TƯ DUY HỆ THỐNG VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY

 GS. PHAN ĐÌNH DIỆU – Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Đổi mới tư duy – Một cách tiếp cận vấn đề

1. Vì sao cần đổi mới tư duy?

Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, ta thường nói tới tầm quan trọng của “đổi mới tư duy, đặc biệt tư duy kinh tế”. Và quả thực, một số đổi mới bước đầu trong tư duy về kinh tế đã mang lại không ít những thay đổi cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Và nếu nhìn ở bình diện rộng hơn và cơ bản hơn, thì ta thấy trên khắp thế giới, yêu cầu có những tư duy đổi mới đã được đặt ra từ đầu thế kỷ 20, khởi đầu từ trong các nhận thức khoa học, rồi dần lan tỏa sang các lĩnh vực hoạt động thực tiễn của kinh tế, chính trị, xã hội, mỗi ngày một rõ ràng và sâu sắc hơn. Đặc biệt là vào những thập niên cuối của thế kỷ 20, khi cuộc sống kinh tế và xã hội trong nhiều quốc gia và trên toàn cầu có những biến động to lớn, dồn dập, thường vượt qua ngoài mọi dự đoán, thì những cách tư duy cũ có tính máy móc, quy giản theo những mô hình tất định sơ lược đã chứng tỏ là bất cập trong việc nhận thức, lý giải và hướng dẫn hành động trong một thế giới phức tạp, phong phú và đa dạng như thế giới hiện nay. Và vì vậy, để tiếp tục tồn tại và phát triển, con người phải có những cách nhìn mới, cách nghĩ mới, và từ đó có những cách hiểu mới, cách xử sự mới đối với môi trường thiên nhiên, và với môi trường kinh tế xã hội đang có nhiều biến chuyển mới.

Tuy nhiên, vấn đề cơ bản là: vậy tư duy cũ là những cách tư duy nào mà ta bảo là không còn thích hợp và cần phải đổi mới; và tư duy mới là những cách tư duy nào mà ta cần được trang bị cho nhận thức của mình, vì sao chúng lại thích hợp hơn đối với yêu cầu hiểu biết và hành ộng của chúng ta trong môi trường thế giới hiện nay? Tôi e rằng khó mà có câu trả lời rành mạch và đầy đủ cho vấn đề cơ bản đó. Lịch sử phát triển tư duy là lịch sử của một quá trình tiến hoá, cái cũ không bao giờ bị phủ định hoàn toàn mà được gạn lọc để tiếp tục có tác dụng những vị trí thích hợp trong cái mới, và cái mới nhiều khi đã có mầm mống từ trong cái cũ và được tái tạo, phát huy sức mạnh mới trong những điều kiện mới. Nói đổi mới tư duy không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn một tư duy cũ nào đó và thay thế hoàn toàn bằng một tư duy mới đối lập nào đó.

Continue reading

QUẢN LÝ XÃ HỘI, QUẢN TRỊ XÃ HỘI TỪ GÓC ĐỘ LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

GS.TS. LÊ NGỌC HÙNG Học viện Chính trị Quốc gia HCM

Nhiều người đã quá quen thuộc với quản trị, quản lý trong lĩnh vực kinh tế và hành chính đến mức phủ nhận lĩnh vực nghiên cứu – đào tạo đang có yêu cầu thực tiễn phát triển mạnh là quản trị xã hội, quản lý xã hội.

Mối quan hệ của quản trị và quản lý

Theo nghĩa chung nhất, quản trị có nghĩa là hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm soát một nhóm người, một tổ chức hay một quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu của họ. Quản trị thường được định nghĩa là việc thực thi quyền lực hay quyền hành bởi người lãnh đạo nhằm bảo đảm phúc lợi của các thành viên trong tổ chức hay cộng đồng. Nội hàm thuật ngữ quản lý có nhiều nội dung tương tự quản trị, nhưng có những khác biệt cần được làm rõ để có thể sử dụng một cách phù hợp.

Quản trị trong công ty cổ phần. Có thể nghiên cứu trường hợp quản trị, cụ thể là hội đồng quản trị trong công ty cổ phần để hiểu rõ hơn về mối quan hệ của quản trị với quản lý trong phạm vi tổ chức doanh nghiệp. Trong công ty cổ phần người quản lý bao gồm cả chủ tịch hội đồng quản trị và các thành viên hội đồng quản trị, người chủ sở hữu và những người có chức danh quản lý trong công ty. Điều này có nghĩa là “quản lý” bao hàm cả “quản trị”. Trong mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần có “hội đồng quản trị” và chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị; xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị. Trong công ty cổ phần, hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ có thể tóm tắt như sau: (i) quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; (ii) quyết định mua bán các loại cổ phần, trái phiếu; (iii) quyết định đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; (iv) bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng theo điều lệ; (v) giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày; (vi) quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác; (vii) kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản công ty. Với các quyền và nghĩa vụ như vậy, có thể thấy rõ quản trị bao quát, quy định, chỉ đạo, giám sát quản lý.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIỚI HẠN TỰ DO HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ THU TRANG

I. Quyền con người và giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng

Tự do ý chí là nền tảng hình  của hợp đồng. Không có tự do ý chí không thể hình thành quan hệ hợp đồng và ngược lại, ‘tự do ý chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở thành hiện thực.’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 25). Tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng là quyền cơ bản của con người nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Bởi vì, để đảm bảo hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, nếu tuyệt đối tự do ý chí sẽ không giải quyết được hài hòa một số giao dịch phát sinh trên thực tế. Vì vậy, ‘hạn chế tự do ý chí cũng có nghĩa tương đối, nhưng là một nguyên tắc được ghi nhận trong quan hệ dân sự’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 27). Do đó, (Nguyễn Trọng Điệp và Cao Thị Hồng Giang, 2016) cho rằng giới hạn của tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng có ý nghĩa tích cực nhất định như: (i) Cân bằng lợi ích giữa cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội; (ii) Bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch nhất định; (iii) đảm bảo trật tự và có định hướng trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Continue reading

BÁO CÁO RÀ SOÁT ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VÀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH Ở VIỆT NAM

VCCI – “Quyền tự do kinh doanh” lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được tái khẳng định theo hướng rộng hơn trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này thể hiện sự cởi mở và khuyến khích của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Đây cũng là tiền đề quan trọng để thay đổi về tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh. Và thực tế, hệ thống pháp luật kinh doanh của nước ta trong vài năm gần đây đã có những chuyển mình mạnh mẽ, theo hướng tích cực, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp…

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển mình theo hướng tích cực trên, thì trong hệ thống pháp luật vẫn còn chứa đựng nhiều “rào cản” khiến cho việc hiện thực hóa “quyền tự do kinh doanh” gặp nhiều thách thức.

Báo cáo này được xây dựng dựa trên nghiên cứu, đánh giá của Nhóm nghiên cứu (không thể hiện quan điểm chính thức của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) và ý kiến phản ánh của doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình góp ý xây dựng các chính sách có liên quan. Kết cấu của Báo cáo gồm hai phần lớn:

• Phần I: Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện – Nhận diện và Kiến nghị.

• Phần II: Điều kiện kinh doanh một số ngành, nghề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ – Nhận diện và Kiến nghị.

TRA CỨU TOÀN VĂN BÁO CÁO TẠI ĐÂY

SOURCE: Vibonline.com.vn – WEBSITE XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CỦA VCCI

BÀN VỀ NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA LUẬT SƯ

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh .Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh[1].Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghĩa vụ bảo mật thông tin của Luật sư được quy định tại Luật Luật sư năm 2012, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam (Ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ Ngày 20/7/2001 của Hội đồng Luật sư toàn quốc ). Trong khuôn khổ bài viết tác giả đi sâu phân tích một số vấn đề về nghĩa vụ bảo mật bảo mật thông tin khách hàng của luật sư.

Continue reading

BÁO CÁO CHỈ SỐ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 2017

 Chương 1 – TỔNG QUAN

Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, từ năm 2016 thương mại điện tử Việt Nam bước sang giai đoạn tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, những trở ngại lớn vẫn không thay đổi, bao gồm lòng tin của người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến còn thấp, thanh toán trực tuyến chưa phổ biến, dịch vụ chuyển phát và hoàn tất đơn hàng chưa theo kịp nhu cầu.

Bên cạnh đó, thương mại điện tử xuyên biên giới và bán hàng đa kênh đang nổi lên nhanh chóng. Đồng thời, sự khác biệt lớn giữa các địa phương về hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là tên miền, và thu nhập bình quân đầu người đã góp phần tạo ra khoảng cách rất lớn trong chỉ số thương mại điện

tử. Để thu hẹp khoảng cách này đòi hỏi sự quan tâm và nỗ lực to lớn của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức liên quan tới thương mại, đầu tư, công nghệ thông tin và truyền thông.

1. Thương mại điện tử xuyên biên giới

Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B):

Continue reading

Từ khoán hộ ĐẾN ĐỔI MỚI TRONG NÔNG NGHIỆP

 PHẠM THỊ THÚY

Đất nước đã thống nhất được gần 40 năm (Bài đăng năm 2015 – Civillawinfor), công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua gần 30 năm. Thời gian chưa phải là dài cho sự phát triển của một đất nước, với biết bao thăng trầm, khó khăn, nguy cơ và thách thức, nhưng cho đến nay, Việt Nam đã từng bước vượt qua, từng bước khẳng định vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới. Đó là một sự chuyển mình vô cùng ngoạn mục. Nhưng để có được sự chuyển mình đó, Việt Nam đã phải trải qua không ít những khó khăn, sai lầm nhưng rồi chúng ta đã từng bước nhận ra và điều chỉnh, để đạt được kết quả như ngày hôm nay.

Một trong những lĩnh vực đấu tranh để đi đến đổi mới tiên phong nhất và cũng cam go nhất, đó chính là quá trình đổi mới trong nông nghiệp. Từ chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp với tư duy quản lý tập thể, cơ chế hoá trong nông nghiệp, với hình thức khoán việc, đến sự ra đời của hình thức khoán hộ. Từ khoán hộ ở một xã, huyện một cách công khai đến khoán chui, khoán lùi, rồi khoán sản phẩm, khoán lúa, khoán 100 và khoán 10 là cả một chặng đường ghệp ghềnh, gian nan, đi từ thử nghiệm này đến thử nghiệm khác và từng bước điều chỉnh để tìm ra con đường phát triển đúng đắn và phù hợp cho nông nghiệp nước ta. Từ một nước nông nghiệp thiếu đói triền miên, chỉ sau vài năm đổi mới, Việt Nam đã tự lực được lương thực và vươn lên trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Bài học về khoán hộ và sự thăng trầm của khoán hộ là một thực tế đáng suy ngẫm trong quá trình đi đến đổi mới ở Việt Nam. Khoán hộ không chỉ là vấn đề của quá khứ, nó còn nhiều bài học nóng hổi cho giai đoạn phát triển đất nước hiện  nay.

1. Quá trình đi đến đổi mới của nông nghiệp Việt Nam

1.1.Từ khoán việc đến khoán hộ

Continue reading

BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH NHÌN TỪ CÁC NƯỚC ASEAN

GS. TRẦN VĂN THỌ – Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản

1. Mở đầu

Nhìn từ trình độ phát triển, thế giới hiện nay có thể chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 gồm những nước thu nhập thấp, đang trực diện với bẫy nghèo. Nhóm 2 gồm những nước đã đạt được trình độ phát triển trung bình từ rất lâu nhưng sau đó trì trệ cho đến ngày hôm nay. Nhiều nước ở châu Mỹ La tinh thuộc nhóm này. Nhóm thứ ba gồm những nước mới phát triển vài mươi năm nay và hiện nay đã đạt mức thu nhập trung bình. Ở Á châu, Trung Quốc và một số nước ASEAN thuộc nhóm này. Nhóm thứ tư gồm những nước tiên tiến, có thu nhập cao như Mỹ, Nhật, các nước Tây Âu, v.v…

Đáng chú ý là nhóm nước thứ hai đã chuyển sang giai đoạn trì trệ lâu dài sau khi đạt được mức thu nhập trung bình. Hiện tượng này gần đây được gọi là “Bẫy thu nhập trung bình” (Gill and Kharas 2007, Spence 2011,…). Từ kinh nghiệm này, điều quan tâm của nhiều người hiện nay là liệu các nước mới nổi như ASEAN có thể tránh bẫy thu nhập trung bình và bước vào quỹ đạo phát triển bền vững để trở thành những nước có thu nhập cao hay không. Đâu là những điều kiện để ASEAN tránh được bẫy thu nhập trung bình? Mục đích của bài viết này là thử tìm câu trả lời cho câu hỏi này.

Trong phần dưới đây, Mục 2 sẽ đưa ra một khung phân tích bao gồm các thuật ngữ như giai đoạn phát triển, điểm chuyển hoán trên thị trường lao động, tăng trưởng dựa trên đầu vào, tăng trưởng dựa trên năng suất toàn yếu tố, lợi thế so sánh động và yếu tố thể chế. Mục 3 bàn về giai đoạn phát triển hiện nay của các nước ASEAN, có so sánh với các nước Đông Á khác. Dựa trên khung phân tích ở Mục 2, Mục 4 sẽ đánh giá khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của các nước ASEAN bằng cách thử so sánh tình trạng hiện nay của các nước đó với kinh nghiệm của Hàn Quốc, một nước đã thành công trong quá trình thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và phát triển thành nước tiên tiến. Mục 5 sẽ bàn về trường hợp Việt Nam, một nước vừa đạt mức thu nhập trung bình thấp nhưng đang trực diện nhiều yếu tố bất ổn về cơ cấu. Nếu không cải cách triệt để, Việt Nam có thể rơi vào trường hợp mà tác giả gọi là sự xuất hiện sớm của bẫy thu nhập trung bình (an early appearance of a middle income trap). Cuối cùng, phần kết luận sẽ tóm tắt những vấn đề hiện nay của các nước ASEAN và đưa ra các đề án chính sách mà các nước ASEAN cần quan tâm để tránh được bẫy thu nhập trung bình.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1402/BCT-ĐTĐL NGÀY 22 THÁNG 2 NĂM 2018 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁ BÁN ĐIỆN CHO HOẠT ĐỘNG GIẢI MÃ, KHAI THÁC ĐỒNG TIỀN ẢO

Kính gửi: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Bộ Công Thương nhận được Công văn số 4887/EVN-KD ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công văn số 7908/EVN CPC-KD ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực miền Trung, Công văn số 4572/EVNHCMC-KD ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh và Công văn số 4604/EVN HANOI-B14 ngày 23 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác. Trên cơ sở ý kiến góp ý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 9853/NHNN- PC ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tính hợp pháp của hoạt động giải mã, khai thác tiền ảo và Bộ Tư pháp tại Công văn số 335/BTP-PLDSKT ngày 29 tháng 01 năm 2018 về việc thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền điện tử, Bộ Công Thương hướng dẫn như sau:

Hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác thông qua phần mềm đã được lập trình sẵn trên hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động mang tính chất làm dịch vụ thông qua việc giải thuật toán để xác minh giao dịch mua bán trên mạng. Vì vậy, điện năng sử dụng cho hoạt động này thuộc đối tượng áp dụng giá bán lẻ điện cho mục đích kinh doanh.

Đề nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đạo các Tổng công ty Điện lực áp dụng giá bán điện mục đích kinh doanh cho hoạt động giải mã, khai thác các loại tiền ảo này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Hoàng Quốc Vượng

QUYẾT ĐỊNH SỐ 686/QĐ-BCT NGÀY 2 THÁNG 3 NĂM 2018 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TỰ VỆ CHÍNH THỨC

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG

Căn cứ Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 5 năm 2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 150/2003/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;

Căn cứ Quyết định số 1682A/QĐ-BCT ngày 12 tháng 5 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về điều tra áp dụng biện pháp tự vệ;

Căn cứ Quyết định số 3044/QĐ-BCT ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP có mã HS: 3105.10.20; 3105.10.90; 3105.20.00; 3105.30.00; 3105.40.00; 3105.51.00; 3105.59.00; 3105.90.00 nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau với nội dung chi tiết nêu trong Thông báo gửi kèm theo Quyết định này.

Continue reading

GÓP TỰ DO CỦA MÌNH VÀO ĐÂU HIỆU QUẢ NHẤT?

 PGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Khoa Luật, Đại học kinh tế TP.HCM

Dưới góc nhìn kinh tế và toán học, tác giả mạn đàm chuyện tối ưu hoá góp quyền tự do cho các chủ thể trung gian, bao gồm nhà nước.

Thuở hồng hoang, con người sống trong một xã hội chưa có luật pháp. Ở trạng thái tự nhiên đó, con người có mọi quyền, bao gồm cả quyền tự do giết người khác1. Tuy nhiên, trí thông minh của con người sớm nhận ra rằng: nếu mình có quyền tự do giết người khác, thì người khác cũng có quyền tự do giết mình. Việc từng cá nhân riêng lẻ tiếp tục giữ lại và hành xử một cách cá nhân các quyền tự do nguy hiểm này không có lợi cho từng cá nhân, không có lợi cho sự tồn tại của cộng đồng; họ cùng nhau thoả thuận từ bỏ quyền tự do này có điều kiện, có kiểm soát.

Ai sẽ là người kiểm soát quyền tự do này? “Bên thứ ba” được cộng đồng gửi gắm làm chủ thể tiếp nhận và hành xử phần quyền tự do này. Theo nguyên tắc gần trước, xa sau; cộng đồng ban đầu trao cho tù trưởng, tộc trưởng, rồi đến già làng, trưởng bản… “Bên thứ ba” này cứ thế tiến hoá dần để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của con người với tốc độ tương ứng với sự dịch chuyển của các nền văn minh của con người. Khi loài người từ bỏ lối sống lang thang săn bắn hái lượm, định cư tiến sang văn minh nông nghiệp thì “già làng, trưởng bản, trưởng tộc” không còn đủ sức giải quyết những tranh chấp đất đai, nguồn nước; càng không đủ sức đắp đê trị thuỷ; các làng ven sông thoả thuận liên kết lại để hình thành nên quyền lực liên làng, mà sự hình thành nhà nước Văn Lang cổ đại ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam là một ví dụ. Để vận hành quyền lực liên làng cần đến một tổ chức chuyên nghiệp; già làng, trưởng bản được thay thế bởi vua cùng hệ thống quan lại – nhóm người tách ra khỏi đời sống sản xuất trực tiếp; đổi lại cho sự đóng góp này, cộng đồng hy sinh một phần quyền tự do kinh tế, quyền tư hữu, đóng thuế nuôi họ, hình thành nên nhà nước của dân, do dân, vì dân; chứ không nhất thiết toàn nhân loại cứ phải đi theo con đường duy nhất đàn áp, cướp bóc lẫn nhau theo mô hình Athen cổ đại.

Continue reading

BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

 ĐỒNG QUANG THÁI 

 

Trong điều kiện toàn cầu hóa đời sống kinh tế, việc xây dựng nền kinh tế thị trường là yêu cầu bắt buộc để nước ta hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế, tận dụng điều kiện bên ngoài cho sự phát triển kinh tế trong nước. Nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường vừa có những đặc điểm riêng của nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn chuyển tiếp.

 

Những đặc điểm này in dấu ấn lên đời sống mọi mặt của xã hội, trong đó có đời sống đạo đức. Việc chuyển từ nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ trong đời sống đạo đức của xã hội. Hàng loạt vấn đề đặt ra liên quan đến việc nhận thức và xử lý trong thực tiễn mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế… nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với việc xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh, bảo đảm phát huy nhân tố đạo đức truyền thống dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

Nhân tố đạo đức của quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta trong thời gian qua đã góp phần to lớn trong việc giải phóng sức sản xuất của xã hội, tăng năng suất lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống của nhân dân. Kinh tế thị trường kích thích tính tích cực và tiềm năng sáng tạo của con người, hình thành các nhân cách độc lập, phát triển tính tự chủ; nơi đánh giá khách quan sản phẩm hàng hóa, tạo sự sàng lọc tự nhiên với hàng hóa và con người, buộc con người phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả công việc nếu muốn tồn tại và phát triển; là yếu tố kích thích con người không ngừng vươn lên để tự khẳng định mình; tạo không gian giao tiếp rộng lớn và phong phú cho từng cá nhân, qua đó cá nhân vừa có dịp bộc lộ mình vừa phát triển đời sống tinh thần, thay đổi phương thức và nội dung tư duy phù hợp; là tác nhân mạnh mẽ buộc các chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, thường xuyên chú ý cải tiến, đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa phương pháp làm việc để đạt hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của con người; xóa bỏ chủ nghĩa bình quân, thực hiện phân phối theo lao động, sở hữu… đã và đang tạo cơ sở khách quan để thực hiện tự do, bình đẳng, xóa bỏ đặc quyền, đặc lợi; đem lại cách nhìn mới về mối quan hệ giữa lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế với đạo đức. Trước đây, có quan niệm lợi ích kinh tế tách rời với đạo đức, thậm chí còn chịu ảnh hưởng nặng nề của quan niệm nghèo thì tốt. Đến nay, quan niệm đó đã trở nên lỗi thời vì không thể xây dựng một đời sống đạo đức tốt đẹp trong điều kiện một nền sản xuất ngày càng tỏ ra kém hiệu quả, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng nghèo nàn ngày càng trở nên phổ biến. Đương nhiên, không phải đời sống kinh tế được nâng cao là đời sống đạo đức tự động tốt đẹp hơn mà còn tùy thuộc vào việc giải quyết quan hệ lợi ích thông qua việc thực thi các chính sách kinh tế xã hội như thế nào, có hợp lý hay không.

Continue reading

BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC, THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

TS. PHẠM TIẾN DŨNG

Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nêu rõ: “Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”(1). Đây là một trong những điểm mới trong quan điểm của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, với xu hướng chung, không một xã hội nào phó mặc cho nhà nước và thị trường việc điều hành đời sống kinh tế – xã hội. Xây dựng nền kinh tế thị trường, củng cố tính hiệu quả của nhà nước và phát huy vai trò của xã hội là những quá trình diễn ra đồng thời, làm tiền đề cho nhau và quan hệ chặt chẽ với nhau.

1. Kinh tế thị trường đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ngày nay, kinh tế thị trường là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến không chỉ ở các nước phát triển, mà còn ở cả các nước đang phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế – xã hội của thế giới nói chung, của từng quốc gia nói riêng.

Có thể hiểu nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các quan hệ thị trường quyết định sự phân bổ nguồn lực thông qua hệ thống giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân được tự do ra quyết định kinh tế. Các doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, lựa chọn quy mô, công nghệ sản xuất và thuê các yếu tố sản xuất; tự do lựa chọn địa điểm và phương thức phân phối sản phẩm tạo ra… Hầu hết các quyết định đó không xuất phát từ động cơ đóng góp cho phúc lợi chung của toàn xã hội mà xuất phát từ lợi ích riêng.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT

8e04a8e024b6ec42dd72bf034091d52d NGUYỄN VĂN TIẾN – Ban Kinh tế Trung ương

Một trong những đặc trưng cơ bản của đầu tư vào nông nghiệp là thu hồi vốn chậm, nhiều rủi ro, lợi thế sản xuất theo quy mô trong nông nghiệp bị hạn chế hơn so với sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Vì vậy tích tụ, tập trung ruộng đất nhằm thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn phải phù hợp với những đặc điểm sản xuất nông nghiệp của nước ta và hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống của người dân ở khu vực nông thôn.

Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung ruộng đất

– Về mặt pháp lý, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, sản xuất nông nghiệp; thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đa số các tầng lớp nhân dân nói chung và nông dân nói riêng. Quy hoạch quỹ đất nông nghiệp cũng khá ổn định, thời hạn giao đất lâu dài giúp người nông dân yên tâm đầu tư vốn, khoa học – kỹ thuật và hình thành những vùng sản xuất hàng hóa tập trung trong nông nghiệp. Thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm tăng lên 50 năm, thống nhất cho các loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hằng năm và cây lâu năm, đất lâm nghiệp), hết hạn nếu phù hợp quy hoạch và không vi phạm trong quá trình sử dụng đất thì tiếp tục được gia hạn, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức kinh tế yên tâm đầu tư sản xuất.

Người sử dụng đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ có đủ các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Như vậy, về quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở một số nước. Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất; thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại; trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Như vậy, gần như người dân có đủ quyền sở hữu đất đai mà Nhà nước khó can thiệp khi cần thiết.

Continue reading

BOT VÀ PPP: TÍNH MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

 NGUYỄN TIẾN LẬP

Những phản đối và hệ lụy xung quanh các sai phạm trong thực hiện các tuyến BOT giao thông vừa qua cho thấy cần thiết nhìn lại các ưu, nhược điểm trong cơ chế hợp tác công tư (PPP) và thảo luận về giải pháp minh bạch hoá hình thức này.

Ba nguyên nhân dẫn tới phản ứng của người dân

Nhìn ở bề nổi, hiện tượng người dân nói chung và các lái xe nói riêng phản ứng chống lại một cách dữ dội tại các trạm thu phí đường BOT vừa qua đã nói lên một thực tế có tính cảnh báo: đó là họ đang phải trả quá nhiều phí tới mức không chịu đựng nổi cho việc lưu thông bình thường trên đường, là điều mà trước đây họ không phải làm như vậy. Nói một cách khác, chính khách hàng của các con đường BOT mà ngành giao thông đang rất tự hào đã trở thành nạn nhân của các con đường ấy và họ đang kêu cứu một cách tập thể. Theo tôi có ba vấn đề là căn nguyên của câu chuyện này:

Trước hết, chủ trương BOT hoá một cách rầm rộ, ồ ạt và đại trà mạng lưới đường bộ là một sai lầm. Về thực chất BOT chỉ là một phương thức đầu tư phát triển hạ tầng, đường xá, nhưng qua phương thức này Bộ Giao thông muốn nhanh chóng có được mạng lưới đường bộ mới, hiện đại hơn, thậm chí là các con đường cao tốc phủ khắp cả nước. Về lâu dài, điều đó là cần thiết, nhưng nhu cầu ấy chưa thực sự cấp bách đối với nền kinh tế và đời sống hiện nay của người dân. Đơn giản nói về khái niệm “nhu cầu” một cách lý thuyết, đó phải là các đòi hỏi và ham muốn về một điều gì đó gắn với khả năng chi trả, chưa nói tới hiệu năng sử dụng và tương quan tổng thể của các nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng tại cùng một giai đoạn hay thời điểm. Xét theo ý nghĩa như vậy, rất nhiều con đường to rộng và đẹp hơn được xây dựng không căn cứ vào nhu cầu cấp thiết, bởi trên thực tế chúng có ít xe cộ chạy qua, đặc biệt là các xe tải chở hàng vốn là phương tiện trực tiếp phục vụ sản xuất – kinh doanh. Cho nên, BOT hoá một cách thái quá, tức là vừa hút vốn đầu tư nhiều để xây đường vừa thu tiền cao cho việc sử dụng đường, đã làm cho cả nền kinh tế lẫn đời sống dân sinh trở nên “quá tải”.

Continue reading

TÁI CẤU TRÚC QUẢN TRỊ ĐỂ THÚC ĐẨY CƠ CẤU LẠI KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

THS. PHẠM ĐỨC TRUNG – Trưởng ban, Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

 NGUYÊN THỊ MINH THU – Nghiên cứu viên, Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Cơ cấu lại đầu tư công, thị trường tài chính và khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là ba trọng tâm của cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020. Trong thực hiện cơ cấu lại DNNN, tái cấu trúc quản trị DNNN là một nội dung quan trọng.

Mới đây, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII và Quyết định số 707/2017/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định "quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế" là một trong những mục tiêu cần đạt được đến năm 2020. Bài viết này có mục tiêu làm rõ thực trạng và kiến nghị giải pháp tái cấu trúc quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế để thúc đẩy cơ cấu lại DNNN ở Việt Nam đến năm 2020.

1. Nhưng vấn đề chung về quản trị doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước

1.1. Quản trị DNNN

Trong lịch sử phát triển của các mô hình tổ chức doanh nghiệp, một trong những bước tiến bộ quan trọng là sự tách bạch giữa người chủ và doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành. Dù vậy, mô hình tách bạch đã phát sinh những tác động tiêu cực. Hành vi tư lợi, phi đạo đức của người quản lý doanh nghiệp không chỉ đi ngược lại lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu mà còn gây hại cho những đối tượng có liên quan và cho cả nền kinh tế. Người chủ doanh nghiệp bị đẩy ra khỏi doanh nghiệp, chịu thiệt hại bởi các hành vi tư lợi của người quản lý.

Continue reading

VẤN ĐỀ THỂ CHẾ HÓA QUYỀN TÀI SẢN TRONG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

 PGS.TS. NGUYỄN VŨ HOÀNG – Tap chí Cộng sản 

Quyền tài sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản có vai trò ngày càng quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp hoặc tổ chức trong nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại. Vì vậy, thể chế hóa quyền tài sản không chỉ nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, mà còn bảo đảm cho hình thành đầy đủ, đồng bộ các chủ thể của kinh tế thị trường, các yếu tố của thị trường vận hành thông suốt. Trên ý nghĩa đó, Đại hội XII của Đảng trong khi chỉ rõ định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã nhấn mạnh đến yêu cầu bức thiết của việc thể chế hóa quyền tài sản.

Quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về thể chế hóa quyền tài sản trong xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Sau hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền KTTT đầy đủ hơn thông qua việc thừa nhận sở hữu tư nhân và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển; cải thiện quyền tự do giao dịch, lao động; tự do tiền tệ; tự do đầu tư; giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, chuyển đổi, cho hoặc tặng, góp vốn để kinh doanh; nỗ lực hình thành đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế…

Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản có nội hàm rộng, bao gồm cả việc xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền tài sản. Ví dụ, về thời điểm xác lập quyền sở hữu và các quyền tài sản khác, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: 1- Việc xác lập quyền sở hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản, trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác; 2- Trường hợp tài sản đã được chuyển giao trước thời điểm hợp đồng được giao kết thì quyền sở hữu và vật quyền khác được xác lập kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác; 3- Trường hợp luật quy định việc chuyển giao vật phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì thời điểm xác lập quyền sở hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, trừ trường hợp luật khác có quy định khác.

Continue reading

VỐN XÃ HỘI VÀ KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho Capital and society TRÀN HỮU DŨNG – Khoa Kinh tế, Đại học Wright State , Dayton, Hoa Kỳ

Trong hành trình tìm kiếm một "chìa khóa vàng" để giải thích hiện tượng tăng trưởng và phát triển kinh tế, với hi vọng chắc chiết "liều thuốc mầu" cho các quốc gia cần mở mang, giới kinh tế học đã đưa ra nhiều lý thuyết, đại loại có thể chia làm hai dòng chính. Dòng thứ nhất là kinh tế học tân cổ điển, trong đó số lượng vốn vật chất và trình độ công nghệ là quan yếu. Dòng thứ hai gồm các lý thuyết về thể chế, trong đó lịch sử, xã hội, và văn hóa – nói chung là những đặc tính thể chế theo nghĩa rộng – là trung tâm.

Tiếc thay, đến nay thì cả hai dòng tư tưởng này đều không làm mọi người thỏa mãn. Về dòng kinh tế học tân cổ điển thì những mô hình tăng trưởng vào các thập niên 60, 70, dần lộ ra tính siêu thực của chúng, đã không còn sức thuyết phục. Còn dòng kinh tế học thể chế thì tuy có làm sáng một số vấn đề căn bản, đã tỏ ra không mấy kiến hiệu trong nhiệm vụ đưa ra những hướng dẫn cụ thể về chính sách, vĩ mô lẫn vi mô, đối nội cũng như đối ngoại.

Trong bối cảnh ấy, một sự kiện trong vài năm gần đây thu hút nhiều chú ý. Đó là, một số nhà kinh tế học, xã hội học và chnh trị học, chưa bao giờ dính lứu đến tiếp cận thể chế, đã có nhiều ý kiến mới, một số khảo sát thực tiển về vai trí của xã hội trong sinh hoạt kinh tế. Ở châu Âu thì có tranh luận về "giá trị châu Á", ở phương Tây (nhất là ở Mỹ) thì có những luận đề của Robert Putnam, Francis Fukuyama về sự suy giảm "cộng đồng tính". Ở chu Mỹ La Tinh thì có Hernando de Soto với những ý kiến về vai trò thể chế trong sự thành công của chủ nghĩa tư bản. Và xa hơn một khoảng, nhưng vẫn còn hơi hướng của dòng tư tưởng này, là các lý thuyết của Fukuyama về "tận điểm của lịch sử", của Huntington về sự "đụng độ giữa các nền văn minh".

Nhìn chung, có thể nói rằng động cơ chính của tiếp cận này là một sự quan tâm nhiều hơn đến vai trò của cái tạm gọi là "văn hóa" trong tiến trình phát triển và tăng trưởng kinh tế, kể cả chiều ngược của tiến trình này, tức là sự suy thoái của những nền kinh tế tiên tiến. Chữ "văn hóa" được dùng trong ngoặc kép vì nó không hết trong ngữ cảnh, nhất là khi định nghĩa của nó chưa thống nhất, còn nhiều mảng xám mù mờ. Song, cứ tạm hiểu rằng nó liên hệ đến thể chế, tức là cái thiếu sót trong kinh tế học tân cổ điển.

Continue reading

TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO: ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ

Kết quả hình ảnh cho AGRICULTURAL ECONOMY IN VIETNAMTRẦN ĐỨC VIÊN

Trong lúc còn đang lúng túng để tìm ra một động lực mới cho phát triển nông nghiệp, người ta tin rằng những mảnh ruộng nhỏ bé với tư duy manh mún kiểu ‘tiểu nông’ của người nông dân cá thể và công nghệ sản xuất hiện tại đang là lực cản cho phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, và thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao (CNC) để nâng cao giá trị gia tăng nông sản là nhu cầu bức thiết. Vậy có phải tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, có phải nông nghiệp CNC thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang bị trì trệ và không bền vững của chúng ta?

PHẦN I: TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI VÀ HẠN ĐIỀN 

Tư duy cần phát triển “đại nông” để gỡ bế tắc cho nông nghiệp

Nhiều người cho rằng, để gỡ bế tắc trong phát triển nông nghiệp hiện nay, cần phải phát triển nền ‘đại nông’ theo kiểu phương Tây, nghĩa là phát triển tư bản nông nghiệp. Để làm được điều này thì cần phải xóa bỏ hay nới rộng hạn điền, cần phải tập trung ruộng đất vào tay những người ‘biết làm ruộng’, những người có vốn, có công nghệ, biết tổ chức sản xuất. Thậm chí ở một số địa phương, chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân trên 20 năm, rồi giao cho doanh nghiệp (DN) thuê lại [1]. Việc chính quyền tham gia vào quá trình tích tụ này được coi là bước đi đột phá, là sáng tạo. Cũng có nơi DN trực tiếp thuê đất của nông dân hoặc thông thông qua chính quyền địa phương làm trung gian để thuê đất của nông dân [2].

Những người cổ súy cho trào lưu này tin rằng: (1) Tích tụ ruộng đất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa là xu hướng tất yếu, cần có chính sách khuyến khích để phát triển nông nghiệp theo hướng này; Nông nghiệp công nghiệp áp dụng CNC sẽ thay thế cho nông nghiệp tiểu nông; (2) Các DN, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh sản xuất hàng hóa, khẳng định vị thế của nông sản Việt Nam (VN) trên thị trường nông sản thế giới.

Continue reading