay ngày đặc biệt này để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta cảnh giác và suy nghĩ.

Continue reading

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Đại hội đồng Liên hợp quốc,

Căn cứ Nghị quyết 56/168 ra ngày 19/12/2001 của Liên hợp quốc quyết định thành lập Uỷ ban đặc biệt để soạn thảo Công ước quốc tế toàn diện và lồng ghép nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, để ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên và các quan sát viên của Liên hợp quốc, dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện từ các hoạt động trong các lĩnh vực phát triển xã hội, nhân quyền và chống phân biệt đối xử đã được thực hiện và có tính đến các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban Phát triển xã hội,

Căn cứ các Nghị quyết có liên quan trước đây của Liên hợp quốc và Nghị quyết gần đây nhất là Nghị quyết 60/232 ra ngày 23/12/2005 và các Nghị quyết có liên quan của Ủy ban Phát triển xã hội và Ủy ban Nhân quyền,   

Hoan nghênh những đóng góp quý báu của các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu nhân quyền của các quốc gia cho các hoạt động của Uỷ ban đặc biệt,

1. Bày tỏ sự đánh giá cao của Liên hợp quốc đối với những nỗ lực của Uỷ ban đặc biệt để hoàn thiện Dự thảo Công ước quốc tế về người khuyết tật và Dự thảo Nghị định thư không bắt buộc của Công ước;  

2. Thông qua Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật và Nghị định thư không bắt buộc của Công ước đính kèm với Nghị quyết này sẽ được để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc tham gia ký kết tại trụ sở chính của Liên hợp quốc tại New York từ ngày 30/03/2007;    

3. Kêu gọi các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc xem xét việc ký kết và phê chuẩn Công ước và Nghị định thư không bắt buộc như là một trong những vấn đề ưu tiên, và bày tỏ hi vọng Công ước và Nghị định thư sẽ sớm có hiệu lực vào thời gian sớm nhất;  

Continue reading

THỦ TỤC GIA NHẬP (UNIDROIT) VÀ QUYỀN LỢI CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC NÀY

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Tiếp theo 02 bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) cũng như chính sách và thành tựu lập pháp của Viện, chúng tôi xin giới thiệu bài thứ 3, trình bày thủ tục gia nhập UNIDROIT và phân tích quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên tổ chức này. Hy vọng những ý kiến của tác giả sẽ phần nào được các cơ quan có liên quan của Việt Nam cân nhắc, tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp, trong đó có Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư.

1. Thủ tục gia nhập UNIDROIT:

Thủ tục gia nhập UNIDROIT được quy định tại Điều 20 của Điều lệ của tổ chức này, cụ thể là:

– Quốc gia muốn gia nhập UNIDROIT phải gửi một thông báo bằng văn bản tới Chính phủ Italia về việc gia nhập của mình;

– Việc gia nhập có hiệu lực 06 năm và đương nhiên được kéo dài thêm một thời hạn là 6 năm nữa, nếu không có tuyên bố bãi ước bằng văn bản ít nhất một năm trước ngày gia hạn thời hạn mới.

– Thông báo gia nhập và thông báo bãi ước phải được Chính phủ Italia thông báo tới Chính phủ các nước thành viên.

2. Quyền lợi của nước thành viên UNIDROIT:

Được tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình làm việc của UNIDROIT;

– Được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế.

– Các nước thành viên được chỉ định một thư viện trong nước và thư viện này được nhận mọi ấn phẩm của UNDROIT.

3. Quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên UNIDROIT

Việc gia nhập UNIDROIT sẽ mang lại thuận lợi cho nước ta ở 3 phương diện sau:

– Với tư cách là một nước thành viên, chúng ta được quyền tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình, Kế hoạch làm việc lâu dài và hàng năm của UNIDROIT. Cụ thể, chúng ta có thể chủ động đưa những nhu cầu nghiên cứu, nhu cầu về thống nhất và hài hoà hoá pháp luật tư vào Chương trình làm việc của UNIDROIT. Bên cạnh đó, với quyền được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế, chúng ta có thể chủ động thể hiện các quan điểm của Việt Nam vào Dự thảo các Công ước quốc tế do UNIDROIT chuẩn bị.

Continue reading

NỘI LUẬT HÓA CÁC CAM KẾT GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

THS. HÀ THỊ THANH BÌNH – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được gần hai năm (1). Trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này và trong thời gian kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước theo hướng làm cho pháp luật quốc nội của mình tương thích với các quy định của WTO cũng như để thực hiện những cam kết khi gia nhập tổ chức này.

Tuy nhiên đến nay, quá trình đó vẫn chưa hoàn tất. Việc tiếp tục chuyển hóa các cam kết với WTO thành các quy định pháp luật nội địa là một yêu cầu khách quan không chỉ nhằm mục đích thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà còn giúp khai thác và hiện thực hóa các quyền lợi thành viên của tổ chức này. Bài viết trao đổi một số quan điểm liên quan tới yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

1. Cơ sở pháp lý và thực tiễn đặt ra yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng

a) Cơ sở pháp lý

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/QHXI phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam (Nghị quyết 71/2006/QHXI). Nghị quyết này đã quy định nguyên tắc áp dụng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, theo đó (i) nếu các cam kết trong các văn kiện gia nhập WTO đã đủ rõ, đủ chi tiết thì áp dụng trực tiếp các cam kết đó (bao gồm các cam kết được liệt kê trong phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2006/QHXI và các cam kết khác trên cơ sở rà soát của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2)); (ii) thực hiện việc rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam để đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO. Ngoài ra, Nghị quyết 71/2006/QHXI khẳng định nguyên tắc giải quyết xung đột giữa quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật nội địa như sau: trong trường hợp pháp luật Việt Nam không phù hợp với Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm thì sẽ áp dụng các quy định của Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm. Như vậy, Nghị quyết 71/2006/QHXI đã tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế số 41/2005/QHXI ngày 14/6/2005 (Luật Điều ước quốc tế 2005). Theo đó, dù là các quy định của Điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết thì vẫn cần một văn bản thể hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp các quy định đó sau khi thực hiện việc rà soát; các trường hợp còn lại (đối với các cam kết chưa đủ rõ, chưa đủ chi tiết hoặc pháp luật nội địa chưa phù hợp) thì cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới các văn bản pháp luật trong nước để thực hiện các Điều ước quốc tế (3). Như vậy, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói chung và các cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng, phải thực hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này, hay nói cách khác là phải chuyển hóa các cam kết quốc tế thành pháp luật nội địa.

Continue reading

KÝ KẾT, GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ – KINH NGHIỆM CỦA CANADA

T.T.T

Hiến pháp Canada phân chia quyền lập pháp cho từng cơ quan từ cấp liên bang đến cấp tỉnh, thành phố, theo đó Quốc hội (cơ quan lập pháp liên bang) chịu trách nhiệm lập pháp về các vấn đề liên quan đến thương mại, cơ quan lập pháp cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập pháp về những vấn đề liên quan đến phạm vi quản lý của các tỉnh và các cơ quan chính quyền địa phương khác cũng xây dựng pháp luật để điều chỉnh các vấn đề của địa phương do mình quản lý.

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Theo quy định của Hiến pháp Canada, Hoàng gia có đặc quyền về ký kết các điều ước quốc tế, đặc quyền này được Chính phủ Hoàng gia Anh trao cho cơ quan hành pháp Canada, và do vậy thẩm quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế thuộc phạm vi quyền hạn của cơ quan hành pháp liên bang do Thống đốc Canada thực hiện, dưới sự tư vấn và chấp thuận của Hội đồng Cơ mật của Nữ hoàng Canada (Nội các), quyền về ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của cơ quan hành pháp liên bang bao gồm cả các vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp của cấp tỉnh vì theo quy định của Hiến pháp thì chính quyền cấp tỉnh không có quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế. Trong khi đó, chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) chỉ được toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước khác (cả ở cấp trung ương và địa phương). Ngoài ra, cơ quan chính phủ liên bang (như các Bộ) cũng có toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước. Mục đích của việc ký kết các thoả thuận không ràng buộc này là nhằm nâng cao khả năng hợp tác hành chính (công nhận các quy định pháp luật của nhau, ví dụ như về cấp giấy phép lái xe) cũng như chia sẻ các nguyện vọng và quan điểm chính trị .v.v… Chính quyền liên bang, địa phương và các cơ quan Chính phủ cũng có thể ký kết các hợp đồng thương mại với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ví dụ như các hợp đồng thuê tài sản).

Quy trình ký kết điều ước quốc tế ở Canada

Bước1: Thông qua tham vấn, xác định và khẳng định các ưu tiên về chính sách đối với điều ước quốc tế. Bước này tiến hành thực hiện việc tham vấn với các Bộ khác của Chính phủ liên bang, với các tỉnh và vùng lãnh thổ, các nhóm liên quan và các tổ chức phi Chính phủ (như các tổ chức về môi trường) và các ngành công nghiệp liên quan.

Thảo luận, làm rõ nội dung dự thảo điều ước quốc tế  với quốc gia/các quốc gia khác

Bước 2: Xin phép cơ quan hành pháp liên bang (Nội các) về việc đàm phán điều ước quốc tế. Việc xin phép có thể được thực hiện thông qua hình thức văn bản “Báo cáo Nội các” hoặc thực hiện thông qua xác định và khẳng định việc Nội các uỷ quyền đàm phán.

Continue reading

VIỆN QUỐC TẾ VỀ NHẤT THỂ HÓA LUẬT TƯ (UNIDROIT): CHÍNH SÁCH VÀ THÀNH TỰU LẬP PHÁP

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tiếp theo bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT), chúng tôi xin giới thiệu bài thứ hai về chính sách và thành tựu lập pháp của Tổ chức này. UNIDROIT, trong lịch sử 61 năm tồn tại và phát triển của mình , với chức năng là một thiết chế nghiên cứu và thực hiện các hoạt động hiện đại hoá, hài hoà hoá pháp luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia, đã soạn thảo và trình Hội nghị Ngoại giao thông qua khá nhiều Công ước quốc tế và Luật mẫu trong lĩnh vực thương mại.

Thành tựu lập pháp của UNIDROIT đã được không chỉ các quốc gia thành viên, mà còn rất nhiều nước khác chưa gia nhập Tổ chức này (trong đó có Việt Nam) quan tâm và áp dụng.

Tính chất của các văn bản pháp luật do UNIDROIT soạn thảo

Mục đích chính của UNIDROIT là chuẩn bị các quy định hiện đại, thống nhất, hài hoà, của luật tư theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, khái niệm “luật tư” ở đây cũng chỉ mang tính tương đối, bởi thực tế công tác lập pháp của UNIDROIT và các tổ chức quốc tế khác, cũng như hoạt động thương mại quốc tế  trên thực tiễn cho thấy cần thiết phải kết hợp giữa công pháp và tư pháp, đặc biệt là trong các lĩnh vực pháp luật mà ranh giới giữa tư pháp và công pháp khó phân biệt, hoặc khi luật tố tụng và luật thực định hoà quyện vào nhau. Các quy tắc thống nhất do UNIDROIT soạn thảo liên quan đến các quy định của luật thực định; các luật này chỉ chứa đựng quy định về xung đột pháp luật một cách ngẫu nhiên. 

Với địa vị độc lập trong số các tổ chức liên chính phủ, UNIDROIT đã lựa chọn cách tiếp cận với lĩnh vực pháp luật đặc thù (luật tư) và phương pháp làm việc riêng. Chính vì vậy, tổ chức này đã trở thành một diễn đàn đặc biệt phù hợp cho việc giải quyết những vấn đề thiên về tính kỹ thuật và ít mang tính chính trị. 

Các yếu tố để xác định lĩnh vực pháp luật cần hài hoà hoá

Công nghệ mới, thực tiễn thương mại v.v… đòi hỏi phải có các giải pháp mới, và khi các giao dịch ngày càng mang tính xuyên quốc gia thì đó phải là các giải pháp mang tính hài hoà và được chấp nhận rộng rãi. Nói chung, công việc hài hoà hoá hoặc nhất thể hoá sẽ phụ thuộc nhiều vào việc các quốc gia có muốn chấp nhận thay đổi pháp luật trong nước của mình cho phù hợp với giải pháp quốc tế mới hay không. Lập luận về pháp lý và các lập luận khác ủng hộ hài hoà hoá đối với một vấn đề cần phải được cân nhắc thận trọng với sự phụ thuộc nói trên. Cần phải có rất nhiều cân nhắc trong quá trình xác định lĩnh vực nào cần phải được điều chỉnh bởi các quy định đã được hài hoà hoá, và liệu có phải việc hài hoà hoá chỉ hạn chế đối với những trường hợp hoặc quan hệ xuyên quốc gia, hay được mở rộng để bao gồm cả các trường hợp hoặc quan hệ thuần tuý quốc tế.

Continue reading

LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

THS. TRẦN MINH NGỌC – Đại học Luật Hà Nội

Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?

1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước hội đồng trọng tài

Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2]. Có ba hướng giải quyết chính sau đây:

Thứ nhất, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng sự chọn luật của các bên, thoả thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi tiến hành trọng tài (place of arbitration). Nguyên tắc này được thể hiện trong nhiều phán quyết của toà án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA. Trong vụ Baques Centroamericanos v. Petroleo SA (1988), Hội đồng đã tuyên rằng: Luật Mỹ sẽ được áp dụng để xem xét hiệu lực của thoả thuận trọng tài vì trọng tài đã được tiến hành tại New York.

Continue reading

VIỆN QUỐC TẾ VỀ NHẤT THỂ HÓA PHÁP LUẬT TƯ (UNIDROIT)

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Mở rộng quan hệ đối ngoại và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có việc gia nhập các tổ chức quốc tế (bao gồm cả tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật) là một trong các chính sách và đường lối đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Ba (03) bài viết dưới đây sẽ giới thiệu tóm tắt chức năng, nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) – một trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ có chức năng nghiên cứu và thực hiện các hoạt động hiện đại hoá, hài hoà hoá pháp luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia – mà Việt Nam nên nghiên cứu gia nhập.

Tác giả các bài viết hy vọng thông tin về tổ chức này (chức năng nhiệm vụ;  thành tựu lập pháp, quy trình lập pháp; một số chính sách ưu tiên của tổ chức này dành cho các nước đang phát triển và đặc biệt là quyền lợi, nghĩa vụ của một quốc gia khi trở thành viên của UNIDROI) sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (trong đó có Bộ Tư pháp) tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các thiết chế đa phương thuộc lĩnh vực pháp luật và tư pháp – một trong các nhiệm vụ quan trọng đã được đề ra trong các Chiến lược về cải cách pháp luật và tư pháp của Việt Nam.

Chức năng của UNIDROIT

Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư  (Iinternational Institute for the Unification of Private Law /Iinstitut International Pour l’unification du Droit Prive (UNIDROIT/ Viện) là tổ chức liên Chính phủ có trụ sở tại Rome – Ý. Mục đích của Viện là nghiên cứu nhu cầu và phương pháp hiện đại hoá, hài hoà hoá và điều hoà luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia.

Viện được thành lập vào năm 1926 với tư cách là một cơ quan giúp việc của Hội quốc liên. Sau khi Hội quốc liên tan rã, Viện đã được thành lập lại vào năm 1940 theo một thoả thuận đa phương – Quy chế của UNIDROIT.

Thành viên

Chỉ quốc gia nào gia nhập Quy chế của UNIDROIT thì mới được làm thành viên của UNIDROIT. Hiện nay UNIDROIT có 63 quốc gia thành viên từ 5 châu lục, đại diện cho nhiều hệ thống pháp luật, kinh tế và chính trị khác nhau, cũng như các truyền thống văn hoá khác nhau. Viện được cấp tài chính bằng đóng góp hàng năm từ các quốc gia thành viên với mức do Đại hội đồng ấn định và kinh phí cố định hàng năm do Chính phủ Ý đóng góp. Viện cũng có thể nhận được ngân sách bổ sung dành cho các mục đích do nhà tài trợ xác định. Tiền đóng góp này được đưa vào một quỹ riêng (quỹ tín thác).

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

(Tài liệu số A/40/17, phụ lục I của Liên Hợp Quốc)

(Được ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985)

Chương I: Những quy định chung

Điều 1: Phạm vi áp dụng [1]

1. Luật này áp dụng cho trọng tài thương mại[2] quốc tế, theo bất kỳ thoả thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia.

2. Những qui định của Luật này, trừ các điều 8, 9, 35 và 36 chỉ áp dụng nếu nơi tiến hành trọng tài là tại lãnh thổ của nước này.

3. Trọng tài là quốc tế nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc

(b) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia:

(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

4. Cũng là trọng tài quốc tế giống như qui định của khoản 3 điều này:

(a) Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.

(b) Nếu một bên không có trụ sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

5. Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo những qui định khác với qui định của luật này.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Điều I

  1. Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.
  2. Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.
  3. Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại, tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.

Điều II

1. Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài.

  1. Thuật ngữ "thỏa thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.
  2. Tòa án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được.

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN BAN HÀNH 11 THÁNG 01 NĂM 1994, CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 13/01/1994

(Bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003; bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

Continue reading

CĂNG THẲNG BIỂN ĐÔNG VÀ LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH

Căng thẳng biển Đông

Trong những ngày gần đây việc tranh chấp tại vùng biển Ðông và những quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại trở nên một đề tài nóng. Tàu không vũ trang Impeccable của Mỹ chạm trán với hải quân Trung Quốc và nay Mỹ phải điều động hạm đội đến vùng biển; Tổng thống Philippinnes vừa ban hành luật lãnh hải tuyên bố chủ quyền trên nhóm đảo Scarborough và Trung Quốc tổ chức các chuyến du lịch trên đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm toàn bộ quần đảo từ năm 1974 từ Việt Nam.

Hiện nay, trong ngôn ngữ gặp trên một số báo chí văn thư hay có thói quen gọi khu vực biển có tranh chấp ở Đông Nam Á là “biển Nam Trung Hoa” (South China Sea hay La Mer de Chine du Sud), có lẽ vì Trung Quốc được lấy làm vị trí chuẩn, chứ không mang ý nghĩa công pháp quốc tế là biển này thuộc Trung Quốc.

Vì vậy, Việt Nam đã gọi biển này là biển Đông cũng có ý nghĩa lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn và biển này là cửa ngõ chính của Việt Nam nhìn ra biển lớn.
Biển Đông không những là nơi có nhiều nguồn tài nguyên về mỏ năng lượng (như dầu mỏ) mà còn cung cấp nguồn hải sản cho các nước quanh vùng.
Hơn thế nữa, biển Ðông còn là hành lang của các hải thuyền quốc tế qua lại tấp nập từ vùng biển Ấn Độ Dương lên Ðông Bắc châu Á.

Cho đến gần đây, theo luật và theo thông lệ quốc tế, các nước quanh vùng biển này được coi như có chủ quyền lãnh hải như vẽ trong bản đồ (lằn xanh) và khu hải phận quốc tế tàu bè vẫn được tự do qua lại. Tuy nhiên gần đây Trung Quốc công bố bản đồ chủ quyền là vùng lãnh hải hầu như độc quyền chiếm hết đảo và biển của vùng này (xem bản đồ, lằn đỏ) .

image

Lập trường các bên

Continue reading

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN BÁ BÌNH – Đại học Luật Hà Nội

Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) – một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài – đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn chưa đủ. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam – dù đã có một loạt quy định điều chỉnh – cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình.

Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước Lahaye 1993), đang là một yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.

1. Tính cấp bách của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993

Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam

Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy, việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phổ biến hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp (1). Tính trung bình cho đến nay, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (2) và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một đất nước đông dân – với trên 85 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)(3), trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa… chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm. Vì vậy, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài, mà hơn hết, chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.

Continue reading

LẬP TRƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ LUẬT QUỐC TẾ

ĐÀO VĂN THỤY (1)
Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km. Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2 hay 3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km. 
Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng vĩ tuyến 12° bắc và kinh tuyến 111° đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippin khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.
Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.

Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.

Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp – chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.

Continue reading

KẾT QUẢ KÝ KẾT, GIA NHẬP CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tham gia các Công ước quốc tế, trong đó có các công ước về nhân quyền là một chủ trương thường xuyên và nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Ngoài việc gia nhập bốn Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ (1949) về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh năm 1957, Việt Nam chỉ đủ điều kiện tham gia các Công ước quốc tế về nhân quyền sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977.

Kể từ đó, cùng với các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam là chỗ dựa vững chắc cho phong trào độc lập dân tộc và trong cuộc đấu tranh vì các nhân quyền tại Liên hợp quốc và các tổ chức, diễn đàn quốc tế khác. Để phát huy tốt vai trò, tiếng nói, nâng cao uy tín quốc tế và hội nhập vào đời sống chính trị quốc tế, Việt Nam dần dần đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế quan trọng về nhân quyền.

1. Kết quả ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế về nhân quyền.

Công ước quốc tế về nhân quyền quan trọng đầu tiên Việt Nam ký kết là Công ước quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, viết tắt tiếng Anh là CEDAW, được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 18/2/1979 và có hiệu lực ngày 3/9/1980. Việt Nam ký Công ước này ngày 27/11/1981 và phê chuẩn tháng 2/1982.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về Xoá bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc, viết tắt tiếng Anh là CERD. Công ước này được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 21/12/1965 và có hiệu lực từ ngày 4/1/1969.

Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, văn hoá và xã hội, viết tắt tiếng Anh là CESCR, và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị, viết tắt tiếng Anh là CCPR, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Việt Nam gia nhập 2 Công ước này ngày 24/9/1982.

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu á và nước thứ 2 trên thế giới trở thành thành viênCông ước về Quyền trẻ em sau khi ký Công ước này tháng 1/1990 và phê chuẩn ngày 20/2/1991. Việt Nam cũng đã phê chuẩn 2 Nghị định thư bổ sung của Công ước Quyền Trẻ em (Nghị định thư không bắt buộc về trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị định thư không bắt buộc về chống sử dụng trẻ em trong mãi dâm, tranh ảnh khiêu dâm).

Mới đây nhất, ngày 22-10-2007, Đại sứ Lê Lương Minh, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã ký Công ước về Quyền của người tàn tật và hiện chúng ta đang quá trình nghiên cứu trình Chủ tịch nước phê chuẩn Công ước này. Việt Nam cũng đã ký và đang trong quá trình nghiên cứu phê chuẩn Quy chế Toà án hình sự quốc tế ICC.

Continue reading