NGÔN NGỮ TRONG GIAO DỊCH: Rào cản của Indonesia là thế mạnh của Việt Nam?

NHÃ TRÚC – Báo Sài Gòn Giải Phóng*

Trong thập kỷ qua, chính phủ Indonesia đã nỗ lực tăng cường việc sử dụng tiếng Indonesia ở mọi mặt. Quy định sử dụng quốc ngữ đã vượt quá khuôn khổ của nó trong văn hoá giáo dục và “xâm lấn" sang lĩnh vực kinh doanh.

Câu chuyện về quy định này là nguồn cơn của những vụ kiện triệu đô tại Indonesia, đồng thời đặt vấn đề về việc quản lý ngôn ngữ cho người lao động và doanh nghiệp nước ngoài.

Nỗ lực đẩy mạnh quốc ngữ

Câu chuyện bắt đầu với Luật số 24/2009 được thông qua nhằm bảo vệ sự tôn nghiêm của quốc kỳ, quốc ngữ, quốc huy và quốc ca. Ngoài những vai trò phổ biến trong truyền thông và giáo dục, Điều 26 của bộ luật này cũng quy định rằng quốc ngữ phải được sử dụng trong tất cả các thoả thuận hợp đồng liên quan tới các cá nhân và tổ chức Indonesia.

Continue reading

BỘ LUẬT TRƯNG MUA VÌ LỢI ÍCH CÔNG CỘNG CỦA CỘNG HÒA PHÁP

PHN I Các quy định lp pháp

Thiên 1 Các quy định chung

Chương 1 – Tuyên bố lợi ích công cộng, quyết định chuyển nhượng

Điu L.11-1

Chỉ có thể trưng mua một phần hoặc toàn bộ bất động sản hoặc các quyền đối vật trên bất động sản nếu trước đó cơ quan có thẩm quyền đã tuyên bố lợi ích công cộng trên cơ sở kết quả điều tra công khai được tiến hành trước đó, đã tiến hành xác định theo thể thức tranh tụng các bất động sản sẽ trưng mua và chủ sở hữu của các bất động sản đó, những người có quyền đối vật trên bất động sản và những người khác có quyền lợi liên quan.

Việc điều tra trước khi tuyên bố lợi ích công cộng do một ủy viên hoặc một uỷ ban điều tra thực hiện. Phương thức bổ nhiệm và quyền hạn của uỷ viên điều tra hoặc các thành viên của uỷ ban điều tra được quy định tại Chương III, Thiên II Quyển I của Bộ luật về môi trường.

Điều tra viên hoặc ban điều tra phải có kết luận điều tra trong thời hạn tối đa 6 tháng kể từ ngày mở thủ tục điều tra.

Điu L.11-1-1

Trong trường hợp cần trưng mua bất động sản hoặc quyền đối vật trên bất động sản để phục vụ một dự án quy hoạch hoặc dự án xây dựng công trình công cộng theo quy định tại Điều L.123-1 của Bộ luật môi trường, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản kết luận điều tra quy định tại Điều L.11.1 của Bộ luật này để tiến hành công bố dự án theo quy định tại Điều L.126-1 của Bộ luật môi trường như sau:

Continue reading

VĂN BẢN CÔNG CHỨNG Ở CỘNG HÒA PHÁP

 JEAN PAUL DECORPS – Chủ tịch danh dự Hội đồng Công chứng tối cao Pháp

Văn bản công chứng là một công cụ đảm bảo an toàn pháp lý cho hợp đồng, nói rộng hơn là một công cụ góp phần phục vụ Nhà nước pháp quyền hiện đại.

Để định nghĩa văn bản công chứng, tôi xin nêu hai tiêu chí cơ bản, đó là tính hiệu quả và an toàn của văn bản công chứng.

Hiệu quả của văn bản công chứng xuất phát từ những đặc trưng và phạm vi áp dụng của loại văn bản này.

Những đặc trưng chính của văn bản công chứng

Có những đặc trưng gắn liền với điều kiện ký văn bản công chứng, có những đặc trưng khác gắn với hệ quả của việc ký văn bản công chứng.

Có 3 điều kiện để ký văn bản công chứng

Thứ nhất, các bên đương sự phải có mặt trước công chứng viên. Điều đó cho phép kiểm tra được căn cước của các bên ký kết, năng lực pháp lý, thẩm quyền của các bên.

Continue reading

VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA VIỆN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ TRƯỚC TÒA ÁN THƯƠNG MẠI TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 JEAN-JACQUES BOSC – Viện trưởng Viện Công tố Bên cạnh Tòa Sơ thẩm thẩm quyền rộng HAVRE, Cộng hòa Pháp

1. Vai trò, vị trí của Viện công tố trong tố tụng dân sự

a) Trong lĩnh vực dân sự cũng như trong lĩnh vực hình sự, vai trò quan trọng nhất của Viện công tố là đại diện cho lợi ích chung và bảo vệ trật tự công. Với vai trò đó, Viện công tố có thể tham gia vào các vụ án dân sự. Bộ luật tố tụng dân sự mới của Cộng hòa Pháp quy định : “Viện công tố mặc nhiên tham gia tố tụng trong những trường hợp do pháp luật quy định” (Điều 422). Điều luật này dẫn chiếu đến những quy định đặc biệt của pháp luật, đó là những quy định cho phép Viện công tố được hành động.

“Ngoài những trường hợp đó, Viện công tố có quyền can thiệp để bảo vệ trật tự công khi có những hành vi xâm phạm trật tự công” (Điều 423).

Viện công tố có thể tham gia tố tụng dân sự dưới hai hình thức: tham gia với tư cách là một bên chính tố (tức bên đương sự) hoặc với tư cách là bên phụ tố.

b) Với tư cách là bên chính tố, Viện công tố tự mình khởi kiện vụ án dân sự. Trong trường hợp này, Viện công tố là một bên đương sự thông thường trong vụ án dân sự và có đầy đủ những nghĩa vụ như các bên khác. Ví dụ, Viện công tố có thể khởi kiện để yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật hoặc yêu cầu dỡ bỏ một công trình xây dựng không có giấy phép. Đây là những trường hợp có tranh chấp trong đó có một bên là bị đơn. Với tư cách là bên chính tố, Viện công tố cũng có thể là bị đơn.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG YẾU THẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐÀI LOAN

 NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

NGUYỄN TIẾN ĐẠT – Học viện Chính sách và Phát triển

1. Khái niệm “người tiêu dùng yếu thế” trong quan hệ tiêu dùng

Mặc dù, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc UNESCO từng phân tích: “Tính dễ bị tổn thương là một phần của điều kiện của con người; một số người có thể nói rằng những tổn thương đó khiến chúng ta ‘con người’ hơn. Không ai là không bị tổn thương…”[1]. Điều này cho thấy bất cứ chủ thể nào không chỉ riêng người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng đều phải đối mặt với những rủi ro bị tổn thương. Nhu cầu bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng xuất hiện từ khi khái niệm “hợp đồng” chính thức được quy định trong luật pháp thời kỳ La Mã. Ví dụ, nguyên tắc thiện chí bona fides của Tòa án; cơ chế exception doli để giải phóng nghĩa vụ cho con nợ hay các quy định bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong Luật 12 bảng… Trong pháp luật hiện đại, mỗi chủ thể trong các quan hệ pháp luật khác nhau sẽ được đặc trưng bởi những rủi ro bị tổn thương khác nhau, và người tiêu dùng là một chủ thể như vậy. Khái niệm “nhóm yếu thế” (tiếng anh: Disadvantaged groups) thường được sử dụng để nói về một nhóm người đặc trưng bởi những rủi ro cao hơn về sự nghèo đói, loại trừ khỏi xã hội, sự phân biệt và bị bạo lực hơn so với cư dân bình thường khác. “Nhóm yếu thế” trong luật quốc tế bao gồm nhưng không giới hạn tới những dân tộc thiểu số, người di cư, người khuyết tật, người bị cách ly khỏi xã hội và trẻ em [2]. Tuy nhiên, so sánh với những rủi ro pháp lí mà người tiêu dùng phải đối diện khi tham gia quan hệ tiêu dùng, Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff đã đặt ra một câu hỏi về vấn đề này, rằng: “Liệu người tiêu dùng có phải là một nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương” [3]. Câu hỏi này đã được Tổ chức Consumer Affairs Victoria (Autralia) trả lời khi đưa ra định nghĩa về “Người tiêu dùng yếu thế” được hiểu là “những người có thể dễ dàng hoặc nhanh chóng bị thiệt hại trong quá trình tiêu dùng, tính dễ bị tổn thương phát sinh từ những đặc điểm của thị trường đối với một sản phẩm cụ thể, hoặc các thuộc tính hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó khi quyết định tiêu dùng hoặc việc theo đuổi biện pháp khắc phục cho bất kỳ thiệt hại nào họ phải chịu, hoặc sự kết hợp của những điều này” [4].

Continue reading

CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA TOÀ ÁN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH CỦA PHÁP

 JACQUELINE RIFFAULT-SILK – Chánh toà Toà án Phúc thẩm Paris

Phần mở đầu

Pháp lệnh ngày 1 tháng 12 năm 1986[1] đã phi hình sự hoá các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Pháp và thành lập ra một cơ quan hành chính độc lập, gọi là Hội đồng Cạnh tranh, có nhiệm vụ chủ yếu là xử lý dưới hình thức phạt tiền hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp, dưới sự kiểm tra, giám sát của Toà án Phúc thẩm Paris.

Theo quy định tại Điều L.410-1 Bộ luật Thương mại[2], Hội đồng Cạnh tranh có thẩm quyền đối với “tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối và dịch vụ, bao gồm cả hoạt động của các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, đặc biệt là các hoạt động trong khuôn khổ hợp đồng uỷ thác dịch vụ công”. Giống như Uỷ ban Châu Âu có thẩm quyền xử lý các vụ việc cạnh tranh được thực hiện trên phạm vi Liên minh châu Âu, Hội đồng Cạnh tranh xét xử các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trên một thị trường và xử lý các doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm đó.

Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan duy nhất có thẩm quyền chung điều tiết thị trường, trong đó có thẩm quyền cưỡng chế và thẩm quyền xử phạt. Đây là điểm khác biệt của Hội đồng Cạnh tranh so với các toà án có thẩm quyền chung theo quy định của pháp luật, dù là toà án tư pháp hay toà án hành chính. Các toà án này, khi thụ lý giải quyết tranh chấp giữa các lợi ích tư theo quy định pháp luật quốc gia và/hoặc pháp luật cộng đồng về cạnh tranh thì sẽ xem xét tính hợp pháp của hợp đồng hoặc văn bản bị khiếu kiện, huỷ hợp đồng hoặc văn bản đó, buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 1382 Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc buộc chấm dứt hành vi vi phạm. Continue reading

NHÂN ĐỌC BÀI: “TRƯỜNG VIỆT – ÚC GỬI THÔNG BÁO TỪ CHỐI 40 HỌC SINH”

LS. VÕ ĐỨC DUY – Trưởng điều hành chi nhánh Việt Nam, Công ty Luật Santa Lawyers (Hoa Kỳ)

Vấn đề Trường Việt Úc gửi thư đến 40 phụ huynh thông báo ngừng nhận con em của họ, dư luận có 2 luồng ý kiến, có bên cho rằng nhà trường không có quyền cấm học sinh đi học tại trường này, có bên cho là phụ huynh đã sai khi không chịu mức học phí của trường này đưa ra …

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả có những phân tích và ánh nhìn theo góc độ pháp lý như sau :

Việt Úc theo mô hình quốc tế, nên nếu tham chiếu theo common laws ( hệ thống thông luật ), comparaive laws ( luật so sánh) và những common senses ( những lẽ thường và đạo lý ở đời ) theo văn hóa của người phương Đông.

Thứ nhất: Trong đạo luật về dân sự của các quốc gia có chính thể liên bang ( như Mỹ, ÚC, Canada , etc…) có qui định “ We reserve the right to refuse services to anyone” ( hiểu trong ngữ cảnh này là: điều khoản qui định họ ( bên cung ứng ) có quyền từ chối phục vụ khách hàng, dù có thể là Khách hàng mới và/hoặc trước đó đã ký hợp đồng với Khách hàng, nhưng trong quá trình thực hiện công việc, Khách hàng đã không hợp tác, không trung thực, gây khó dễ cho bên cung cấp, v.v…, đành buộc họ dựa vào điều khoản này mà ngưng và từ chối phục vụ Khách hàng ( dù trên thế gian này bất kỳ một business nào cũng đều cần Khách hàng)1.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 108/BC-BXD NGÀY 28 THÁNG 8 NĂM 2019 CỦA BỘ XÂY DỰNG TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT XÂY DỰNG (Được bổ sung tại Báo cáo số 138/BC-BXD ngày 16 tháng 10 năm 2019)

Bối cảnh và một số yêu cầu sửa đổi, bổ sung

Trong thực tiễn triển khai thực hiện Luật Xây dựng năm 2014 đã xuất hiện một số vướng mắc, hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Luật như:

– Một số quy định về nội dung, phạm vi, thẩm quyền thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước, người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn về công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế chưa phù hợp với nguyên tắc: cơ quan quản lý nhà nước chỉ kiểm soát nội dung thuộc chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, kiểm soát sự phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, phương pháp tính định mức đơn giá của các dự án. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn phải tự chịu trách nhiệm về các nội dung cụ thể của dự án, thiết kế xây dựng.

– Nội dung, thẩm quyền thẩm định thiết kế xây dựng và cấp giấy phép xây dựng còn có một số điểm trùng lặp; điều kiện cấp giấy phép xây dựng chưa phù hợp với một số loại công trình; thời gian cấp giấy phép xây dựng còn dài.

– Việc thành lập, vận hành Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực đối với một số trường hợp khó thực hiện.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TRONG THỦ TỤC THỪA KẾ

I. Những lý do chính của sự can thiệp của công chứng viên vào thủ tục thừa kế

1. Trước hết, việc thừa kế là cả một thủ tục phức tạp

Không phải cứ tuyên bố là người thân ruột thịt của người đã chết là có thể được công nhận quyền thừa kế. Người thừa kế phải chứng minh được tư cách là người thừa kế và phải yêu cầu công chứng viên lập một giấy chứng nhận theo lời khai của hai nhân chứng hoặc một biên bản kê khai. Chỉ khi nào khối tài sản thừa kế không lớn lắm, chẳng hạn như chỉ bao gồm bất động sản của người để lại di sản và tiền gửi ngân hàng thì mới có thể không cần đến văn bản công chứng. Trong trường hợp này, và với điều kiện là tình huống pháp lý thật đơn giản (chẳng hạn như khi không có chúc thư) thì có thể chỉ cần một giấy chứng nhận theo lời khai của nhân chứng hoặc một giấy chứng nhận quyền thừa kế do thị trưởng hoặc lục sự của tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp lập.

Ngược lại, nếu có một di chúc viết tay do người lập di chúc viết hoặc đọc cho người khác viết và di chúc này được trình cho công chứng viên để niêm phong và xác nhận trước sự chứng kiến của hai nhân chứng thì sau khi người lập di chúc chết, di chúc đó phải được trao lại cho công chứng viên. Khi đó, công chứng viên sẽ mở di chúc, lập biên bản về việc mở di chúc trong đó có ghi rõ hoàn cảnh nhận và mở di chúc. Tiếp đó, công chứng viên có nhiệm vụ lưu giữ di chúc và biên bản mở di chúc vào số các văn bản gốc của mình. Trong tháng diễn ra việc lập biên bản mở di chúc, công chứng viên có nghĩa vụ chuyển đến cho lục sự của tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng tại nơi mở thủ tục thừa kế bản sao (thường là bản photocopie) của biên bản nói trên và của di chúc.

Continue reading

THẾ KỶ CHÂU Á ĐANG GẶP HIỂM HỌA

 LÝ HIỂN LONG – Thủ tướng Singapore (Người dịch: Trần Ngọc Cư)

“Trong những năm gần đây, người ta nói rằng thế kỷ tiếp theo sẽ là thế kỷ của Châu Á và Thái Bình Dương, như thể đó là điều chắc chắn. Tôi không đồng ý với quan điểm này.” Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lập luận đó với Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi vào năm 1988. Hơn 30 năm sau, Đặng tỏ ra đã biết trước. Sau nhiều thập kỷ thành công về kinh tế, châu Á ngày nay là khu vực phát triển nhanh nhất thế giới. Trong thập kỷ này, các nền kinh tế châu Á sẽ trở nên lớn hơn so với phần còn lại của các nền kinh tế thế giới cộng lại, một điều chưa từng có từ thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, cảnh báo của Đặng vẫn còn giá trị: một thế kỷ châu Á vừa không phải là điều tất yếu vừa không thể định trước được.

Châu Á đã phát triển thịnh vượng nhờ Pax Americana [nền hoà bình do Mỹ thiết lập] tồn tại từ cuối Thế chiến II, đã cung cấp một bối cảnh chiến lược thuận lợi. Nhưng bây giờ, mối quan hệ đầy khó khăn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc về tương lai Châu Á và hình dạng của một trật tự quốc tế đang xuất hiện. Các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm cả Singapore, đặc biệt quan tâm, vì họ sống ở giao điểm lợi ích của nhiều cường quốc khác nhau và phải tránh bị mắc kẹt giữa hoặc bị ép buộc vào những lựa chọn làm mất lòng phe này hoặc phe khác.

Nguyên trạng ở Châu Á chắc chắn phải thay đổi. Nhưng liệu cấu hình mới sẽ cho phép khu vực này thành công hơn nữa hoặc mang lại sự mất ổn định nguy hiểm? Điều đó phụ thuộc vào các lựa chọn mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đưa ra, riêng biệt và cùng nhau. Hai cường quốc phải xây dựng một thoả ước chung sống hòa bình, modus vivendi, theo đó họ sẽ cạnh tranh trong một số lĩnh vực mà không cho phép sự cạnh tranh này gây độc hại cho sự hợp tác ở các lãnh vực khác.

Continue reading

HỢP ĐỒNG MUA BÁN SẢN NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Khi bên bán và bên mua đã đạt được thỏa thuận về giao dịch đối với một tài sản, họ vẫn cần phải thực hiện nhiều thủ tục nữa trước khi quyền sở hữu đối với tài sản đó chính thức được chuyển giao cho bên mua và được ghi nhận trên thực tế.

Sau đây là một vài thủ tục trong quá trình đó, được xem xét chủ yếu dưới góc độ thực tiễn:

– Ký kết “hợp đồng sơ bộ” (I)

– Lập hồ sơ mua bán (II)

– Ký kết hợp đồng mua bán và hoàn tất các thủ tục (III)

– Thanh toán các chi phí của giao dịch (IV)

I. Ký kết hợp đồng sơ bộ

Trước khi đề nghị công chứng viên hợp pháp hóa giao dịch mua bán, các bên thường thỏa thuận ký kết hợp đồng sơ bộ.

Continue reading

ĐỌC CÔNG TRÌNH CỦA THOMAS PIKETTY: TƯ BẢN THẾ KỶ XXI

NGUYỄN QUANG (Nguyễn Ngọc Giao dịch từ bản tiếng Pháp: “Le Capital au 21ème siècle de Thomas Piketty”, Nguyễn Đôn Phước và Trần Hải Hạc hiệu đính)

Trái ngược với mọi dự đoán, năm nay cuốn sách best-seller ăn khách nhất thế giới lại là một cuốn sách về kinh tế học chính trị dầy cộm và chi chít những bảng số và biểu đồ. Bản in tiếng Pháp gần một nghìn trang, cộng thêm khoảng một trăm trang phụ lục kỹ thuật công bố trên mạng, hiện nay đã được dịch ra 25 thứ tiếng. Bản tiếng Pháp đã bán được 120 000 cuốn, đứng đầu loại sách tài liệu – tiểu luận; bản tiếng Anh 450 000 cuốn: trong mấy tuần lễ liền, đó là tác phẩm bán chạy nhất so với tất cả các loại sách, kể cả cuốn Game of Thrones! Song song với thành công về xuất bản, là cuộc “lưu diễn” rất ư là siêu sao nhạc rock của tác giả tại các trường đại học lớn nhất nước Mỹ, giảng đường nào cũng chật ních, với những lời ca ngợi của những giải Nobel kinh tế học (Krugman, Solow, Stiglitz), và cũng như Alexis de Tocqueville (Về nền dân chủ Mỹ), Thomas Piketty đã được mời tới Nhà Trắng. Do tính kỹ thuật giả định của tác phẩm (về tư bản đầu thế kỷ XXI) và sự khô khan (cũng) giả định của luận đề cơ bản (là sự tái hiện những bất bình đẳng xã hội ở thế kỷ XXI), có thể nói không ngoa rằng cái mốt “pikettymania” quả là một hiện tượng trí thức của thập niên này. Có lẽ đây chuyện Zeitgeist – tinh thần của thời đại – có sự trùng hợp giữa tác phẩm và tâm trạng xã hội của thời đại: với cuộc khủng hoảng 2008 và những hậu quả của nó, trước những quá trớn của chủ nghĩa tư bản tài chính và sự bất cẩn của một tập đoàn tài phiệt thiểu trị, người dân bình thường cảm thấy một cách mơ hồ mà sâu đậm rằng sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng, đe dọa phá vỡ “khế ước xã hội” của nền dân chủ. Điều này không hề làm suy suyển chất lượng tác nghiệp của một công trình nghiên cứu đã phân tích tới mức cạn kiệt (khiến người đọc cũng kiệt lực luôn) sự bùng phát những bất bình đẳng về tài sản và thu nhập diễn ra trong 25 năm cuối của thế kỷ XX ở các nước phát triển, với nguy cơ đưa thế kỷ XXI quay trở lại tình trạng man rợ của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ XIX. Đối với nhiều người, đây là một sự phát hiện. Thậm chí Bill Moyers, một nhà báo Mỹ, còn dùng danh từ epiphany, tức là sự linh hiện, mặc khải theo nghĩa tôn giáo!

Continue reading

KỸ NĂNG CHUẨN BỊ HỒ SƠ BÁN BẤT ĐỘNG SẢN

clip_image002Sau khi ký hợp đồng sơ bộ, công chứng viên phải chuẩn bị hồ sơ bán bất động sản.

Công chứng viên phải tiến hành xác minh những vấn đề cơ bản sau đây trước khi hợp thức hoá một hợp đồng mua bán bất động sản theo thoả thuận.

Các vấn đề cần xác minh được trình bày theo nhóm như sau:

– Năng lực và quyền hạn của các bên (I)

– Bất động sản là đối tượng của hợp đồng (II)

– Giá trị hợp đồng (III)

– Thuế (IV).

I. Năng lực của các bên

Công chứng viên phải xác minh năng lực của các bên.

Các quy định của Bộ luật Dân sự về năng lực của các bên trong hợp đồng được áp dụng đối với trường hợp mua bán bất động sản.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA TỪ GÓC NHÌN PHÁP LUẬT SO SÁNH

TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

1.1. Khái niệm năng lực chịu trách nhiệm

Trong pháp luật dân sự, về nguyên tắc, một chủ thể pháp luật khi thực hiện hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với những tổn thất do mình gây ra cho người bị hại. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi xâm hại không có khả năng nhận thức nhất định về hành vi do mình thực hiện thì không phải chịu trách nhiệm BTTH. Khả năng nhận thức về hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được khoa học pháp lý luật dân sự gọi là: “Năng lực chịu trách nhiệm BTTH”. Như vậy, “năng lực chịu trách nhiệm” như một điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, và thông thường, nghĩa vụ lập chứng sẽ thuộc về bị đơn. Điều này có nghĩa rằng, khi bị đơn chứng minh mình không có năng lực chịu trách nhiệm thì không thể cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với bị đơn, cho dù tồn tại đầy đủ điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

1.2. Mối quan hệ giữa năng lực chịu trách nhiệm và chủ thể BTTH là người chưa thành niên trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

Điều 712 của Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân. Điều đó có nghĩa rằng, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi do mình thực hiện thì người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm BTTH thay thế của cha mẹ/người giám hộ.

Continue reading

Những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay và MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

PGS.TS. TRẦN THỊ MINH THI – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, đình, Viện HLKHXH Việt Nam

Trước tác động của bối cảnh mới hiện nay, các giá trị gia đình Việt Nam đang có những biến đổi nhất định cần được nhận biết, đánh giá, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào thành công của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

Xu hướng biến đổi giá trị đạo đức, tâm lý và tình cảm của gia đình Việt Nam đương đại

Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Gia đình là giá trị quan trọng hàng đầu

Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị (Biểu 1). Khái niệm gia đình ở đây là mô hình gia đình truyền thống được xây dựng trên cơ sở hôn nhân.

Continue reading

MỘT XÃ HỘI LẬP NGHIỆP CẦN MỘT NHÀ NƯỚC LẬP NGHIỆP

TS. MARIANA MAZZUCATO – Đại học London (Khi viết bài này, bà là giáo sư kinh tế tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh). Nguyễn Trịnh Đôn dịch

Tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo có thể làm được những điều không tưởng hiện đang thách thức chủ nghĩa tư bản hiện đại: làm cách nào để tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và kéo dài trên nền tảng những công việc lương cao và đem lại giá trị lớn. Đây là cốt lõi của xã hội lập nghiệp (entrepreneurial society) và là một mục tiêu tốt. Vấn đề là làm sao đạt được mục tiêu đó.
Dù nhiều nước đã đề ra mục tiêu này, nhưng con số những nơi thực hiện được vẫn còn khiêm tốn. Lý do của khó khăn này nằm ở những hiểu lầm phổ biến về cách thức đạt được tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo (innovation) trước đây. Cách hiểu sai này khiến việc đề ra chính sách bị đưa theo những lối lập luận sai vốn cho rằng các nhà lập nghiệp và công ty cá nhân là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Nếu không bị thách thức, những lập luận này sẽ đưa đến những chính sách gây cản trở và lối phân phối thành quả không phản ánh sự phân bố rủi ro trên thực tế.

Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp (entrepreneurial state), một nhà nước mà thông qua tầm nhìn cùng những đầu tư công chiến lược phân bố khắp chuỗi đổi mới sáng tạo có thể tạo ra cái tinh thần động vật (animal spirit)1 ở các doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nhân lập nghiệp (entrepreneur) từ đó sẽ nhìn thấy các cơ hội tăng trưởng, rồi đầu tư sẽ diễn ra.

Continue reading

XỬ LÝ HỒ SƠ TRONG LĨNH VỰC CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

CHANTAL ARENS – Thẩm phán, Chánh án Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng EVREUX, Toà Phúc thẩm ROUEN

I. Cạnh tranh không lành mạnh

Tự do kinh doanh là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật Pháp. Nhưng cũng có những giới hạn nhất định đối với các hành vi do các đối thủ cạnh tranh khác nhau thực hiện để đạt được mục đích của mỗi người. Việc kiếm soát các hành vi này đã dẫn đến sự ra đời của lý thuyết về cạnh tranh không lành mạnh vốn không phải là hệ quả của các văn bản luật mà chủ yếu từ các học giả và án lệ.

Pháp luật áp dụng đối với việc cạnh tranh không lành mạnh là pháp luật của Quốc gia nơi sự việc gây thiệt hại đã xảy ra.

1. Cơ sở của quyền khởi kiện chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Án lệ đã căn cứ vào các điều 1382 và 1383 của Bộ luật dân sự[1] để cho phép kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nghĩa là áp dụng nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định chung của pháp luật.

Tranh chấp thường có tính chất thương mại, nên các phương thức chứng minh là tự do và chứng cứ có thể được đưa ra bằng bất kỳ cách nào.

Quyền khởi kiện được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện chung được áp dụng trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa là phải có lỗi, có thiệt hại và quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại.

Lỗi có thể là lỗi cố ý hay vô ý.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI THỎA THUẬN VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Điều L.420-6 Bộ luật thương mại Pháp có quy định cho phép xử lý hình sự đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Điều luật này cũng quy định chế tài hình sự đối với các thỏa thuận trái pháp luật, trên cơ sở dẫn chiếu trực tiếp đến Điều L.420-1 của cùng Bộ luật đó.

Thế nào là một thỏa thuận trái pháp luật?

Bản thân các quy định tại Điều L.420-1 Bộ luật thương mại đã đưa ra lời đáp cho câu hỏi trên, đồng thời cũng xác định luôn mục đích của việc xử lý hình sự đối với hành vi này.

Thỏa thuận trái pháp luật là một thỏa thuận nhằm mục đích làm sai lệch quy luật cạnh tranh, cản trở cạnh tranh trên một thị trường nhất định. Đó chủ yếu là những thỏa thuận nhằm:

– Hạn chế các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường hoặc tự do tham gia cạnh tranh;

– Cản trở việc tự do xác định giá cả theo quy luật thị trường bằng cách tạo ra sự tăng giá hoặc giảm giá một cách giả tạo;

Continue reading

VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY

PGS-TS. ĐINH CÔNG TUẤN – Viện nghiên cứu châu Âu

1. Chiến lược toàn cầu, châu Á – Thái Bình Dương của Trung Quốc hiện nay

Gần 100 năm qua kể từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) và hơn 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949), mục tiêu chiến lược của TQ không hề thay đổi, đó là xây dựng TQ trở thành cường quốc số 1 lãnh đạo thế giới. Sau Đại hội XVII Đảng Cộng sản TQ (2012), TQ đã vươn lên đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về quy mô nền kinh tế, GDP đạt 2100 tỷ USD. TQ đã đưa ra lý luận về việc "phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa", xây dựng "Giấc mộng Trung Quốc" với 2 mục tiêu có tính tiêu chí: "2 mục tiêu 100 năm" (Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1921-2021) nhằm xây dựng xã hội khá giả toàn diện (thoát nghèo, xây dựng xã hội trung lưu) và kỷ niệm 100 năm thành lập nước (1949-2049) xây dựng thành công Nhà nước TQ hiện đại hóa XHCN, văn minh, dân chủ, giàu mạnh, hài hòa (TQ vững mạnh, trở thành cường quốc, lãnh đạo thế giới). Đến sau Đại hội XIX (2017) TQ đưa ra 3 mục tiêu đến năm 2049, 2 mục tiêu đã nêu trong Đại hội XVII (2012) không hề thay đổi, chỉ bổ sung thêm mục tiêu đến năm 2035 xây dựng TQ trở thành cường quốc khu vực châu Á – Thái Bình (CA – TBD). Về chiến lược toàn cầu thì đã rõ ràng. Còn về chiến lược của TQ tại khu vực CA-TBD thì sách trắng của TQ công bố ngày 10/01/2017 đã đưa toàn bộ nội dung bao gồm 6 phần như sau: 1) Chủ trương chính sách của TQ đối với sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD; 2) Ý tưởng an ninh ở khu vực CA-TBD của TQ; 3) Mối quan hệ giữa TQ với những nước chủ yếu trong khu vực CA-TBD; 4) Lập trường và chủ trương của TQ về các vấn đề nóng trong khu vực; 5) TQ tham gia cơ chế đã biên trong khu vực;  6) TQ tham gia hợp tác an ninh phi truyền thống trong khu vực CA-TBD[1].

Continue reading