BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG YẾU THẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐÀI LOAN

 NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

NGUYỄN TIẾN ĐẠT – Học viện Chính sách và Phát triển

1. Khái niệm “người tiêu dùng yếu thế” trong quan hệ tiêu dùng

Mặc dù, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc UNESCO từng phân tích: “Tính dễ bị tổn thương là một phần của điều kiện của con người; một số người có thể nói rằng những tổn thương đó khiến chúng ta ‘con người’ hơn. Không ai là không bị tổn thương…”[1]. Điều này cho thấy bất cứ chủ thể nào không chỉ riêng người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng đều phải đối mặt với những rủi ro bị tổn thương. Nhu cầu bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng xuất hiện từ khi khái niệm “hợp đồng” chính thức được quy định trong luật pháp thời kỳ La Mã. Ví dụ, nguyên tắc thiện chí bona fides của Tòa án; cơ chế exception doli để giải phóng nghĩa vụ cho con nợ hay các quy định bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong Luật 12 bảng… Trong pháp luật hiện đại, mỗi chủ thể trong các quan hệ pháp luật khác nhau sẽ được đặc trưng bởi những rủi ro bị tổn thương khác nhau, và người tiêu dùng là một chủ thể như vậy. Khái niệm “nhóm yếu thế” (tiếng anh: Disadvantaged groups) thường được sử dụng để nói về một nhóm người đặc trưng bởi những rủi ro cao hơn về sự nghèo đói, loại trừ khỏi xã hội, sự phân biệt và bị bạo lực hơn so với cư dân bình thường khác. “Nhóm yếu thế” trong luật quốc tế bao gồm nhưng không giới hạn tới những dân tộc thiểu số, người di cư, người khuyết tật, người bị cách ly khỏi xã hội và trẻ em [2]. Tuy nhiên, so sánh với những rủi ro pháp lí mà người tiêu dùng phải đối diện khi tham gia quan hệ tiêu dùng, Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff đã đặt ra một câu hỏi về vấn đề này, rằng: “Liệu người tiêu dùng có phải là một nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương” [3]. Câu hỏi này đã được Tổ chức Consumer Affairs Victoria (Autralia) trả lời khi đưa ra định nghĩa về “Người tiêu dùng yếu thế” được hiểu là “những người có thể dễ dàng hoặc nhanh chóng bị thiệt hại trong quá trình tiêu dùng, tính dễ bị tổn thương phát sinh từ những đặc điểm của thị trường đối với một sản phẩm cụ thể, hoặc các thuộc tính hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó khi quyết định tiêu dùng hoặc việc theo đuổi biện pháp khắc phục cho bất kỳ thiệt hại nào họ phải chịu, hoặc sự kết hợp của những điều này” [4].

Continue reading

NHÂN ĐỌC BÀI: “TRƯỜNG VIỆT – ÚC GỬI THÔNG BÁO TỪ CHỐI 40 HỌC SINH”

LS. VÕ ĐỨC DUY – Trưởng điều hành chi nhánh Việt Nam, Công ty Luật Santa Lawyers (Hoa Kỳ)

Vấn đề Trường Việt Úc gửi thư đến 40 phụ huynh thông báo ngừng nhận con em của họ, dư luận có 2 luồng ý kiến, có bên cho rằng nhà trường không có quyền cấm học sinh đi học tại trường này, có bên cho là phụ huynh đã sai khi không chịu mức học phí của trường này đưa ra …

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả có những phân tích và ánh nhìn theo góc độ pháp lý như sau :

Việt Úc theo mô hình quốc tế, nên nếu tham chiếu theo common laws ( hệ thống thông luật ), comparaive laws ( luật so sánh) và những common senses ( những lẽ thường và đạo lý ở đời ) theo văn hóa của người phương Đông.

Thứ nhất: Trong đạo luật về dân sự của các quốc gia có chính thể liên bang ( như Mỹ, ÚC, Canada , etc…) có qui định “ We reserve the right to refuse services to anyone” ( hiểu trong ngữ cảnh này là: điều khoản qui định họ ( bên cung ứng ) có quyền từ chối phục vụ khách hàng, dù có thể là Khách hàng mới và/hoặc trước đó đã ký hợp đồng với Khách hàng, nhưng trong quá trình thực hiện công việc, Khách hàng đã không hợp tác, không trung thực, gây khó dễ cho bên cung cấp, v.v…, đành buộc họ dựa vào điều khoản này mà ngưng và từ chối phục vụ Khách hàng ( dù trên thế gian này bất kỳ một business nào cũng đều cần Khách hàng)1.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 108/BC-BXD NGÀY 28 THÁNG 8 NĂM 2019 CỦA BỘ XÂY DỰNG TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT XÂY DỰNG (Được bổ sung tại Báo cáo số 138/BC-BXD ngày 16 tháng 10 năm 2019)

Bối cảnh và một số yêu cầu sửa đổi, bổ sung

Trong thực tiễn triển khai thực hiện Luật Xây dựng năm 2014 đã xuất hiện một số vướng mắc, hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Luật như:

– Một số quy định về nội dung, phạm vi, thẩm quyền thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước, người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn về công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế chưa phù hợp với nguyên tắc: cơ quan quản lý nhà nước chỉ kiểm soát nội dung thuộc chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, kiểm soát sự phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, phương pháp tính định mức đơn giá của các dự án. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn phải tự chịu trách nhiệm về các nội dung cụ thể của dự án, thiết kế xây dựng.

– Nội dung, thẩm quyền thẩm định thiết kế xây dựng và cấp giấy phép xây dựng còn có một số điểm trùng lặp; điều kiện cấp giấy phép xây dựng chưa phù hợp với một số loại công trình; thời gian cấp giấy phép xây dựng còn dài.

– Việc thành lập, vận hành Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực đối với một số trường hợp khó thực hiện.

Continue reading

THẾ KỶ CHÂU Á ĐANG GẶP HIỂM HỌA

 LÝ HIỂN LONG – Thủ tướng Singapore (Người dịch: Trần Ngọc Cư)

“Trong những năm gần đây, người ta nói rằng thế kỷ tiếp theo sẽ là thế kỷ của Châu Á và Thái Bình Dương, như thể đó là điều chắc chắn. Tôi không đồng ý với quan điểm này.” Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lập luận đó với Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi vào năm 1988. Hơn 30 năm sau, Đặng tỏ ra đã biết trước. Sau nhiều thập kỷ thành công về kinh tế, châu Á ngày nay là khu vực phát triển nhanh nhất thế giới. Trong thập kỷ này, các nền kinh tế châu Á sẽ trở nên lớn hơn so với phần còn lại của các nền kinh tế thế giới cộng lại, một điều chưa từng có từ thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, cảnh báo của Đặng vẫn còn giá trị: một thế kỷ châu Á vừa không phải là điều tất yếu vừa không thể định trước được.

Châu Á đã phát triển thịnh vượng nhờ Pax Americana [nền hoà bình do Mỹ thiết lập] tồn tại từ cuối Thế chiến II, đã cung cấp một bối cảnh chiến lược thuận lợi. Nhưng bây giờ, mối quan hệ đầy khó khăn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc về tương lai Châu Á và hình dạng của một trật tự quốc tế đang xuất hiện. Các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm cả Singapore, đặc biệt quan tâm, vì họ sống ở giao điểm lợi ích của nhiều cường quốc khác nhau và phải tránh bị mắc kẹt giữa hoặc bị ép buộc vào những lựa chọn làm mất lòng phe này hoặc phe khác.

Nguyên trạng ở Châu Á chắc chắn phải thay đổi. Nhưng liệu cấu hình mới sẽ cho phép khu vực này thành công hơn nữa hoặc mang lại sự mất ổn định nguy hiểm? Điều đó phụ thuộc vào các lựa chọn mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đưa ra, riêng biệt và cùng nhau. Hai cường quốc phải xây dựng một thoả ước chung sống hòa bình, modus vivendi, theo đó họ sẽ cạnh tranh trong một số lĩnh vực mà không cho phép sự cạnh tranh này gây độc hại cho sự hợp tác ở các lãnh vực khác.

Continue reading

ĐỌC CÔNG TRÌNH CỦA THOMAS PIKETTY: TƯ BẢN THẾ KỶ XXI

NGUYỄN QUANG (Nguyễn Ngọc Giao dịch từ bản tiếng Pháp: “Le Capital au 21ème siècle de Thomas Piketty”, Nguyễn Đôn Phước và Trần Hải Hạc hiệu đính)

Trái ngược với mọi dự đoán, năm nay cuốn sách best-seller ăn khách nhất thế giới lại là một cuốn sách về kinh tế học chính trị dầy cộm và chi chít những bảng số và biểu đồ. Bản in tiếng Pháp gần một nghìn trang, cộng thêm khoảng một trăm trang phụ lục kỹ thuật công bố trên mạng, hiện nay đã được dịch ra 25 thứ tiếng. Bản tiếng Pháp đã bán được 120 000 cuốn, đứng đầu loại sách tài liệu – tiểu luận; bản tiếng Anh 450 000 cuốn: trong mấy tuần lễ liền, đó là tác phẩm bán chạy nhất so với tất cả các loại sách, kể cả cuốn Game of Thrones! Song song với thành công về xuất bản, là cuộc “lưu diễn” rất ư là siêu sao nhạc rock của tác giả tại các trường đại học lớn nhất nước Mỹ, giảng đường nào cũng chật ních, với những lời ca ngợi của những giải Nobel kinh tế học (Krugman, Solow, Stiglitz), và cũng như Alexis de Tocqueville (Về nền dân chủ Mỹ), Thomas Piketty đã được mời tới Nhà Trắng. Do tính kỹ thuật giả định của tác phẩm (về tư bản đầu thế kỷ XXI) và sự khô khan (cũng) giả định của luận đề cơ bản (là sự tái hiện những bất bình đẳng xã hội ở thế kỷ XXI), có thể nói không ngoa rằng cái mốt “pikettymania” quả là một hiện tượng trí thức của thập niên này. Có lẽ đây chuyện Zeitgeist – tinh thần của thời đại – có sự trùng hợp giữa tác phẩm và tâm trạng xã hội của thời đại: với cuộc khủng hoảng 2008 và những hậu quả của nó, trước những quá trớn của chủ nghĩa tư bản tài chính và sự bất cẩn của một tập đoàn tài phiệt thiểu trị, người dân bình thường cảm thấy một cách mơ hồ mà sâu đậm rằng sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng, đe dọa phá vỡ “khế ước xã hội” của nền dân chủ. Điều này không hề làm suy suyển chất lượng tác nghiệp của một công trình nghiên cứu đã phân tích tới mức cạn kiệt (khiến người đọc cũng kiệt lực luôn) sự bùng phát những bất bình đẳng về tài sản và thu nhập diễn ra trong 25 năm cuối của thế kỷ XX ở các nước phát triển, với nguy cơ đưa thế kỷ XXI quay trở lại tình trạng man rợ của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ XIX. Đối với nhiều người, đây là một sự phát hiện. Thậm chí Bill Moyers, một nhà báo Mỹ, còn dùng danh từ epiphany, tức là sự linh hiện, mặc khải theo nghĩa tôn giáo!

Continue reading

Những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay và MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

PGS.TS. TRẦN THỊ MINH THI – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, đình, Viện HLKHXH Việt Nam

Trước tác động của bối cảnh mới hiện nay, các giá trị gia đình Việt Nam đang có những biến đổi nhất định cần được nhận biết, đánh giá, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào thành công của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

Xu hướng biến đổi giá trị đạo đức, tâm lý và tình cảm của gia đình Việt Nam đương đại

Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Gia đình là giá trị quan trọng hàng đầu

Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị (Biểu 1). Khái niệm gia đình ở đây là mô hình gia đình truyền thống được xây dựng trên cơ sở hôn nhân.

Continue reading

MỘT XÃ HỘI LẬP NGHIỆP CẦN MỘT NHÀ NƯỚC LẬP NGHIỆP

TS. MARIANA MAZZUCATO – Đại học London (Khi viết bài này, bà là giáo sư kinh tế tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh). Nguyễn Trịnh Đôn dịch

Tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo có thể làm được những điều không tưởng hiện đang thách thức chủ nghĩa tư bản hiện đại: làm cách nào để tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và kéo dài trên nền tảng những công việc lương cao và đem lại giá trị lớn. Đây là cốt lõi của xã hội lập nghiệp (entrepreneurial society) và là một mục tiêu tốt. Vấn đề là làm sao đạt được mục tiêu đó.
Dù nhiều nước đã đề ra mục tiêu này, nhưng con số những nơi thực hiện được vẫn còn khiêm tốn. Lý do của khó khăn này nằm ở những hiểu lầm phổ biến về cách thức đạt được tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo (innovation) trước đây. Cách hiểu sai này khiến việc đề ra chính sách bị đưa theo những lối lập luận sai vốn cho rằng các nhà lập nghiệp và công ty cá nhân là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Nếu không bị thách thức, những lập luận này sẽ đưa đến những chính sách gây cản trở và lối phân phối thành quả không phản ánh sự phân bố rủi ro trên thực tế.

Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp (entrepreneurial state), một nhà nước mà thông qua tầm nhìn cùng những đầu tư công chiến lược phân bố khắp chuỗi đổi mới sáng tạo có thể tạo ra cái tinh thần động vật (animal spirit)1 ở các doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nhân lập nghiệp (entrepreneur) từ đó sẽ nhìn thấy các cơ hội tăng trưởng, rồi đầu tư sẽ diễn ra.

Continue reading

VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY

PGS-TS. ĐINH CÔNG TUẤN – Viện nghiên cứu châu Âu

1. Chiến lược toàn cầu, châu Á – Thái Bình Dương của Trung Quốc hiện nay

Gần 100 năm qua kể từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) và hơn 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949), mục tiêu chiến lược của TQ không hề thay đổi, đó là xây dựng TQ trở thành cường quốc số 1 lãnh đạo thế giới. Sau Đại hội XVII Đảng Cộng sản TQ (2012), TQ đã vươn lên đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về quy mô nền kinh tế, GDP đạt 2100 tỷ USD. TQ đã đưa ra lý luận về việc "phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa", xây dựng "Giấc mộng Trung Quốc" với 2 mục tiêu có tính tiêu chí: "2 mục tiêu 100 năm" (Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1921-2021) nhằm xây dựng xã hội khá giả toàn diện (thoát nghèo, xây dựng xã hội trung lưu) và kỷ niệm 100 năm thành lập nước (1949-2049) xây dựng thành công Nhà nước TQ hiện đại hóa XHCN, văn minh, dân chủ, giàu mạnh, hài hòa (TQ vững mạnh, trở thành cường quốc, lãnh đạo thế giới). Đến sau Đại hội XIX (2017) TQ đưa ra 3 mục tiêu đến năm 2049, 2 mục tiêu đã nêu trong Đại hội XVII (2012) không hề thay đổi, chỉ bổ sung thêm mục tiêu đến năm 2035 xây dựng TQ trở thành cường quốc khu vực châu Á – Thái Bình (CA – TBD). Về chiến lược toàn cầu thì đã rõ ràng. Còn về chiến lược của TQ tại khu vực CA-TBD thì sách trắng của TQ công bố ngày 10/01/2017 đã đưa toàn bộ nội dung bao gồm 6 phần như sau: 1) Chủ trương chính sách của TQ đối với sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD; 2) Ý tưởng an ninh ở khu vực CA-TBD của TQ; 3) Mối quan hệ giữa TQ với những nước chủ yếu trong khu vực CA-TBD; 4) Lập trường và chủ trương của TQ về các vấn đề nóng trong khu vực; 5) TQ tham gia cơ chế đã biên trong khu vực;  6) TQ tham gia hợp tác an ninh phi truyền thống trong khu vực CA-TBD[1].

Continue reading

KHOẢN NỢ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC LỰA CHỌN HÌNH THỨC ĐÒI NỢ PHÙ HỢP, HIỆU QUẢ

 THS. LS. NGUYỄN TIẾN MẠNH – Giám đốc Công ty luật Hồng Long, đoàn Luật sư Tp.HCM

Trong quá trình hoạt động, hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp đa phần phải đối diện với các khoản nợ chậm thanh toán của đối tác. Nếu giải quyết không ổn thỏa, sẽ phát sinh tình trạng doanh nghiệp nợ dây dưa, hoặc thực sự mất khả năng thanh toán. Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp mắc nợ và chủ nợ, giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là các bên thiện chí thương lượng giải quyết với nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp không giải quyết được thì chủ nợ có quyền áp dụng biện pháp pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tùy theo điều kiện và khả năng thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ có thể nộp đơn khởi kiện đòi nợ (vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại) theo thủ tục tố tụng dân sự, hoặc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng biện pháp nào để đòi nợ một cách hợp pháp và hiệu quả là một vấn đề mà chủ nợ cần phải cân nhắc, lựa chọn cho phù hợp.

Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số nội dung về những thuận lợi và hạn chế của từng biện pháp pháp lý để quý doanh nghiệp tham khảo.

1. Về điều kiện áp dụng của từng biện pháp

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Trách nhiệm của công chứng viên xuất phát từ những nghĩa vụ của công chứng viên đối với khách hàng. Công chứng viên có ba nghĩa vụ cơ bản sau đây : Thứ nhất, công chứng viên phải thiết lập một văn bản đúng với quy định của pháp luật cả về hình thức cũng như về nội dung. Văn bản này là chứng cứ thuyết phục nhất về các thỏa thuận mà công chứng viên là người ghi nhận. Như vậy, công chứng viên phải giúp các bên đạt đến kết quả pháp lý mà họ mong đợi từ văn bản với chi phí thấp nhất và trong những điều kiện tốt nhất. Thứ hai, công chứng viên phải tư vấn cho các bên về cách thức thực hiện thỏa thuận, tạo điều kiện để bảo vệ lợi ích chính đáng của họ. Thứ ba, công chứng viên phải đảm bảo hiệu lực hoàn toàn của thỏa thuận giữa các bên. Nghĩa vụ này bao gồm 2 nội dung : thực hiện các thủ tục mà pháp luật quy định đối với văn bản, đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của các bên cho đến khi văn bản thực sự có hiệu lực.

Nếu công chứng viên không thực hiện tốt ba nghĩa vụ nêu trên thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Công chứng viên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, bị kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm dân sự.

I. Trách nhiệm hình sự của công chứng viên

Công chứng viên trước hết có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là một công dân Pháp. Cũng như mọi công dân khác, công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước xã hội về những hành vi của mình. Nếu phạm tội, công chứng viên bị truy tố trách nhiệm hình sự như mọi người khác.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁP

 FABRICE BAUMGARTNER – Văn phòng Cleary Gottlieb, Paris, Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Pháp

Cho tới năm 1980, Thị trường chứng khoán Paris được quản lý bởi Hiệp hội môi giới chứng khoán là một thiết chế nắm độc quyền về niêm yết chứng khoán. Ngay từ đầu những năm 1980 và sau khi có sự phục hồi cạnh tranh giữa các thị trường giao dịch chứng khoán quốc tế, đặt ra vấn đề hiện đại hóa Thị trường chứng khoán Paris mà cho tới thời điểm đó vẫn hoạt động theo phương thức khớp lệnh bằng lời. Việc quản lý thị trường chứng khoán được giao cho Công ty chứng khoán Pháp (SBF). Sau này Công ty chứng khoán Pháp có tên là ParisBourse S.A. Hệ thống CAC (Khớp lệnh tập trung) được từng bước đưa vào sử dụng vào những năm 1986-1989 đã cho phép áp dụng phương thức khớp lệnh tập trung và giúp thị trường chứng khoán Paris có thể tồn tại trước sự de dọa của Thị trường chứng khoán Luân Đôn. Kể từ năm 1989, việc khớp lệnh đã được thực hiện hoàn toàn trên máy tính. Tiếp theo đợt tin học hóa này, nhiều cải cách liên quan tới các thiết chế đã được tiến hành như việc thay đổi địa vị của các nhân viên môi giới chứng khoán với việc thay thế họ bằng các công ty chứng khoán.

Continue reading

BÁO CÁO KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Môi trường là lĩnh vực rộng, đa dạng. Việc phân tích, đánh giá, học tập kinh nghiệm quốc tế cần được tiến hành vừa phải rộng rãi, toàn diện nhưng phải trọng tâm, trọng điểm, cụ thể cho các vấn đề, nhóm vấn đề. Theo đó, cần phân tích để đánh giá tổng quan chung hệ thống pháp luật về BVMT tại một số nước có điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội tương đồng với Việt Nam nhưng trình độ phát triển hơn Việt Nam từ 15 đến 20 năm ở Đông Nam Á, châu Á và một số nước có trình độ phát triển cao thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và phân tích, đánh giá các hướng dẫn, mô hình của một số tổ chức quốc tế và các quy định của một số nước để cung cấp cơ sở lý luận, đề xuất áp dụng cho Việt Nam về một số nội dung mới hoặc có nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật.

Việc phân tích, đánh giá, học hỏi kinh nghiệm quốc tế tập trung vào các nội dung (nhóm vấn đề) chính như sau:

1- Phân tích, đánh giá về hệ thống pháp luật và các quy định về BVMT trên Thế giới;

2 – Phân tích, đánh giá cơ cấu tổ chức, nguồn lực thực hiện công tác quản lý BVMT của các nước trong khu vực và trên Thế giới;

3 – Phân tích, đánh giá các nội dung quy định trong luật BVMT và kinh nghiệm xây dựng Luật BVMT của một số quốc gia trên Thế giới (Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan….); Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CƯ TRÚ CỦA MỘT SỐ NƯỚC

BỘ CÔNG AN

Cư trú và quản lý cư trú là một nội dung cơ bản và trọng yếu trong quản lý nhà nước của mỗi quốc gia trên thế giới. Bất kỳ một thể chế nhà nước nào cũng đều coi đây là công cụ quan trọng và hữu hiệu để nhà nước thực hiện quản lý xã hội, nắm bắt và kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tình hình dân số, tình hình sinh sống, di chuyển của người dân, tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, hiện nay các quốc gia đều có hệ thống quy định về quản lý cư trú tương đối đầy đủ, chặt chẽ và rõ ràng với những phương thức quản lý khác nhau. Có nhiều quốc gia không chỉ sử dụng một phương thức quản lý cư trú mà đồng thời kết hợp nhiều phương thức để thực hiện việc quản lý cư trú.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản lý cư trú sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề về phương thức quản lý cư trú, cơ quan quản lý cư trú, trình tự, thủ tục đăng ký cư trú, quyền và trách nhiệm của công dân về cư trú, trách nhiệm về quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước trên cơ sở tham khảo pháp luật và thực tiễn quản lý cư trú của một số quốc gia trên thế giới.

Hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới có những cách thức quản lý về cư trú của công dân khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân ra thành hai phương thức quản lý cư trú chính là quản lý cư trú theo nhân khẩu (thông qua Sổ Hộ khẩu), quản lý cư trú theo nơi ở (thông qua giấy tờ đăng ký tại địa phương sinh sống).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DI CƯ CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

CỤC LÃNH SỰ, BỘ NGOẠI GIAO

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, di cư quốc tế đã trở thành một trong số những vấn đề lớn của thời đại. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Theo ước tính của Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) có gần 215 triệu người đang sống và làm việc ngoài đất nước của mình, chiếm khoảng 3,3% dân số toàn cầu. Di cư quốc tế đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Người di cư đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế thế giới nói chung, ngay cả trong điều kiện khủng khoảng tài chính toàn cầu. Nhận thức được vai trò của di cư, các nước ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền được làm việc và an sinh xã hội đối với bản thân người di cư và gia đình họ.

Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội … đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Sự phát triển của đất nước sau 25 năm đổi mới cùng với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đi lao động, học tập, du lịch, làm việc và cư trú ở nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng. Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI BỞI COVID-19

LS. HOÀNG THỊ HOÀI THULS. HỒ THỊ TRÂMChuyên gia LƯƠNG VĂN LÝ – CÔNG TY TNHH LUẬT GLOBAL VIỆT NAM LAWYERS

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại khi hòa cảnh thay đổi bởi Covid-19

Tình hình dịch bệnh do Covid-19 gây ra ngày càng diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 05/4/2020, tổng số ca nhiễm Covid-19 trên toàn thế giới đã lên tới 1.199.583 người, với 64.662 ca tử vong.

Khi hoàn cảnh thay đổi và khó khăn phải gánh chịu

Dịch bệnh đã kéo theo hậu quả là kinh tế hầu hết các nước đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), các chuyên gia thậm chí còn cảnh báo chủng virus corona mới có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 1.000 tỷ USD trong năm nay.

Trước bối cảnh nêu trên, các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không tránh khỏi những thiệt hại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc duy trì hoạt động bình thường là không thể, dẫn đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên theo những hợp đồng đã giao kết cũng bị ảnh hưởng.

Để hạn chế phần nào khó khăn, hẳn nhiên, bên bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình hình dịch bệnh luôn mong muốn điều chỉnh hoặc chấm dứt hợp đồng đã giao kết.

Câu chuyện sẽ thuận lợi nếu bên còn lại “cảm thông” và thiện chí chịu cùng nhau ngồi lại, cùng nhau cân nhắc nhằm đạt được sự đồng thuận trong việc điều chỉnh hay thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, nếu bên còn lại không đồng ý chia sẻ khó khăn, sự bất đồng quan điểm sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Continue reading

TƯ CÁCH CHỦ THỂ CỦA CHI NHÁNH, VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT – Cục Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL, Bộ Tư pháp

Đặt vấn đề Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) quy định cá nhân, tổ chức là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, tổ chức là các chủ thể được liệt kê tại khoản 10 Điều 2 Luật XLVPHC, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật .

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ) cũng quy định tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi đáp ứng điều kiện: là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Nếu căn cứ những quy định kể trên, thì không thể khẳng định được tư cách chủ thể của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân (doanh nghiệp) trong trường hợp vi phạm hành chính xảy ra tại chi nhánh, văn phòng đại diện: chi nhánh, văn phòng đại diện có được coi là “tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật” và bị xử phạt vi phạm hành chính không? Để tháo gỡ vướng mắc này, một số nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực đã quy định cụ thể những chủ thể được coi là tổ chức vi phạm hành chính theo đúng yêu cầu tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP): “Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước”, trong đó quy định chi nhánh, văn phòng đại diện là tổ chức vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nhiều nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước không có quy định về vấn đề này.

Continue reading

XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp

Đặt vấn đề Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019 – sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ). Hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ là một trong các dạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Về mặt khoa học pháp lý, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể liên quan đến toàn bộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung (quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng), tuy nhiên, về mặt luật thực định, pháp luật hiện hành chỉ quy định những hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Do vậy, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thực chất chỉ gói trọn trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ, thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, vi phạm hoặc tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các biện pháp (chế tài) dân sự, hành chính hoặc hình sự có thể được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác. Ngoài 03 chế tài dân sự, hành chính, hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định các biện pháp khác mang tính chất hỗ trợ áp dụng 03 loại chế tài nói trên trong những trường hợp cần thiết, bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.

Continue reading

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 JEAN-FRANÇOIS MARY – Thẩm phán Tham chính viện, Cộng hòa Pháp

Mỗi nước có một nền văn hóa pháp lý riêng, bắt nguồn từ lịch sử, quá khứ, phương thức tổ chức chính trị và tổ chức hệ thống hành chính của nước mình. Nước Pháp cũng vậy. Đương nhiên, không được gò ép nước này đi theo hệ thống pháp luật của nước khác, mà chỉ nên tìm hiểu để rút ra những bài học kinh nghiệm và tìm ra các điểm chung hơn là những điểm khác biệt. Với mục đích như vậy, những hoạt động trao đổi như cuộc tọa đàm 2 ngày của chúng ta rất thiết thực. Tất nhiên tôi cũng nhận thấy rằng vai trò của Nghị viện ở Việt Nam không hoàn toàn giống như vai trò của Nghị viện ở Pháp. Ở Pháp, ngoài kỳ nghỉ ra, cả Hạ nghị viện lẫn Thượng nghị viện đều hoạt động gần như những cơ quan thường trực. Nghị viện ở Pháp có các luật gia, chuyên gia (gồm cả công chức hoặc không phải là công chức) hỗ trợ cho các nghị sĩ trong việc chuẩn bị các dự án luật. Thứ hai, so với các tiêu chí của Pháp thì dự thảo luật của Việt Nam có thể được trình bày theo nhiều khía cạnh khác nhau.

Ví dụ, ở Pháp, tất cả những quy định về cải tiến hoạt động của Nghị viện sẽ được tập hợp trong một đạo luật tổ chức, tức là luật được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành một số quy định của Hiến pháp và xét về thực chất, thuộc khối quy phạm hiến định. Bên cạnh đó, những quy định liên quan đến hoạt động của Chính phủ có thể được tập hợp trong một đạo luật, thậm chí trong nghị định của Chính phủ (trường hợp quy định về tổ chức và hoạt động của một bộ).

Continue reading

VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

Thời gian qua, có một số tranh luận về việc sử dụng thuật ngữ “Giao dịch dân sự” hay “Hành vi pháp lý”, “Quyền sở hữu” hay “Vật quyền”, “Trái quyền”… trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) nay là Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa thực sự phù hợp với các nguyên lý cơ bản của luật tư và vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự dẫn tới nhiều vướng mắc trong vận dụng, giải thích pháp luật hiện nay. Civillawinfor xin chia sẻ một số thông tin liên quan đến quá trình soạn thảo về vấn đề này.

I. Ý kiến của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế tại Phiên họp giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp và nhóm chuyên gia Việt Nam, ngày 2/8/2014

Căn cứ vào kết quả lấy ý kiến thành viên chính phủ và các Bộ, ngành, chuyên gia, Vụ pháp luật dân sự – kinh tế đề xuất một số nội dung thảo luận trong Phiên làm việc giữa Bộ trưởng Hà Hùng Cường với nhóm chuyên gia tư vấn như sau:

1. Thảo luận về việc sử dụng thuật ngữ và nội dung liên quan đến hành vi pháp lý, vật quyền, trái quyền trong Bộ luật dân sự

Văn phòng Chính phủ, một số cơ quan và chuyên gia đề nghị không sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự”; cân nhắc việc sử dụng thuật ngữ “vật quyền”, “trái quyền” và nội dung của hai chế định này để Bộ luật dân sự được dễ hiểu, dễ áp dụng và nâng cao tính khả thi.

Đề nghị các chuyên gia cho ý kiến tham vấn về vấn đề này.

Quan điểm của Vụ pháp luật dân sự – kinh tế:

1.1. Hành vi pháp lý

Việc dự thảo Bộ luật sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự” là dựa trên các căn cứ sau đây:

Continue reading