TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG

THS. HOÀNG VIỆT – Đại học Luật TPHCM

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Liệu các bên liên quan có thể đi tới giải pháp khai thác chung cho vùng tranh chấp trên Biển Đông?

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

Continue reading

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG và giải pháp khai thác chung

THS. HOÀNG VIỆT  (Trường Đại học Luật TPHCM)

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Liệu các bên liên quan có thể đi tới giải pháp khai thác chung cho vùng tranh chấp trên Biển Đông?

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

Continue reading

CÁC TRANH CHẤP LÃNH HẢI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC BIỂN: MỘT GÓC NHÌN LỊCH SỬ

GS. BRUCE A. ELLEMAN – Trường Cao đẳng Hải quân Mỹ (US Naval War College)

*Đây là bản dịch Chương 3: “Maritime territorial disputes and their impact on maritime strategy: A historical perspective” trong cuốn Security and International Politics in the South China Sea (An ninh và chính trị quốc tế ở biển Đông) do Sam Bateman và Ralf Emmers chủ biên, NXB Routledge, New York, 2009, tr. 42-57.  Tạp chí Thời Đại Mới giữ bản quyền bản dịch này.

Trung Quốc đã nhiều lần đơn phương tuyên bố chủ quyền tại các đảo trên biển Đông từ hơn 100 năm nay. Đô đốc Tát Trấn Băng (Sa Zhenbing), tổng tư lệnh Hải quân Thanh triều đã từng dẫn đầu một tầu viễn dương đến những vùng biển đang trong vòng tranh chấp này vào năm 1907 để khẳng định các tuyên bố về chủ quyền của Thanh triều. Vào thập niên 1930, Nhật Bản đã cho quân đồn trú tại nhiều đảo ở đó cho tới khi những hòn đảo này lọt vào vòng kiểm soát của Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau Thế Chiến Thứ Hai. Bất chấp các cuộc phản đối của Trung Quốc, Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm đóng một số đảo mang tính chiến lược, bao gồm đảo Đông Sa (Pratas) và Ba Đình (Itu Aba – Taiping Island).

Bù lại việc Trung Quốc đã muộn màng trong việc hiện đại hóa quân đội và ngay cả chưa có hàng không mẫu hạm cho đến tận bây giờ, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (People’s Liberation Army  ̶  PLA) vẫn phải bám quân ở nhiều đảo và vỉa san hô đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông. Để tăng cường khả năng chỉ huy quân báo, Trung Quốc đang từng bước xây dựng các trạm vô tuyến trên các đồn trú quân rải rác này với các thiết bị điện tử đa dạng, từ các máy chuyển tiếp tín hiệu truyền thông hiện đại cho đến các radar sóng ngắn. Điều này không những cho thấy sự gia tăng về tiềm năng quân sự của Trung Quốc trong khu vực, mà rõ ràng còn là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị ráo riết cho việc bành trướng thêm nữa đối với các vùng biển còn đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông.

Bằng việc phân tích các mâu thuẫn trong quá khứ ở biển Đông, bài viết này sẽ cho thấy tác động của việc tranh chấp chủ quyền lên việc tăng cường lực lượng hải quân Trung Quốc cũng như tác động lên một chiến lược hiếu chiến hơn về quyền lợi biển nhằm khoanh vùng và ngăn cản các nước khác xâm phạm các vùng lãnh hải mà Trung Quốc tuyên bố là thuộc về họ. Rõ ràng, việc xây dựng dần dần các căn cứ trên các đảo sẽ cho phép Bắc Kinh một ngày nào đó khẳng định nhiều hơn chủ quyền của họ ở biển Đông. Điều suy đoán này đã được xác định vào ngày 4 tháng 12, 2007 khi Trung Quốc đơn phương thông báo thành lập “một thành phố mới” thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý hành chánh quần đảo Hoàng Sa (Paracels), quần đảo Trung Sa (Maccles field Bank) và quần đảo Trường Sa (Spratlys) bất chấp rằng chủ quyền của những quần đảo này vẫn còn đang trong vòng tranh chấp.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

LÊ MINH NGHĨA – Nguyên Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc.  Trong đó lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia.  Cho đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp.  Nhưng ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một Quốc gia. Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này.

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dút để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng".

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hơp Quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gìa khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các Quốc gia".

"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp".

Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới – lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó.

Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 98 1 đã báo cáo rằng khi họ đến "hảì giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa ‘bíển Giao Chỉ" và biển Quỳnh – Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).

Continue reading

TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Nam Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading

TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC

DƯƠNG DANH HUY – PHẠM THU XUÂN – NGUYỄN THÁI LINH – LÊ VĨNH TRƯƠNG – LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra LHQ – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG và vai trò của Liên hợp quốc

DƯƠNG DANH HUY PHẠM THU XUÂN NGUYỄN THÁI LINH LÊ VĨNH TRƯƠNG & LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra Liên hợp quốc (LHQ) – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG CÁC VĂN KIỆN QUỐC TẾ * *

THS. NGUYỄN QUỲNH LIÊN – Bộ Tư pháp

Ngày càng có nhiều các điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành Luật Tự do thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực chống tham nhũng, trong đó hầu hết các điều ước quốc tế mới được ký kết đều đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành Luật nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của công chúng.

Ngày càng có nhiều các điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành Luật Tự do thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực chống tham nhũng, trong đó hầu hết các điều ước quốc tế mới được ký kết đều đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành Luật nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của công chúng. Đa số các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường cũng có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công chúng, nhấn mạnh đến việc khuyến khích các quốc gia ban hành pháp luật về tiếp cận thông tin môi trường cũng như Luật Tự do thông tin. Quyền tự do thông tin ngày càng được thừa nhận như là một quyền cơ bản của con người trong các điều ước quốc tế về nhân quyền cũng như trong các Hiệp định khu vực.

1. Khái quát về quyền tiếp cận thông tin trong các Công ước của Liên hiệp quốc

Trong những văn kiện pháp lý đầu tiên về quyền con người, quyền tiếp cận thông tin không được nêu riêng biệt mà bao hàm trong quyền tự do biểu đạt bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin. Năm 1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới (UDHR), theo đó, quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt được bảo đảm: “Mọi người có quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt; quyền này bao gồm tự do phát biểu ý kiến mà không bị can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào và bất kể biên giới” (Điều 19).

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), một Công ước có giá trị pháp lý ràng buộc, được Đại hội đồng LHQ thông qua vào năm 1966 (tại Điều 19 của Công ước) cũng đã đưa ra quy định về việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt của con người tương đồng với quy định tại Điều 19 của Tuyên ngôn:

Continue reading

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

LÊ VĨNH TRƯƠNG – Quỹ Nghiên cứu biển Đông

Là nước nhỏ và nghèo, Việt Nam cần tạo tiếng nói ở những diễn đàn phù hợp, dựa vào những điều luật quốc tế chính danh hiện có để giữ chủ quyền. Nhưng như vậy đã đủ chưa?

Luật quốc tế

Kể từ hiệp ước Westphalia (1648), Utrecht (1713) đến hiệp ước Paris 1814 chấm dứt chiến tranh Napoleon rồi Hòa ước Versailles (1919)[2], nhân loại đương đại đã chứng kiến sự ra đời của hai văn kiện lớn có tính chất hiến pháp cho thế giới đó là Hiến chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Công ước về Trao quyền độc lập cho các nước thuộc địa và nhân dân các nước thuộc địa (1960)[3].

Khi viết nên những văn kiện vừa nêu, các nước ký kết vừa bước ra khỏi những cuộc chiến đầy thương tích, mang trong lòng những ưu tư và cả niềm tin về một thế giới hòa bình và thịnh vượng. Các hiệp ước trên thể hiện khát vọng ngàn đời của con người là hướng thiện và mưu cầu hạnh phúc cho mình và mọi người. Khuynh hướng giải quyết quan hệ quốc tế trong các ký kết trên định hình quan điểm chủ đạo của trường phái tự do (liberalism).

Song song với cách tiếp cận nhân quần trên là quan điểm cho rằng từng quốc gia cụ thể phải được đặt ở vị trí trung tâm hành động (statism). Chính nhà nước của quốc gia đó, chứ không ai khác, phải đảm bảo mục đích sống còn cho đất nước (survival) bằng khả năng tự chuyển xoay tình thế (self-help) của mình. Cách nhìn này tạo nên quan điểm chủ đạo của trường phái thực tế (realism) trong quan hệ quốc tế.

Các tác giả Barry Buzan, Hans Morgenthau còn đi xa hơn: nghi ngờ khả năng bảo vệ công bình thế giới bằng luật quốc tế và nhấn mạnh thực tế chua chát của chính trị thực dụng (realpolitik), chính trị cường quyền (power politics). Khi đó, các quốc gia phải tìm cho mình một lợi thế so sánh nào đó trên phương diện chính sách để mưu cầu sống còn.

Continue reading

CÁ NHÂN – CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ?

NGUYỄN ĐỨC LAM

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân con người có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền  và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các  quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ;  các  quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

Continue reading

CÁ NHÂN – Chủ thể của Luật quốc tế?

 NGUYỄN ĐỨC LAM

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân con người có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền  và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các  quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ;  các  quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

Một số vấn đề pháp lý cơ bản CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

CHÍNH SÁCH DI CƯ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU: BẢO VỆ NGƯỜI DI CƯ HỢP PHÁP

HOÀNG THƯ

Vài thập niên trở lại đây, cùng với sự dịch chuyển của các dòng tư bản, đầu tư nước ngoài và sự phát triển không ngừng của khoa học – công nghệ, chúng ta chứng kiến những làn sóng di cư, hay là sự dịch chuyển nguồn nhân lực mạnh mẽ trên khắp thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó và Liên minh châu Âu chính là một điểm đến tiềm năng của người di cư Việt Nam. Tuy nhiên, lao động Việt Nam hiện chỉ chiếm một số lượng ít ỏi trên thị trường lao động các nước EU.

Một chính sách di cư toàn diện

Năm 1999, Hội nghị nguyên thủ quốc gia và chính phủ các nước EU tại Tampere (Phần Lan) đã thống nhất yêu cầu phải thiết lập Chính sách di cư chung và Cơ chế cư trú chính trị chung châu Âu. Từ đó, vấn đề di cư và cư trú chính trị được đặt dưới sự quản lý của EU. Trong Chương trình Hague 2004-2009, Cộng đồng chung châu Âu kêu gọi phát triển sâu rộng hơn nữa Chính sách di cư và cư trú chính trị của EU. Tiếp đến, tháng 10/2008, Hiệp ước châu Âu về di cư và cư trú chính trị được Ủy ban châu Âu thông qua. Bằng Hiệp ước này, quan điểm của EU là hướng tới một nhận thức chung cho chính sách quản lý di cư hiệu quả của các nước thành viên EU. Đồng thời khẳng định vị thế và vai trò của người di cư với tư cách là nhân tố phát triển và đối tác.

Hiệp ước khuyến nghị, công dân các nước thứ 3 cần được trang bị những thông tin cần thiết để nắm được yêu cầu, thủ tục về nhập cảnh và cư trú hợp pháp tại các nước EU. Đáng lưu ý, mặc dù cho phép các nước thành viên có thẩm quyền quyết định về phương thức lựa chọn quốc tịch, quyết định số lượng người được phép di cư… nhưng Hiệp ước nhấn mạnh, công dân các nước thứ 3 cư trú hợp pháp trên lãnh thổ các nước thành viên sẽ được đảm bảo đối xử công bằng, có tư cách pháp nhân tương tự như công dân quốc tịch EU.

Continue reading

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

VÕ ANH TUẤN*

Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hiệp quốc (LHQ) kéo dài 9 năm (1973-1982) đã soạn thảo một công ước quốc tế về luật biển đồ sộ, bao quát tất cả các vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của Biển và Đại dương, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển, có trình độ phát triển khác nhau) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như những vùng biển thuộc phạm vi quốc tế.

Công ước LHQ về luật biển năm 1982 (UNCLOS) được đánh giá là bộ luật biển hoàn chỉnh nhất từ trước tới nay và là văn kiện pháp lý quốc tế hậu chiến quan trọng nhất sau Hiến chương LHQ. Phần mở đầu Công ước nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Công ước như “một cống hiến quan trọng vào việc gìn giữ hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới”.

Hiện nay các nước đều căn cứ vào UNCLOS để giải quyết bất đồng và tranh chấp về các vùng biển quốc gia cũng như về khai thác đáy Đại dương – “di sản chung của thế giới” (Điều 136).

Về các vùng biển quốc gia

Theo UNCLOS các nước ven biển có quyền quy định:

Đường cơ sở là những đoạn đường thẳng nối liền các “ngấn nước thấp nhất, nhô ra xa nhất” dọc theo bờ biển (Điều 7).

Lãnh hải không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước ven biển có chủ quyền quốc gia “được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này” (Điều 2). Như vậy là chấm dứt tình trạng các nước nhỏ và yếu bị ép buộc quy định lãnh hải của mình không quá 3 hải lý.

Vùng tiếp giáp “không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nuớc ven biển có quyền kiểm soát hải quan, y tế, nhập cư, trừng trị tội phạm (Điều 33).

Vùng đặc quyền kinh tế “không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nước ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên và sinh vật của vùng nước trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bảo vệ môi trường (Điều 56). Các nước khác được 4 quyền: tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm (Điều 58).

Continue reading

THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading

THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading