THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁP

 FABRICE BAUMGARTNER – Văn phòng Cleary Gottlieb, Paris, Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Pháp

Cho tới năm 1980, Thị trường chứng khoán Paris được quản lý bởi Hiệp hội môi giới chứng khoán là một thiết chế nắm độc quyền về niêm yết chứng khoán. Ngay từ đầu những năm 1980 và sau khi có sự phục hồi cạnh tranh giữa các thị trường giao dịch chứng khoán quốc tế, đặt ra vấn đề hiện đại hóa Thị trường chứng khoán Paris mà cho tới thời điểm đó vẫn hoạt động theo phương thức khớp lệnh bằng lời. Việc quản lý thị trường chứng khoán được giao cho Công ty chứng khoán Pháp (SBF). Sau này Công ty chứng khoán Pháp có tên là ParisBourse S.A. Hệ thống CAC (Khớp lệnh tập trung) được từng bước đưa vào sử dụng vào những năm 1986-1989 đã cho phép áp dụng phương thức khớp lệnh tập trung và giúp thị trường chứng khoán Paris có thể tồn tại trước sự de dọa của Thị trường chứng khoán Luân Đôn. Kể từ năm 1989, việc khớp lệnh đã được thực hiện hoàn toàn trên máy tính. Tiếp theo đợt tin học hóa này, nhiều cải cách liên quan tới các thiết chế đã được tiến hành như việc thay đổi địa vị của các nhân viên môi giới chứng khoán với việc thay thế họ bằng các công ty chứng khoán.

Continue reading

BÁO CÁO KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Môi trường là lĩnh vực rộng, đa dạng. Việc phân tích, đánh giá, học tập kinh nghiệm quốc tế cần được tiến hành vừa phải rộng rãi, toàn diện nhưng phải trọng tâm, trọng điểm, cụ thể cho các vấn đề, nhóm vấn đề. Theo đó, cần phân tích để đánh giá tổng quan chung hệ thống pháp luật về BVMT tại một số nước có điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội tương đồng với Việt Nam nhưng trình độ phát triển hơn Việt Nam từ 15 đến 20 năm ở Đông Nam Á, châu Á và một số nước có trình độ phát triển cao thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và phân tích, đánh giá các hướng dẫn, mô hình của một số tổ chức quốc tế và các quy định của một số nước để cung cấp cơ sở lý luận, đề xuất áp dụng cho Việt Nam về một số nội dung mới hoặc có nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật.

Việc phân tích, đánh giá, học hỏi kinh nghiệm quốc tế tập trung vào các nội dung (nhóm vấn đề) chính như sau:

1- Phân tích, đánh giá về hệ thống pháp luật và các quy định về BVMT trên Thế giới;

2 – Phân tích, đánh giá cơ cấu tổ chức, nguồn lực thực hiện công tác quản lý BVMT của các nước trong khu vực và trên Thế giới;

3 – Phân tích, đánh giá các nội dung quy định trong luật BVMT và kinh nghiệm xây dựng Luật BVMT của một số quốc gia trên Thế giới (Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan….); Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CƯ TRÚ CỦA MỘT SỐ NƯỚC

BỘ CÔNG AN

Cư trú và quản lý cư trú là một nội dung cơ bản và trọng yếu trong quản lý nhà nước của mỗi quốc gia trên thế giới. Bất kỳ một thể chế nhà nước nào cũng đều coi đây là công cụ quan trọng và hữu hiệu để nhà nước thực hiện quản lý xã hội, nắm bắt và kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tình hình dân số, tình hình sinh sống, di chuyển của người dân, tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, hiện nay các quốc gia đều có hệ thống quy định về quản lý cư trú tương đối đầy đủ, chặt chẽ và rõ ràng với những phương thức quản lý khác nhau. Có nhiều quốc gia không chỉ sử dụng một phương thức quản lý cư trú mà đồng thời kết hợp nhiều phương thức để thực hiện việc quản lý cư trú.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản lý cư trú sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề về phương thức quản lý cư trú, cơ quan quản lý cư trú, trình tự, thủ tục đăng ký cư trú, quyền và trách nhiệm của công dân về cư trú, trách nhiệm về quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước trên cơ sở tham khảo pháp luật và thực tiễn quản lý cư trú của một số quốc gia trên thế giới.

Hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới có những cách thức quản lý về cư trú của công dân khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân ra thành hai phương thức quản lý cư trú chính là quản lý cư trú theo nhân khẩu (thông qua Sổ Hộ khẩu), quản lý cư trú theo nơi ở (thông qua giấy tờ đăng ký tại địa phương sinh sống).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DI CƯ CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

CỤC LÃNH SỰ, BỘ NGOẠI GIAO

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, di cư quốc tế đã trở thành một trong số những vấn đề lớn của thời đại. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Theo ước tính của Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) có gần 215 triệu người đang sống và làm việc ngoài đất nước của mình, chiếm khoảng 3,3% dân số toàn cầu. Di cư quốc tế đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Người di cư đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế thế giới nói chung, ngay cả trong điều kiện khủng khoảng tài chính toàn cầu. Nhận thức được vai trò của di cư, các nước ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền được làm việc và an sinh xã hội đối với bản thân người di cư và gia đình họ.

Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội … đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Sự phát triển của đất nước sau 25 năm đổi mới cùng với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đi lao động, học tập, du lịch, làm việc và cư trú ở nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng. Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI BỞI COVID-19

LS. HOÀNG THỊ HOÀI THULS. HỒ THỊ TRÂMChuyên gia LƯƠNG VĂN LÝ – CÔNG TY TNHH LUẬT GLOBAL VIỆT NAM LAWYERS

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại khi hòa cảnh thay đổi bởi Covid-19

Tình hình dịch bệnh do Covid-19 gây ra ngày càng diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 05/4/2020, tổng số ca nhiễm Covid-19 trên toàn thế giới đã lên tới 1.199.583 người, với 64.662 ca tử vong.

Khi hoàn cảnh thay đổi và khó khăn phải gánh chịu

Dịch bệnh đã kéo theo hậu quả là kinh tế hầu hết các nước đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), các chuyên gia thậm chí còn cảnh báo chủng virus corona mới có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 1.000 tỷ USD trong năm nay.

Trước bối cảnh nêu trên, các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không tránh khỏi những thiệt hại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc duy trì hoạt động bình thường là không thể, dẫn đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên theo những hợp đồng đã giao kết cũng bị ảnh hưởng.

Để hạn chế phần nào khó khăn, hẳn nhiên, bên bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình hình dịch bệnh luôn mong muốn điều chỉnh hoặc chấm dứt hợp đồng đã giao kết.

Câu chuyện sẽ thuận lợi nếu bên còn lại “cảm thông” và thiện chí chịu cùng nhau ngồi lại, cùng nhau cân nhắc nhằm đạt được sự đồng thuận trong việc điều chỉnh hay thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, nếu bên còn lại không đồng ý chia sẻ khó khăn, sự bất đồng quan điểm sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Continue reading

TƯ CÁCH CHỦ THỂ CỦA CHI NHÁNH, VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT – Cục Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL, Bộ Tư pháp

Đặt vấn đề Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) quy định cá nhân, tổ chức là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, tổ chức là các chủ thể được liệt kê tại khoản 10 Điều 2 Luật XLVPHC, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật .

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ) cũng quy định tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi đáp ứng điều kiện: là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Nếu căn cứ những quy định kể trên, thì không thể khẳng định được tư cách chủ thể của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân (doanh nghiệp) trong trường hợp vi phạm hành chính xảy ra tại chi nhánh, văn phòng đại diện: chi nhánh, văn phòng đại diện có được coi là “tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật” và bị xử phạt vi phạm hành chính không? Để tháo gỡ vướng mắc này, một số nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực đã quy định cụ thể những chủ thể được coi là tổ chức vi phạm hành chính theo đúng yêu cầu tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP): “Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước”, trong đó quy định chi nhánh, văn phòng đại diện là tổ chức vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nhiều nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước không có quy định về vấn đề này.

Continue reading

XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp

Đặt vấn đề Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019 – sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ). Hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ là một trong các dạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Về mặt khoa học pháp lý, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể liên quan đến toàn bộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung (quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng), tuy nhiên, về mặt luật thực định, pháp luật hiện hành chỉ quy định những hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Do vậy, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thực chất chỉ gói trọn trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ, thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, vi phạm hoặc tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các biện pháp (chế tài) dân sự, hành chính hoặc hình sự có thể được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác. Ngoài 03 chế tài dân sự, hành chính, hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định các biện pháp khác mang tính chất hỗ trợ áp dụng 03 loại chế tài nói trên trong những trường hợp cần thiết, bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.

Continue reading

NHÂN TỐ CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG LÊN GIÁ NHÀ ĐẤT Ở ĐỘ THỊ – TÌNH HUỐNG VIỆT NAM

TS. NGUYỄN NGỌC VINH – Đại học Kinh tế TP.HCM

Tóm tắt

Giá nhà đất ở đô thị (GNĐƠĐT) có ý nghĩa quan trọng trong việc mua nhà ở ổn định cuộc sống của phần lớn cộng đồng dân cư, nhưng thực tế GNĐƠĐT nước ta luôn duy trì ở mức cao vượt qua khả năng chi trả của đại đa số cư dân đô thị. Do vậy, nhận diện chính xác những nhân tố tác động đến GNĐƠĐT luôn là thách thức đối với các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách. Nghiên cứu của tác giả tập trung vào việc phân tích nhân tố chính sách tác động lên GNĐƠĐT và đã nhận diện rằng: GNĐƠĐT ở nước ta tăng cao có hai nguyên nhân trực tiếp, đó là phát sinh những bất cập trong việc thay đổi cách tính tiền sử dụng đất và chi phí sử dụng vốn cho dự án đầu tư vào bất động sản rất cao. Dựa trên phân tích những bất cập làm cho GNĐƠĐT tăng, tác giả đề xuất 4 kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong các văn bản pháp quy, tìm giải pháp giảm GNĐƠĐT tiệm cận với khả năng chi trả của cộng đồng, góp phần phát triển công tác an sinh xã hội.

1. Đặt vấn đề

Nghịch lý cho thấy thị trường nhà, đất ở nước ta từ năm 2008 đến nay trong giai đoạn trầm lắng nhưng giao dịch nhà đất ở đô thị vẫn tăng, giá cao đã vượt qua khả năng chi trả của đa số cộng đồng dân cư có nhu cầu về nhà ở nhưng có thu nhập thấp, bài toán an sinh xã hội của Chính phủ trở nên khó giải quyết.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH EVFTA TỪ GÓC NHÌN CHIẾN LƯỢC

TS. LÊ ĐÌNH TĨNH & THS. HÀN LAM GIANG – Học viện Ngoại giao

Ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) chính thức phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam (EVIPA). Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EVFTA hay các hiệp định bảo hộ đầu tư tiêu chuẩn cao trở thành một xu hướng đáng chú ý trong khu vực, trên thế giới và đồng thời là lựa chọn chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

Thực tế, tầm quan trọng của các hiệp định này yêu cầu phải có cách tiếp cận chiến lược trên cả ba khía cạnh: thời gian, không gian và quy mô/tầm mức. Về thời gian, EVFTA và EVIPA sẽ tạo ra các tác động lâu dài, đáng kể đến sự phát triển kinh tế và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam. Về không gian, các hiệp định này giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác, mở rộng không gian chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng. Về quy mô/tầm mức, các cam kết đối với hai hiệp định này liên quan đến nhiều lĩnh vực và đều hướng tới các tiêu chuẩn cao, góp phần đưa Việt Nam lên nấc thang mới trong chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu.

Bối cảnh của Hiệp định

Nếu nhìn nhận bối cảnh trên ba cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia, EVFTA và EVIPA được khởi động và kết thúc đàm phán trong các điều kiện sau.

Continue reading

TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN – CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM VÀ KHUYẾN NGHỊ

 VŨ MAI CHI & TRẦN ANH QUÝ

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới.

1. Tổng quan về nợ xấu và kết quả xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam qua các giai đoạn

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới. Thuật ngữ “nợ xấu” đã trở thành chủ đề được đề cập đến tại nhiều nghiên ở các nước phát triển và các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến việc đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn rủi ro do nợ xấu mang lại, cũng như biện pháp hạn chế tỷ lệ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng – tài chính thông qua đề xuất… “Nợ xấu được hiểu là khoản nợ mà quá thời hạn thanh toán một số ngày nhất định mà người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng cho vay”, đây là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Nợ xấu vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, và tính hoàn trả đầy đủ, sau nữa, nó gây nên sự mất lòng tin của người cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng. Việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là vấn đề mà tất cả các NHTM trên thế giới phải đối mặt, nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng, sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do đó, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một công tác hết sức quan trọng tại các NHTM.

Continue reading

QUYỀN SỞ HỮU – GÓC NHÌN TỪ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT – Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp

Quyền sở hữu là một quyền Hiến định . Đây luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của pháp luật luật dân sự nói riêng và của cả hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Ở khía cạnh quyền sở hữu, các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chủ yếu tập trung đề cập đến vấn đề chấm dứt quyền sở hữu. Có thể kể đến một số căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được quy định trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính như: Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tiêu hủy do bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu (và xử lý sau tịch thu) hoặc do bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy hoặc do đối tượng vi phạm hành chính chủ động thực hiện để xóa dấu vết (tẩu tán, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm)… Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung bình luận những quy định về tịch thu tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong mối liên hệ với các quy định của pháp luật dân sự để từ đó thấy được, quyền sở hữu là một trong những quyền năng quan trọng nhất của một cá nhân nhưng không phải là một thứ quyền “tuyệt đối” và quyền sở hữu của công dân luôn gắn liền với một chế độ sở hữu nhất định, trong một khuôn khổ pháp luật nhất định.

1. Xử lý trường hợp phương tiện giao thông được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã được mua, bán nhưng người mua chưa làm thủ tục đăng ký sang tên

Theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác”.

Continue reading

TẠI SAO TIN GIẢ THAO TÚNG XÃ HỘI?

 CAILIN O’CONNOR & JAMES OWEN WEATHERALL  (Nguyễn Cường lược dịch)1

Giữa thế kỷ 19, loài sâu sừng cà chua có kích thước bằng ngón tay lan rộng khắp vùng đông bắc Hoa Kỳ. Sau đó bắt đầu xuất hiện các báo cáo đáng sợ về khả năng loài này có thể gây độc cho con người tới mức tử vong. Vào tháng 7/ 1869, các tờ báo còn đăng tin về một cô gái ở Red Creek, New York đã “rơi vào tình trạng co cứng, cuối cùng tử vong’’ sau khi nhiễm độc từ sinh vật này. Mùa thu năm đó, tờ Syracuse còn đăng một bản báo cáo từ bác sĩ Fuller, cảnh báo rằng sâu sừng ”độc như  rắn chuông” và nói rằng đã có 3 ca tử vong liên quan tới nọc độc của nó.

Lan truyền thông tin sai lệch thường hiệu quả nhất bằng cách sử dụng một phần của sự thật.

Thực tế, sâu sừng cà chua là một loài phàm ăn có thể tước sạch cây cà chua trong vài ngày, nhưng vô hại với con người. Các nhà côn trùng học đã biết điều này trong nhiều thập kỷ trước khi BS Fuller công bố bản báo cáo của mình, và tuyên bố của ông đã bị các chuyên gia chế giễu. Vậy tại sao những tin đồn vẫn tồn tại bất chấp sự thật? Con người là những sinh vật học tập xã hội. Chúng ta phát triển hầu hết niềm tin của mình từ thông tin, kiến thức của những người đáng tin cậy khác như giáo viên, phụ huynh và bạn bè. Việc truyền tải kiến thức xã hội này là trái tim của văn hóa và khoa học. Thế nhưng như câu chuyện về sâu sừng cà chua cho chúng ta thấy, một lỗ hổng lớn: đôi khi những tri thức chúng ta lan truyền là sai.

Continue reading

XỬ LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH BỊ TẠM GIỮ, TỊCH THU LÀ TÀI SẢN THẾ CHẤP

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT – Cục Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL, Bộ Tư pháp

Tạm giữ, tịch thu phương tiện vi phạm hành chính là những biện pháp, chế tài áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 21 và Điều 26 Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC), tịch thu phương tiện vi phạm hành chính là một trong những hình thức xử phạt. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 119 Luật XLVPHC, tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính là một trong những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Việc áp dụng các biện pháp, chế tài nêu trên đòi hỏi phải tuân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế, việc người dân sử dụng phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của mình làm tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ngày càng trở nên phổ biến. Theo quy định của pháp luật dân sự, việc thế chấp tài sản không làm thay đổi quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng tài sản đó. Do vậy, tình trạng người dân sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có giá trị lớn đang được thế chấp tại tổ chức tín dụng để tham gia giao thông hoặc thực hiện các dịch vụ bằng phương tiện giao thông là khá phổ biến và cũng có khá nhiều trường hợp họ có hành vi vi phạm hành chính khi điều khiển phương tiện. Trong một số trường hợp, đối với một số hành vi vi phạm hành chính, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ và/hoặc hình thức xử phạt tịch thu phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Continue reading

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á về bảo vệ dữ liệu cá nhân và các gợi ý cho Việt Nam

 TS. NGUYỄN THỊ KIM NGÂN – Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Singapore

1.1 Các văn bản pháp luật của Singapore về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Ngày 15/10/2012, Nghị viện Singapore thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (DLCN)[1]. Luật công nhận quyền của các cá nhân trong việc bảo vệ các DLCN của chính họ, đồng thời thừa nhận sự cần thiết của việc các tổ chức tiến hành thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin cá nhân vì những mục đích phù hợp với những hoàn cảnh nhất định. Bên cạnh Luật Bảo vệ DLCN, một số văn bản pháp luật chuyên ngành của Singapore cũng quy định về vấn đề này như: Luật An ninh mạng và máy tính; Luật Bí mật công vụ, Luật Thống kê; Luật Giao dịch điện tử, Luật Ngân hàng, Luật Viễn thông[2]. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích quy định của Luật Bảo vệ DLCN năm 2012.

1.2 Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ DLCN năm 2012

a. Định nghĩa DLCN

Theo quy định của Điều 2.1 Luật Bảo vệ DLCN, DLCN là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập. Một số loại thông tin được loại trừ khỏi định nghĩa DLCN: thông tin liên hệ kinh doanh; thông tin về một cá nhân được lưu lại trong các bản ghi đã tồn tại ít nhất 100 năm; thông tin cá nhân về một người đã mất hơn 10 năm; thông tin cá nhân đã được công khai.

Continue reading

XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG: Vì sao không thể đổ hết trách nhiệm cho Nhà nước

 SARAH JO BREGMAN & NGUYỄN PHÚC ANH

Dịch bệnh là một dạng khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng mang tính nhân tạo mà không một Nhà nước, chính quyền nào, dù mạnh mẽ hiệu quả đến đâu cũng có thể dễ dàng xử lý nếu thiếu sự nỗ lực và đóng góp chung của từng thành viên cộng đồng. Quan điểm quy giản trách nhiệm xử lý dịch bệnh là của nhà nước chưa đánh giá đúng vai trò và ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong việc xử lý những khủng hoảng mang tính cộng đồng.

Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong một xã hội mà quyết định của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả cộng đồng.

Bối cảnh bùng phát virus Covid-2019 ở Việt Nam và phản ứng ban đầu của Nhà nước

Virus Covid-2019 đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam theo như ghi nhận là vào ngày 23 tháng 01 năm 2020. Từ thời điểm chính thức phát hiện dịch cúm cho đến nay, chính quyền không ngừng đưa ra những biện pháp khác nhau để nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh lây lan trên diện rộng và để minh bạch trong hoạt động phòng/chống dịch của Nhà nước.

Continue reading

GIỚI HẠN ĐẠO ĐỨC CỦA THỊ TRƯỜNG

 MICHAEL J.SANDEL – Giáo sư triết học chính trị, Đại học Harvard (Mỹ)

(Nguyễn Trịnh Đôn dịch)

Chúng ta đã trôi dạt từ chỗ có  (kinh tế thị trường (market economy) đến chỗ trở thành xã hội thị trường (market society) mà gần như không hề hay biết. Sự khác biệt nằm ở chỗ: kinh tế thị trường là công cụ – một công cụ rất giá trị và hiệu quả – trong tổ chức hoạt động sản xuất; còn xã hội thị trường thì ngược lại là một xã hội mà cái gì cũng đem ra bán được. Xã hội thị trường là một lối sống mà giá trị thị trường len lỏi vào mọi mối quan hệ xã hội và thống trị mọi mặt của đời sống.

Ngày nay, tiền gần như mua được tất cả mọi thứ. Những việc mua bán này có gì sai trái không? Để trả lời cho những câu hỏi như thế, chúng ta phải đặt ra câu hỏi lớn hơn: Tiền bạc và thị trường đóng vai trò gì trong một xã hội tốt đẹp?

Nếu ta bị phạt tù ở Santa Barbara, bang California, nhưng lại không thích điều kiện chuẩn của nhà tù thì ta có thể mua gói nâng cấp buồng giam của mình với giá 90 USD/đêm.

Nếu ta muốn ngăn chặn cái thực trạng bi kịch rằng mỗi năm có hàng ngàn đứa trẻ do các bà mẹ nghiện hút sinh ra thì ta có thể đóng góp vào một quỹ từ thiện dùng cơ chế thị trường để cải thiện vấn đề: đó là tặng 300 USD cho bất kỳ phụ nữ nghiện hút nào tình nguyện đi triệt sản.

Continue reading

ĐƯA HỘ KINH DOANH VÀO LUẬT SẼ KÉO LÙI LUẬT DOANH NGHIỆP

TS. LÊ DUY BÌNH

Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những luật trong lĩnh vực kinh tế có chất lượng tốt nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu Đổi mới.

Tuy nhiên, ý tưởng đưa hộ kinh doanh vào Luật Doanh nghiệp trong lần sửa đổi này, nếu thành hiện thực, sẽ làm sứt mẻ hình ảnh đẹp đẽ của Luật Doanh nghiệp.

Phá vỡ cấu trúc, tư tưởng và logic của Luật Doanh nghiệp

Đưa hộ kinh doanh thành một loại hình doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp và vỡ cấu trúc và logic của luật, khiến bộ luật rất tiến bộ này trở thành một luật chứa đựng đầy mâu thuẫn về phương diện khoa học pháp lý và về thực tiễn.

Điều đó có thể đe dọa tới sự phát triển bền vững của khu vực hộ kinh doanh cá thể và không thể hiện được một triết lý và một phương pháp luận đầy đủ, tổng thể nhằm hỗ trợ sự phát triển của khu vực này. Thậm chí, ngáng đường cho những cải cách của khu vực hộ kinh doanh bởi những luật và quy định khác trong thời gian tới do đặt vị thế của hộ kinh doanh vào “một sự đã rồi”.

Luật Doanh nghiệp đã quy định đầy đủ các hình thức pháp lý như pháp nhân kinh doanh với các hình thức như cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, và thậm chí rất mở với các hình thức như doanh nghiệp TNHH một thành viên.

Luật Doanh nghiệp cũng quy định các hình thức cá nhân kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân (đáng nhẽ ra phải được gọi là doanh nghiệp cá thể hoặc doanh nghiệp một chủ). Nếu đưa hộ kinh doanh vào luật, câu hỏi đặt ra là bản chất về tư cách pháp lý của hộ kinh doanh sẽ là gì. Continue reading

TÌM HIỂU VỀ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là Báo cáo Môi trường kinh doanh (MTKD) – Doing Business (DB)) của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003. Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng thế giới tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.

Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003 (với tên gọi Doing Business 20041) xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 (công bố ngày 31/10/2018) xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

– Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định;

– Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…);

Continue reading

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM – NĂNG SUẤT VÀ THỊNH VƯỢNG

TS. LÊ DUY BÌNH – Chuyên gia kinh tế của Economica Viet Nam

TÓM TẮT BÁO CÁO

Năm 2017, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã được ban hành, khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là một điểm mốc quan trọng do trong quá khứ, doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam đã phải trải qua một quá trình phát triển nhiều sóng gió. Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã không được chính thức công nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà nước còn để lại. Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ 6. Với chính sách Đổi Mới, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam. Từ đó đến này, môi trường chính sách và pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân đã liên tục được cải thiện.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký gia tăng mạnh mẽ, phản ánh cả quá trình chính thức hoá hộ kinh doanh cũng như sự thành lập các doanh nghiệp mới. Tuy nhiên, có một khoảng cách đang ngày càng lớn dần giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và số lượng những doanh nghiệp đang thực sự hoạt động. Bên cạnh các doanh nghiệp được đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hộ kinh doanh đã và đang trở thành một cấu phần quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Sự mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam song hành với sự giảm bớt về số lượng doanh nghiệp nhà nước và với sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực hợp tác xã (kinh tế tập thể). Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng vốn của các doanh nghiệp tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp lớn vào việc hình thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Continue reading