DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RIÊNG LẺ

CHÍNH PHỦ

Số: /2008/NĐ-CP

Dự thảo

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 2008

NGHỊ ĐỊNH

Về chào bán cổ phần riêng lẻ

clip_image003

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần thành lập và hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài không được chào bán cổ phần trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VN?

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Việc lãi suất liên ngân hàng hiện đang có xu hướng tăng sau khi các NHTM trong nước thực hiện cơ chế “đồng thuận” do sáng kiến của Hiệp Hội NH hạ lãi suất huy động xuống không quá 11%/ năm và USD là 6%/năm đã không thu hút được tiền vào và buộc phải tăng theo “trần” được khuyến cáo bằng công điện hồi đầu tháng 3 của NHNN ở mức 12%/năm mà vẫn đang huy động một cách khó khăn!…Cho thấy các NHTM vẫn thiếu tiền mặt khá nghiêm trọng, trong khi thị trường Chứng khoán (TTCK) vẫn chưa chứng tỏ được “sứ mệnh” là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, tiền đồng trong lưu thông vẫn rất nhiều, biểu hiện qua lạm phát sau tháng 4 đã lên tới 11,39% so cuối năm 2007 và 21% so với cùng kỳ… Đây là những biểu hiện rất rõ về sự không bình thường trong thị trường tài chính VN (TTTC VN).

Từ những bức xúc nói trên, một trong vô số những vấn đề cần có giải pháp để cải thiện tình hình là câu hỏi: TTCK VN đang đi về đâu, giải pháp nào để nó đảm đương được “sứ mệnh” mà nền kinh tế đang “thừa tiền”, nhưng rất đói vốn đang trông chờ? Tôi cho rằng trong TTTC có 2 thị trường bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn phải luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mối quan hệ mấu chốt nhất là quan hệ giữa TTCK (lõi của thị trường vốn) với thị thị trường tín dụng ngắn hạn (lõi của thị trường tiền tệ)! Tuy nhiên, vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan mà ở Việt Nam mối quan hệ được xem là “mấu chốt” này vẫn tỏ ra rời rạc, thậm chí như đã từng nói là “gắn bó ngược”! Đây cũng là nguyên nhân giải thích vì sao chỉ trong vòng 1 năm kể từ 17/3/2007, chỉ số VN-Index đã từng đạt 1170 điểm, nay tụt xuống chỉ còn 512 điểm, giảm tới 56,2%! Đặc biệt tổng giá trị giao dịch cũng giảm mạnh từ xung quanh 1200 tỷ đ/ngày, xuống còn xung quanh 300tỷ đ/ngày!

Continue reading

REPO CHỨNG KHOÁN?

Một hoạt động nghiệp vụ trên TTCK mà UBCK đang nghiên cứu là giao dịch repo (còn được biết đến dưới các từ RPs hay repos). Giao dịch repo tuy không mới đối với tổ chức tài chính nhưng vẫn còn lạ lẫm với nhiều nhà đầu tư trên TTCK.

Repo chứng khoán là gì?

Giao dịch repo là giao dịch mua/bán lại chứng khoán có kỳ hạn được sử dụng trên thị trường tài chính. Đây là loại hình giao dịch mà nhà đầu tư có thể mua và bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu…) của chính mình trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định với CTCK. Hiểu một cách đơn giản, giao dịch repo là việc nhà đầu tư đi vay tiền và dùng chứng khoán để thế chấp.

Repo là nghiệp vụ phái sinh từ các nghiệp vụ cho vay có đảm bảo (hay nghiệp vụ cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay có bảo đảm bằng chứng khoán). Khi nhà đầu tư có nhu cầu về vốn trong thời gian nhất định, mà không muốn bán chứng khoán của mình, nhà đầu tư có thể ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn (repo) với CTCK, trong đó cam kết sẽ mua lại số lượng chứng khoán đã bán này từ CTCK tại thời điểm xác định trong tương lai, với mức giá xác định trước tại thời điểm bán.

Hiện nay, ở Việt Nam, repo là nghiệp vụ do CTCK đưa ra để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu chưa niêm yết, chưa lên sàn; với các cổ phiếu đã niêm yết thì có dịch vụ cầm cố.

Continue reading

TÍNH HIỆU QUẢ CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN – SỰ TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ – ĐHL HÀ NỘI

Ở bất cứ quốc gia nào, tính hiệu quả của pháp luật luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi giới lập pháp cũng như hành pháp. Trong sự vận hành phức tạp của nền kinh tế thị trường và xã hội dân sự, pháp luật luôn giữ vai trò tối thượng nhưng pháp luật cũng sẽ không còn ý nghĩa nếu hệ thống pháp luật đó không thể mang lại những gì được gọi là lợi ích mà con người mong đợi. Khi đó, người ta cho rằng tính hiệu quả của pháp luật đã không đạt được.

Bài viết này hướng tới sự phân tích nhằm làm rõ cơ sở lí luận cũng như các tiêu chí chủ yếu để đo lường tính hiệu quả của Luật chứng khoán từ góc nhìn của một môn khoa học rất mới mẻ, đó là kinh tế học pháp luật.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN: QUÁ TẦM QUẢN LÝ?

VN-Index tăng vọt trong phiên 6/3, ngay sau khi Bộ Tài chính, UBCKNN và các cơ quan liên quan ra tay “cứu” TTCK đã làm nhiều nhà đầu tư hỉ hả vì dẫu sao lời khẩn cầu của họ mấy ngày qua đã bước đầu có hiệu quả. Giới kinh doanh bất động sản (BĐS) cũng chờ một tín hiệu tích cực tương tự sau hàng loạt tiếng kêu cứu thống thiết.

Trong khi đó, còn hàng chục triệu dân thì đang lo lắng chưa biết khi nào cơn bão giá sẽ thôi hoành hành và lạm phát ngừng nhảy qua hai chữ số. Những hình ảnh trái ngược này một lần nữa lại bộc lộ những trái khoáy của “dự báo kém chứ không sai lầm”…

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế mỗi nước. Tình hình sôi động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam, thời gian qua đã phản ánh hiện tượng kinh tế tốt lành. Sự phát triển của TTCK một cách ổn định là tác nhân quan trọng không chỉ cho sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng mà đối với cả nền kinh tế nói chung. 

1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán (TTCK) nước ta mới chính thức hoạt động từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000. Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên. Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD. Vài năm gần đây mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP.

Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có sự gia tăng đáng kể. Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào khoảng 4 tỉ USD. Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yết vào năm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Continue reading

NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN NHẬT

THS. PHAN THỊ THĄNH DƯƠNG –  Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Thị trường vốn, nơi trao đổi các lượng giá trị trung và dài hạn, giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, bởi lẽ nó có thể tạo ra tiền đề vật chất cho quá trình sản xuất – kinh doanh, hình thành nên các giá trị mới cho xã hội. Có hai kênh để huy động các nguồn lực tài chính: gián tiếp thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng và trực tiếp qua thị trường chứng khoán (TTCK). Huy động vốn thông qua TTCK tạo điều kiện cho người đầu tư trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm đối với nguồn vốn của mình, chia nhỏ các rủi ro của quá trình đầu tư, đạt hiệu quả tối ưu trong sử dụng vốn do có sự giám sát của nhà đầu tư. Nhận thức được tầm quan trọng của TTCK đối với quá trình tăng trưởng kinh tế, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để phát triển thị trường này từ những năm 1990 (1). Ở các nước có nền kinh tế phát triển, TTCK đã định hình và phát triển hơn 100 năm qua. Vì thế nghiên cứu, học hỏi cách họ điều chỉnh về TTCK và phát hành chứng khoán là điều cần thiết; đặc biệt là chế định về phát hành chứng khoán vì đây là cơ sở pháp lý tạo ra hàng hóa cho TTCK. Nghiên cứu pháp luật về phát hành chứng khoán của Nhật, nơi có thị trường chứng khoán phát triển ở Châu Á, có lượng hàng chứng khoán da dạng, có điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện địa lý, văn hóa, tập quán mang đậm nét Á Đông, là sự lựa chọn cho việc nghiên cứu trong phạm vi bài viết này.

1. Cơ sở – thời điểm hình thành – xu hướng vận động của pháp luật phát hành chứng khoán Nhật Bản

1.1. Nhật là một quốc đảo ở Châu Á có nền kinh tế phát triển nhất châu lục và đứng trong nhóm những nước phát triển nhất thế giới. Có nhiều nguyên do giải thích cho điều này, nhưng có thể nói đây là một quốc gia có TTCK ra đời sớm nhất so với các nước ở Châu Á, theo nguyên mẫu của trường chứng khoán London, vào năm 18742. Cũng từ đây chỉ số chứng khoán Nikkei nổi tiếng đã hình thành. Điều này cho phép Nhật tập hợp được nguồn lực tài chính hùng mạnh để phát triển thị trường hàng hóa, tạo cơ sở cho sự lớn mạnh của toàn bộ nền kinh tế.

1.2. Văn bản pháp lý đầu tiên của Nhật điều chỉnh về chứng khoán là Pháp lệnh về giao dịch cổ phiếu 1874 (The Stock Transaction Ordinance of 1874) mô phỏng theo các quy định thị trường giao dịch chứng khoán London. Từ cơ sở pháp lý này, Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Nhật được mở tại Tokyo và Osaka vào năm 1878. Các công ty chứng khoán bắt đầu kinh doanh bằng việc mua bán trái phiếu chính phủ và sau đó là cổ phiếu. Tuy nhiên TTCK Nhật không thể đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn phát triển kinh tế như vũ bão lúc ấy, bởi lẽ ở Nhật tồn tại những tập đoàn kinh doanh (Zaibatsu) là lực lượng chủ yếu thao túng nền sản xuất. Nhưng Zaibatsu lại không cần dựa vào TTCK để huy động vốn. Cổ phiếu của những tập đoàn này do công ty mẹ và ngân hàng – là thành viên cuả tập đoàn – nắm giữ. Vì thế cổ phiếu trong thời gian này có mặt trên thị trường với số lượng rất khiêm tốn. Điều đó dẫn đến tình trạng đầu cơ do thị trường bị những người mua bán cổ phiếu thao túng, đặc biệt là thông qua giao dịch tương lai3.

1.3. Sau chiến tranh thế giới thứ II, lực lượng đồng minh đặt ra yêu cầu Nhật phải thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế. Cùng với sự tan rã của các tập đoàn kinh tế, cổ phiếu do các công ty đã đến tay công chúng. Số lượng nhà đầu tư nhỏ nhanh chóng gia tăng và chiếm đến 70% ở thời điểm này. Tuy nhiên ngay sau đó tỉ lệ phần trăm các nhà đầu tư cá nhân giảm liên tục do vấn đề thông tin nội bộ tiếp tục bị thao túng.

1.4. Vào 1947 Luật Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Securities and Exchange law) được thông qua. Luật này nhanh chóng thay thế cho các quy định khác trước đó. Nó được xây dựng theo nguyên mẫu cuả Luật Chứng khoán Mỹ 1933 và Luật về sở giao dịch chứng khoán 1934.4 Ủy ban chứng khoán (the Securities and Exchange Commission) được thành lập theo quy định cuả pháp luật Nhật cũng tương tự như cơ quan SEC cuả Mỹ. Sở giao dịch chứng khoán theo quy định mới được tổ chức lại và đi vào hoạt động năm 1949.

Theo văn bản này, Nhật đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản cho việc điều hành TTCK, đó là: thứ nhất, mọi giao dịch chứng khoán phải được đăng ký ở nơi giao dịch; thứ hai, giao dịch chứng khoán phải tập trung ở Sở giao dịch; thứ ba, không cho phép thực hiện giao dịch tương lai.5

1.5. Năm 1971, Nhật tiến hành quốc tế hóa TTCK Nhật bằng cách cho phép tự do phát hành trái phiếu bằng đồng Yên Nhật ra nước ngoài, dỡ bỏ quy định cấm đầu tư chứng khoán nước ngoài. Việc cấm phát hành trái phiếu công ty được tháo gỡ. Lúc này, trái phiếu không bảo đảm được phát hành nhiều hơn, còn trái phiếu có bảo đảm thì được các công ty phát hành rộng rãi.

1.6. Hoàn chỉnh định nghĩa chứng khoán theo Luật Chứng khoán được xem là sự sửa đổi bổ sung quan trọng nhất trong những lần sửa đổi bổ sung Luật Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên việc sửa đổi này vẫn chưa được xem là đầy đủ vì không có quy định cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chuyển vốn khỏi thị trường Nhật. Lần đổi mới năm 1998 – 1999, Luật Chứng khoán thứ hai ra đời với hàng loạt những điểm sửa đổi, bổ sung. Nhật bãi bỏ Ủy ban chứng khoán và giao quyền giám sát giao dịch chứng khoán cho Bộ Tài chính (Ministry of Finance). Lần sửa đổi bổ sung này bao gồm việc thay đổi các nội dung từ hệ thống cấp phép cho đến hệ thống đăng ký phát hành chứng khoán, tự do xác định phí môi giới. Đến nay có 34 văn bản về kinh doanh chứng khoán được hướng dẫn bổ sung điều chỉnh về các vấn đề này.6

1.7. Từ khi Luật về chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán ở Nhật ra đời, đến nay về cơ bản đã có nhiều lần sửa đổi bổ sung, chưa kể số lượng văn bản dưới luật góp phần điều chỉnh lĩnh vực này. Tất cả những nỗ lực ấy thể hiện khuynh hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán; chú trọng đơn giản hóa thủ tục phát hành, điều phối thị trường, quan tâm đến chất lượng và thông tin về chứng khoán được phát hành hơn là siết chặt quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính. Đặc biệt khuynh hướng mở rộng thị trường phát hành ra ngoài lãnh thổ Nhật với mong muốn tìm thêm nhiều nguồn tài chính từ nước ngoài.

1.8. Pháp luật phát hành chứng khoán của Việt Nam nói riêng và pháp luật về chứng khoán ra đời trong bối cảnh hoàn toàn không như ở Nhật; không những thế chậm so với Nhật hơn 100 năm. Điều này xuất phát từ điều kiện khách quan của xã hội Việt Nam dẫn đến nền kinh tế của chúng ta thời gian dài dậm chân tại chỗ, không có nhu cầu nội tại cũng như cơ chế pháp lý để tạo cơ sở cho sự ra đời của các yếu tố chứng khoán. Khác với Nhật, pháp luật chứng khoán và phát hành chứng khoán là sự ghi nhận khách quan những yêu cầu của đời sống xã hội, thì ở Việt Nam đây lại là tiền đề cho những quan hệ về phát hành chứng khoán ra đời vào năm 1998 và thực sự có những dấu hiệu tích cực vào năm 2000. Được như vậy, Việt Nam đã phải thực hiện rất nhiều động thái để kích cung và cầu chứng khoán. Với thời gian ngắn ngủi, con số các văn bản điều chỉnh về chứng khoán cũng đã lên đến hàng chục văn bản.7 Tuy nhiên, pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới là tạo cơ chế pháp lý cho phép các quan hệ chứng khoán và đặc biệt là quy chế pháp lý về phát hành chứng khoán Việt Nam phải được xây dựng vận hành theo đúng quy luật của thị trường.

2. Các loại chứng khoán và chủ thể được phép phát hành

2.1. Chứng khoán theo Luật Nhật bao gồm cả chứng chỉ ghi nợ (depository receipts – DRs) và những sản phẩm tài chính khác. Điều 2, Luật Chứng khoán & Sở giao dịch chứng khoán ghi nhận, chứng khoán gồm các loại:

– Trái phiếu chính phủ,

– Trái phiếu chính quyền điạ phương,

– Trái phiếu công ty hoặc pháp nhân có bảo đảm hoặc không có bảo đảm,

– Cổ phiếu, chứng nhận vốn đầu tư, chứng nhận quyền ưu tiên mua trước,

– Chứng chỉ nợ,

– Bản cam kết cho mục đích tài chính do công ty phát hành hoặc được chính phủ bảo đảm,

– Biên nhận ký quỹ,

– Chứng chỉ quỹ đầu tư,

– Thương phiếu,

– Chứng khoán do chính phủ nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài phát hành hoặc thông qua pháp nhân nước ngoài phát hành.8

Định nghĩa về chứng khoán trong luật chứng khoán Nhật hẹp hơn so với quy định trong luật chứng khoán Mỹ. Các quy định cũ chỉ tập trung vào các hình thức pháp lý của chứng khoán và giới hạn chúng trong các quy định mang tính chất truyền thống, chỉ đến quy định này Nhật mới bắt đầu tập trung vào khía cạnh kinh tế. Tuy vậy việc quy định chứng khoán theo nghĩa rộng như Luật Chứng khoán Mỹ có thể bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.Với tiến trình đa dạng hóa chứng khoán, nhiều công cụ tài chính mới tiếp tục được định nghĩa trong Luật nhưng gần như không đủ bao trùm hết. Pháp luật Việt Nam, có phạm vi điều chỉnh của các quy định chứng khoán cũng tuơng tự, nhưng so ra còn hẹp hơn so với quy định về chứng khoán của Nhật, chẳng hạn như không đưa vào thương phiếu, biên nhận ký quỹ. Sở dĩ như vậy vì thị trường Việt Nam còn lạ lẫm với trò chơi chứng khoán, vì thế các nhà làm luật trong giai đoạn đầu đã điều chỉnh theo hướng tăng cường tính an toàn và giảm thiểu rủi ro cho mặt hàng mới này.

Cổ phiếu có giá trị danh nghĩa9 bị cấm phát hành ở Nhật với giá thấp hơn mệnh giá, giá phát hành phải thống nhất với với tất cả các cổ phần (Điều 202, điểm1; 2). Luật Công ty sửa đổi bổ sung 1981 đã cho phép giá danh nghĩa là 50.000 Yên, đến nay giá cổ phiếu thông thường cũng ở mức này (Điều 166, điểm 2, Điều 168-3). Chứng khoán ở Việt Nam được phát hành với mệnh giá khá thấp, chỉ ở mức 10.000 đ đối với cổ phiếu, 100.000 đ đối với trái phiếu – tương ứng bằng khoảng 7,5 Yên và 75 Yên. Kể từ năm 1981, những đơn vị cổ phiếu có mệnh giá thấp kết hợp vào thành cổ phiếu lớn hơn sao cho đạt mức 50.000 Yên/cổ phiếu. Khi cần thiết, công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi để thu hút vốn nhanh và chỉ được thực hiện sau khoảng khi các cổ phiếu đã phát hành trước được bán hết. Số cổ phiếu ưu đãi được phát hành mới không quá 1/3 số cổ phiếu đã phát hành (Điều 242, điểm 2). Các công ty lớn có thể lưạ chọn huy động vốn từ TTCK Nhật hoặc thị trường nước ngoài.10

2.2. Chủ thể phát hành chứng khoán có thể là chính phủ, cơ quan quyền lực địạ phương và các chủ thể kinh doanh có nhu cầu về vốn (Điều 3). Trong thời kỳ đầu cuả TTCK Nhật, loại chứng khoán phổ biến nhất và được phát hành rộng rãi đó chính là trái phiếu chính phủ và một số ít là trái phiếu đô thị. Đây là một động thái nhằm cung hàng cho TTCK Nhật, mặt khác tạo sức mua vì đây là những chứng khoán có độ an toàn cao. Hiện nay, các công ty tuân thủ hệ thống các quy định thông tin không cần phải phát hành tất cả cổ phiếu ngay từ thời điểm được thành lập. Số cổ phiếu còn lại có thể phát hành sau đó khi hoạt động kinh doanh phát triển và theo quyết định của hội đồng quản trị. Như vậy, nhu cầu vốn, nhu cầu thị trường, là điều kiện cho phép một chủ thể có thể trở thành chủ thể phát hành. Điều kiện đủ là chủ thể ấy đáp ứng yêu cầu về thông tin theo quy định của pháp luật để có quyền phát hành loại chứng khoán thích hợp với nhu cầu vốn và khả năng thanh toán khoản của mình.

3. Điều kiện, thủ tục phát hành chứng khoán ra công chúng

3.1. Các chủ thể muốn phát hành chứng khoán mới hoặc chứng khoán ưu đãi phải tiến hành đăng ký với Bộ trưởng Bộ Tài chính (Điều 4, điểm 1). Khi thực hiện đăng ký, nguời phát hành trình Bộ trưởng Bộ Tài chính bảng cáo bạch về chứng khoán và các chứng từ khác liên quan nhằm làm rõ các thông tin phát hành. Tuyên bố đăng ký phát hành chứng khoán có hiệu lực từ ngày thứ 16 kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp nhận tuyên bố trên (Điều 8). Sau khi được chấp thuận, bản đăng ký chứng khoán, bản chào giá và bản cáo bạch phải được công bố cho nhà đầu tư.

Theo Luật Chứng khoán 1998, các chủ thể phát hành chứng khoán phải thực hiện một cách thống nhất và đầy đủ bản đăng ký chứng khoán và thông báo về chứng khoán11. Luật 1998 quy định những chủ thể nào đáp ứng những tiêu chuẩn luật định có thể đưa bản thông báo về chứng khoán vào trong nội dung bản đăng ký chứng khoán; như thế tránh được tình trạng chồng chéo nhau về nội dung. Với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh các loại chứng khoán, những thông tin cần được làm sáng tỏ thường biến đổi theo từng loại chứng khoán phát hành. Bản đăng ký chứng khoán chứa đựng những thông tin: kết quả hoạt động kinh doanh, tình trạng tài chính của công ty và những yếu tố khác liên quan đến bản chất của hoạt động kinh doanh (Điều 5, đoạn 1). Phạm vi thông tin phải cung cấp được mở rộng liên tục, bao gồm cả những thông tin về giá chứng khoán đang lưu hành, giá chứng khoán tương lai và quyền chọn cũng như ảnh hưởng của thị trường hối đoái, xác định số lượng nhà đầu tư (có hơn 50 nhà đầu tư) và cách thức bảo vệ nhà đầu tư (Điều 13).

Bản đăng ký chứng khoán và bản cáo bạch có giá trị cho hoạt động kiểm tra giám sát của Bộ Tài chính, của Sở Giao dịch, hiệp hội nhà bán sỉ chứng khoán (dealer), công ty phát hành chứng khoán vào những thời điểm nhất định.

3.2. Năm 1998 hệ thống giấy phép đã được thay thế bằng hệ thống đăng ký phát hành trừ trường hợp bảo lãnh phát hành và các giao dịch chứng khoán theo hình thức mua bán qua quầy (OTC). Một hệ thống tự đăng ký được hình thành cho phép các chủ thể khi muốn phát hành chứng khoán mới đơn giản hóa thủ tục. Khi ấy họ chỉ cần chuyển tiếp theo bản thông báo gần nhất về đợt phát hành kế tiếp. Điều này có nghĩa rằng trước đó thông tin về chủ thể phát hành đã được phổ biến rộng rãi trong công chúng.

3.3. Tại thị trường sơ cấp các công ty chứng khoán lớn thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Với việc kinh doanh trái phiếu, các công ty chứng khoán đóng vai trò là người bảo lãnh và phân phối trái phiếu mới phát hành ra thị trường Nhật và nước ngoài. 12 Việc xác định quyền của công ty chứng khoán trong việc chào bán cổ phiếu niêm yết, chào bán rộng rãi thông qua các hình thức như Internet được thể hiện trong bản chào giá, và trong bản cân đối giao dịch tóm tắt. Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng công ty phát hành có thể chào giá trực tiếp, nhưng thường là phải thông qua công ty chứng khoán nhằm thực hiện bảo lãnh phát hành cho toàn bộ số cổ phiếu phát hành.

3.4. Việc xác định giá cổ phiếu phát hành tùythuộc vào quyết định cuả công ty theo quy định cuả Luật Chứng khoán nhưng giá phát hành này phải được công bố 2 tuần trước khi bán ra công chúng (Điều 280-3-2).

3.5. Phát hành trái phiếu công ty được pháp luật Nhật quy định rất chặt. Trái phiếu có bảo đảm được phổ biến ở Nhật, chỉ có một số ít là trái phiếu không bảo đảm. Để phát hành trái phiếu có bảo đảm, công ty phát hành phải được sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty ủy thác phát hành. Cũng như cổ phiếu, việc phát hành trái phiếu do Hội đồng quản trị quyết định (Điều 296), được tiến hành trực tiếp hoặc thông qua công ty chứng khoán. Thông thường, để việc phát hành thuận lợi, các chủ thể phát hành cần có một công ty quản lý tài chính có vai trò nhận thanh toán và bảo đảm các yêu cầu của người sở hữu trái phiếu. Tuy nhiên khi tổng giá trị trái phiếu phát hành ít hơn 100 triệu Yên hoặc trong trường hợp số trái phiếu phát hành nhỏ hơn 50 thì không cần đến chủ thể này (Điều 297). Thực tế là trong trường hợp phát hành trái phiếu ở Nhật, chủ thể phát hành thường chỉ định người đại diện tài chính của họ đảm nhiệm công việc này. 13

3.6. Khi chứng khoán được chào bán cho số nhà đầu tư ít hơn 50 người, thì chúng buộc phải được bán lại cho nhiều người và phải được lý giải minh bạch (Điều 2, điểm 4). Trường hợp hạn chế bán lại phải được thông báo rõ giữa người chào bán và người được chào bán.

3.7. Tòa án tối cao Nhật quy định rằng trong trường hợp phát hành cổ phiếu mà vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc trung thực, không có quyết định của hội đồng quản trị mà chỉ được phát hành theo ý muốn của người đại diện điều hành, thì việc phát hành đó không có hiệu lực.14

Bản đăng ký chứng khoán hay bản cáo bạch chứa đựng những nội dung không chính xác hoặc nhầm lẫn khi cung cấp thông tin hay những yếu tố cần thiết để đánh giá bản báo cáo thì những người liên quan phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho người mua chứng khoán do đã tin tưởng bảng chào giá và hoạt động mua bán là chính xác. Những chủ thể chịu trách nhiệm bao gồm: người điều hành (giám đốc), kiểm toán viên của công ty cung cấp những bản báo cáo và người phát hành, kế toán viên hoặc công ty kế toán, người bảo lãnh (Điều 21).

Ngoài ra, bất cứ ai cập nhật những thông tin không chính xác trong bản đăng ký chứng khoán hoặc bản báo cáo thường kỳ so với các số liệu thực tế thì phải chịu hình phạt tối đa 3 năm tù giam hoặc nộp 3 triệu Yên tiền phạt (Điều 197). Công ty gián tiếp chịu trách nhiệm cho hoạt động cuả người điều hành (Giám đốc), đại lý, và nhân viên của mình. Tiền phạt tối đa đối với chủ thể này là 500 triệu Yên (Điều 207).

Luật cũng đề cập đến những hành vi bị cấm liên quan đến hoạt động phát hành. Một số lượng lớn chứng khoán được cung cấp có thể gây nhiễu cho sự cân bằng cung cầu chứng khoán và tất yếu là giá chứng khoán giảm. Khi cổ phiếu được chào bán mà giá tụt giảm sau khi bảng chào giá được thiết lập thì sẽ có mức cầu thấp đối với những cổ phiếu này. Trong trường hợp người phát hành phải có biện pháp phục hồi giá chứng khoán phát hành.

Luật Chứng khoán cũng đưa ra danh mục những hoạt động bị cấm đối với công ty chứng khoán, người điều hành (Giám đốc) và nhân viên của họ trong quá trình phát hành. Việc mời chào khách hàng mua chứng khoán phát hành bằng cách đưa ra ý kiến mang tính quyết định15 cũng bị cấm (Điều 50). Nói chung, công ty chứng khoán (hay giám đốc, nhân viên của họ) buộc phải giao dịch với khách hàng một cách công bằng và trung thực (Điều 49). Có những trường hợp khách hàng kiện công ty chứng khoán ra tòa vì đã có hành vi mời chào khách hàng không đúng pháp luật. Một số trường hợp tòa án đã quyết định theo hướng có lợi cho khách hàng khi đại diện bán hàng cho công ty chứng khoán đã đưa ra những ý kiến mang tính quyết định khi giới thiệu cho nhà đầu tư các chứng khoán được phát hành. 16

3.8. Chủ thể phát hành chứng khoán được quyền niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán khi hội đủ điều kiện của từng sở giao dịch. Hiện có 8 sở giao dịch chứng khoán ở Nhật. Đó là những thực thể pháp lý có thành viên là một số các công ty chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán có thẩm quyền giám sát các công ty niêm yết để bảo đảm thông tin về giá và giao dịch được phù hợp. Do đó, Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm xem xét, kiểm tra bản cáo bạch do các công ty cung cấp theo quy định cuả Luật Chứng khoán, nhằm bảo đảm rằng bản cáo bạch về tài chính đầy đủ thông tin và chính xác. Tính đến đầu năm 2004, có 2.432 công ty niêm yết ở Nhật. Ngoài ra, còn có hơn 858 công ty phát hành cổ phiếu được giao dịch qua OTC.17Điều kiện để niêm yết chứng khoán tuân theo các quy định do Sở Giao dịch chứng khoán ban hành không do luật khung quy định như ở Việt Nam. Chẳng hạn, để được niêm yết ở Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo18, chủ thể phát hành phải hội đủ điều kiện:

– Số cổ phiếu niên yết phải lớn hơn 6.000.000 (20.000.000 cổ phiếu đối với trường hợp có nơi hoạt động kinh doanh chính ở ngoài Tokyo),

– Số cổ đông không ít hơn 1.000 và số cổ đông đặc biệt không nắm giữ nhiều hơn 70% số cổ phiếu của công ty,

– Tổng vốn huy động từ 1 tỉ Yên trở lên và mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 Yên,

– Lợi nhuận ròng trong 3 năm trước đó phải đạt đến mức ổn định,

– Đã trả cổ tức của 3 năm trước đó và có khả năng duy trì mức cổ tức tối thiểu là 5 Yên.19

Bên cạnh Sở Giao dịch chứng khoán ở Nhật cũng có thị trường giao dịch qua quầy (OTC) mặc dù vậy hình thức này không phát triển như ở Mỹ. Ở Việt Nam thị trường OTC không được biểu hiện và hình thành một cách rõ ràng mặc dù các giao dịch hiện nay chủ yếu thông qua thị trường OTC. Thực tế, với tên gọi Trung tâm giao dịch chứng khoán, TTGDCK Hà Nội thực chất được tổ chức theo mô hình thị trường OTC, còn TTGDCK TP.HCM đang được định hướng để trở thành Sở giao dịch chứng khoán đúng nghĩa. Điều này cho thấy một tư duy quản lý mang đậm chất hành chính, bao biện đang dần được gỡ bỏ để thay thế bằng tư duy điều hành theo thị trường.

4. Kết luận

4.1. Cho đến nay TTCK Nhật vẫn chưa được xem là thị trường hấp dẫn với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Do truyền thống kinh doanh ở Nhật với những tập đoàn gia đình thống trị, với nền văn hóa chú trọng quan hệ hợp tác nhóm khiến cho mối ràng buộc nội bộ chặt chẽ, nên việc công khai hóa những thông tin dường như chưa đầy đủ và rất dễ có sự liên thông trong cùng tập đoàn. Điều này khá giống ở Việt Nam vì mang đặc thù của nền văn hóa Á châu-“không muốn vạch áo cho người xem lưng” và “tương trợ anh em”. Mệnh giá chứng khoán phát hành với giá cao nên bị xem là khá đắt đỏ, nhưng giá giao dịch trên thị trường lại thường thấp và có rất ít các giao dịch được thực hiện.20 Không giống như Mỹ, nơi có các quy định khá đầy đủ về tập đoàn kinh doanh, về TTCK, Nhật vẫn cho rằng trong lĩnh vực này mình chỉ mới bắt đầu từ con số không.21

4.2. Khi TTCK Nhật đã bước một bước dài qua những giai đoạn từ chập chững, phát triển, suy thoái và đã lại bắt đầu một chu kỳ mới thì Việt Nam mới chỉ đặt những bước đầu tiên. Nhật đang đặt ra vấn đề quan trọng cần được hoàn thiện tương tự như Việt Nam trong cơ chế phát hành chứng khoán là đặc biệt quan tâm đến vấn đề cung cấp thông tin, cơ chế xin phép phát hành được nới lỏng thay vào đó là việc thực hiện đăng ký phát hành khi hội đủ điều kiện cũng như có nhu cầu phát hành. Vấn đề là Việt Nam cần tiếp thu một cách có chọn lọc những quy định này sao cho phù hợp với trình độ phát triển cuả thị trường, nhu cầu của xã hội và khả năng quản lý cuả mình.

Chú thích:

1 Khởi đầu bằng việc ban hành Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Đầu tư nước ngoài.

2 Hiroshida Oda, Japanese Law, tái bản lần 2, Nxb Oxford University, 2001, ISBN 0-19-876456-1, tr. 268

3 Về lịch sử phát triển thị trường chứng khoán Nhật có thể xem thêm trong Japan Securities Intitution , Securities Market in Japan 1988, Tokyo 1988, tr. 14 – 42. Giao dịch tương lai là quan hệ mua bán chứng khoán tại thời điểm hiện tại nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai. Điều nay có thể tạo ra cung – cầu ảo trên thị trường.

4 Luật số 25, năm 1946

5 Các nguyên tắc nay nhằm ngăn chặn khả năng đầu cơ do thông tin nội bộ có thể bị rò rỉ.

6 T.Nakano and K.Yoda, Financial Supervisorry Agency and the financial planning Bureau of Ministry of Finance, Tokyo 1998.

7 Tham khảo website http://www.ssc.gov.vn/ssc/

8 Tham khảo thêm bản trích dịch Luật Chứng khoán các nước, Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Hà Nội 01/2006, tr. 4.

9 Đây là loại cổ phiếu bình thường ở Nhật, bán đúng theo mệnh giá phát hành, không căn cứ vào giá thị trường của các cổ phiếu phát hành trước đó.

10 Daiwa Securities Invesment banking Dept ed, White paper on Capital Increase 1998, Tokyo 1998, tr. 152.

11Xem thêm những phân tích về hệ thống đăng ký phát hành trong Securities & Exchange Law, Kawamoto & Y.Otake, Tokyo 1998.

12 Securities Market in Japan 1998, sđd, tr. 180-185

13 Securities Market in japan 1998, sđd, tr. 95.

14 Judment of Supreme Court , ngày 14/7/1994 (Hanjy 1512-178)

15 Ý kiến mang tính quyết định (“specific intructions”): được xem là những hướng dẫn hàm chứa những thông tin đặc biệt có khả năng tác động làm thay đổi quyết định của nhà đầu tư.

16 Bản án cuả Toà án Tokyo, Ngày 4/2/1994 (Hanta, 841-271).

17 Mathew Harrison, Asia-Pacific Security Markets, Sweet & Maxwell Asia, 2003, ISBN 962661 2061, tr. 77-78.

18 SGD Tokyo là Sở giao dịch lớn nhất ở Nhật.

19 Mathew Harrison, sđd, tr 148-151

20 Xem The FTC(fair trade Commission), http://www.admix.ftc.go.jp/

21 Hiroshida Oda, Japanese Law, tái bản lần thứ 2, Oxford University Press, 2001, ISBN 0-19-876456-1, tr. 295-299

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2006

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

TS. PHẠM THỊ GIANG THU – Khoa Pháp luật kinh tế, trường ĐH Luật Hà Nội

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã qua 3 năm chính thức vận hành. Yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng tới thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam là hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh toàn bộ thị trường. Bài viết này xin được trao đổi về một số nội dung pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh chứng khoán. “Chủ thể kinh doanh chứng khoán được hiểu là những đối tượng được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Chủ thể kinh doanh chứng khoán bao gồm: công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty tư vấn đầu tư”1. Với quan điểm như vậy, chúng tôi cho rằng, những quy định về các vấn đề sau cần sớm được giải quyết.

Thứ nhất, xác định rõ nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán.

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động cụ thể của kinh doanh, mặc dù nó có những nét đặc thù riêng. Nếu một hoạt động chứng khoán hàm chứa đầy đủ đặc tính của kinh doanh thì cũng phải được coi là hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu lập luận này được chấp nhận, thì ngoài 5 hình thức kinh doanh chứng khoán mà pháp luật quy định, chúng tôi cho rằng còn có những hoạt động khác cũng là kinh doanh chứng khoán. Việc chưa xác định đầy đủ nội hàm kinh doanh chứng khoán sẽ tạo ra những đối xử khác nhau cho cùng một loại hành vi như nhau, có nghĩa là không công bằng. Cần phải xác định rõ về tiêu chí để nhận diện hoạt động kinh doanh chứng khoán. Chúng tôi cho rằng những hoạt động liên quan đến chứng khoán do các chủ thể đủ điều kiện thực hiện, tiến hành nhằm mục đích kiếm lời là các hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không nhất thiết chỉ là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư.

Những hoạt động có liên quan đến chứng khoán có đủ các yếu tố nêu trên trong hiện tại là hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, hoạt động lưu ký chứng khoán. Trong tương lai, có thể sẽ xuất hiện thêm những loại hành vi mới như định mức tín nhiệm. Thực tế, khái niệm kinh doanh chứng khoán được các quốc gia có thị trường định nghĩa theo những cách khác nhau, nhưng thường lựa chọn phương án đưa dấu hiệu nhận diện hoặc phương án liệt kê. Mỗi phương án đều có những ưu nhược điểm riêng nên hiện nay có xu hướng xích lại gần cách định nghĩa về kinh doanh chứng khoán. Các nước có thị trường chứng khoán mới nổi thường xác định theo phương pháp liệt kê nhưng họ cũng tạo ra những cửa mở cho những hoạt động có thể sẽ hình thành. Cũng có ý kiến cho rằng vì kinh doanh chứng khoán là một ngành nghề đặc biệt nên phải xác định rõ nội dung kinh doanh trong ngành nghề này, tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại, các chủ thể thực hiện các hoạt động chứng khoán nêu trên đều đã tuân thủ điều kiện luật định. Pháp luật hiện hành quy định các tổ chức muốn hoạt động lưu ký chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký, hoạt động quản lý quỹ. Nhân viên hành nghề lưu ký, quản lý quỹ đầu tư là người đã được Ủy ban chứng khoán cấp giấy phép hành nghề lưu ký, kinh doanh chứng khoán2. Nếu so sánh với những tiêu chuẩn của hoạt động kinh doanh chứng khoán ghi nhận tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 thì không có điểm gì khác biệt.

Việc xác định đúng nội hàm của hoạt động kinh doanh chứng khoán theo chúng tôi có ý nghĩa quan trọng. Để đảm bảo tính tôn nghiêm của pháp luật, các chủ thể có cùng điều kiện, môi trường kinh doanh, đối tượng kinh doanh và mục đích kinh doanh, phải có cùng những quy định pháp luật điều chỉnh. Nói cách khác, các chủ thể cùng tiến hành kinh doanh chứng khoán phải được đối xử như nhau về quyền và nghĩa vụ, cơ quan quản lý, thực hiện chế độ tài chính kế toán và báo cáo tài chính kế toán. Chẳng hạn những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, các quỹ phòng ngừa rủi ro, dự trữ bắt buộc cần phải được áp dụng thống nhất mà trong thực tế những vấn đề này chưa thực hiện được.

Thứ hai, xác định cụ thể bản chất pháp lý của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các chủ thể khác tham gia hoạt động chứng khoán cũng như các điều kiện khả thi để những mô hình này có thể chính thức ra đời.

Xuất phát từ những luận giải về khái niệm kinh doanh đã đề cập, chúng tôi cho rằng, đi đôi với việc xác định lại nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán, cần phải xem xét bản chất pháp lý công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

Nếu xét nội dung hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua chứng chỉ quỹ đầu tư thì cơ chế hoạt động của công ty quản lý quỹ là cơ chế ba bên: công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; ngân hàng giám sát; nhà đầu tư. Thực tiễn thị trường thời gian qua cho thấy chưa có một công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán nào chính thức ra đời (có thể mới ở giai đoạn manh nha, những bước khởi động ban đầu cho cơ chế đầu tư ấy). Dự định liên doanh của Dragol Capital với Ngân hàng cổ phần Thương Tín, Prudential Việt Nam có thể coi là những ví dụ. Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý, cho cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật là tại sao cho đến thời điểm hiện tại, chưa có mô hình này tồn tại trong thực tế ? Có lẽ nguyên nhân xuất phát từ chính nội dung của các quy định pháp luật hiện hành. Pháp luật hiện hành chỉ quy định đây là pháp nhân thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, nhưng bản chất của nó có phải là công ty chứng khoán hay không lại chưa có khẳng định rõ ràng. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các nhà làm luật cũng như các nhà quản lý đều công nhận đây là một loại công ty chứng khoán. Chẳng hạn quan điểm “Đối với Việt Nam, công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức kinh doanh chứng khoán. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải được hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập”3 đã được phổ cập đến đông đảo người quan tâm. Điều này có nghĩa hoạt động quản lý đầu tư chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là một công ty chứng khoán. Tuy nhiên, đây chỉ là những suy diễn hoặc diễn giải “ngoài hành lang”, mà không phải là một quy định pháp luật. Điều này thực sự gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.

Việc đưa ra những đề xuất liên quan đến bản chất của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không chỉ xuất phát từ yêu cầu áp dụng pháp luật mà còn là một đòi hỏi khách quan của những người có dự định kinh doanh chứng khoán theo hình thức này. Nếu như những nội dung liên quan đến công ty chứng khoán có thể coi là khá rõ ràng thì đối với công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán vẫn còn đang mở. Chẳng hạn, việc xác định các loại thu nhập của công ty quản lý quỹ, ưu đãi hoặc miễn trừ nghĩa vụ trong những trường hợp nhất định có được áp dụng tương tự công ty chứng khoán. Về vấn đề này, Ủy ban chứng khoán Nhà nước thừa nhận “là không thực tế”4, cần phải sớm điều chỉnh lại cho phù hợp.

Vì hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện theo cơ chế giám sát ba bên (trong khi đó Hội đồng những người đầu tư, Điều lệ quỹ còn đang là những nội dung hết sức không rõ ràng nên lòng tin của người đầu tư còn là vấn đề cần tiếp tục xem xét) thì vai trò của ngân hàng giám sát phải càng đặc biệt đề cao. Nhiệm vụ của ngân hàng là bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư nên hoạt động của nó gắn với chứng khoán. Mặc dù đây không phải là hoạt động cơ bản của ngân hàng, cũng chưa nằm trong nội hàm của kinh doanh chứng khoán nên không xác định được căn cứ pháp lý cho loại hình hoạt động này, những biện pháp an toàn trong kinh doanh của ngân hàng có được áp dụng đối với hoạt động này hay không? Cần phải có những quy định mới, cụ thể và chi tiết liên quan đến cơ chế giám sát của ngân hàng giám sát, những quy định về bảo đảm an toàn tài sản của quỹ (tách bạch khỏi khối tài sản mà ngân hàng đang thực hiện hoạt động kinh doang ngân hàng thông thường). Ngoài ra, chúng tôi cho rằng người đầu tư cũng giống như người có tiền gửi tại tổ chức tín dụng, cũng là những người “thiếu hiểu biết một cách ngay tình” trong kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, cần phải bảo vệ quyền lợi của họ thông qua cơ chế bảo hiểm bắt buộc đối với tài sản quỹ.

Tham gia thị trường chứng khoán, không chỉ có nhà phát hành, người đầu tư, công ty chứng khoán mà còn có nhiều loại chủ thể khác cũng tham gia với mục đích kiếm lời. Họ có thể là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp (không phải là người đầu tư kể cả trường hợp đầu tư có tổ chức). Việc tham gia của họ không chỉ tạo ra cơ hội sử dụng vốn của người đầu tư trực tiếp, mà còn tạo ra sức cạnh tranh mới cho thị trường, tạo ra chính sự ổn định thị trường trong thế cạnh tranh đó. Chúng tôi có thể đặt ra một vài loại chủ thể đại diện.

Nếu hoạt động định mức tín nhiệm là hoạt động phổ biến tại thị trường các quốc gia thì vấn đề này còn rất mới đối với Việt Nam. Đó là việc “đánh giá đúng về khả năng của một người phát hành có thể thanh toán đúng nợ gốc và lãi của một chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại loại công cụ này”5. Việc tồn tại các tổ chức định mức tín nhiệm sẽ tạo niềm tin cho người đầu tư vào các trái phiếu lưu hành trên thị trường, cũng tạo ra cơ hội xác định đúng đắn về giá chứng khoán, sự lựa chọn đầu tư của người đầu tư.

Đối với các ngân hàng lưu ký, thanh toán chứng khoán, thực tiễn đang tiến hành các hành vi gắn với giao dịch chứng khoán, với mục đích kiếm lời, nhưng đây có phải là chủ thể kinh doanh chứng khoán hay không? Pháp luật hiện hành vẫn chưa xét tới vấn đề này. Câu hỏi này liên quan đến chế độ chịu trách nhiệm của ngân hàng lưu ký với nhà đầu tư chứng khoán. Ngoài ra, hoạt động lưu ký, thanh toán của các ngân hàng này có tách bạch hoàn toàn với nghiệp vụ ngân hàng hay không? Theo Báo cáo của Ngân hàng đầu tư phát triển (Ủy ban chứng khoán chỉ định là ngân hàng thanh toán) thực hiện rất nhiều nghiệp vụ gắn với giao dịch chứng khoán, nhưng không có báo cáo nào về việc tách bạch hoạt động này với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác6. Ở đây chưa tính tới phương hướng mở rộng nghiệp vụ của Ngân hàng Đầu tư trong tương lai về vấn đề này. Với lý lẽ đó, chúng tôi cho rằng cần sớm phải xác định lại vị trí của ngân hàng lưu ký, ngân hàng thanh toán trong tổng thể các loại chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán. Gắn liền với vấn đề “ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng đầu mối” chúng tôi cũng đề xuất sớm mở rộng hơn đối tượng có thể tham gia vào hoạt động này, bởi lẽ thực tiễn hiện nay nếu áp dụng chế độ chỉ định, đây là biểu hiện rõ nét của tính độc quyền trong kinh doanh, mà

sự độc quyền ấy do chính Nhà nước (thông qua cơ quan chức năng thực hiện), không phù hợp với yêu cầu của cơ chế kinh tế mới. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm nền kinh tế thị trường ở nước ta trong nhiều trường hợp không tránh khỏi độc quyền nhà nước (không đồng nghĩa với độc quyền tự nhiên), nhưng là các lĩnh vực “vật liệu nổ, hóa chất độc, chất phóng xạ, hệ thống truyền tải điện quốc gia, mạng trụ thông tin quốc gia và quốc tế, sản xuất thuốc lá điếu”7. Ngay cả đối với những trường hợp chấp nhận có độc quyền, cũng không được phép đẩy độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.

Thứ ba, xây dựng lại và chuẩn hóa một số điều kiện thành lập hoạt động của công ty chứng khoán, kể cả điều kiện đối với chủ thể có yếu tố nước ngoài.

Là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, công ty chứng khoán cũng giống như một nhóm các loại chủ thể như doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng, cần có mức vốn tối thiểu trước khi thực hiện hành vi kinh doanh trong thực tế, tức cần có vốn pháp định. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, mức vốn pháp định hiện nay quy định cho lĩnh vực kinh doanh này chưa phù hợp với thực tiễn và chưa đáp ứng được yêu cầu bình đẳng trong kinh doanh. Khảo sát thực tế 9 công ty chứng khoán hiện nay cho thấy đó đều là công ty con của ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tài chính phi ngân hàng. Vấn đề ở chỗ, công ty mẹ khi đầu tư vốn thông qua việc thành lập công ty chứng khoán đều phải sử dụng vốn sở hữu chủ, mà chỉ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số vốn sở hữu chủ. Đây cũng là cách nhìn nhận hoàn toàn đúng đắn của công ty mẹ để phân tán rủi ro cũng như tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Câu hỏi đặt ra là họ sẽ đầu tư mức tối đa là bao nhiêu? Kết quả điều tra cho thấy các doanh nghiệp đầu đàn của Việt Nam như hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, xi măng, dầu khí chưa có kế hoạch thành lập công ty chứng khoán. Các doanh nghiệp khác, hoặc vì vốn sở hữu chủ còn khiêm tốn, kinh doanh chứng khoán còn là lĩnh vực mới mẻ, chưa có nhu cầu tham gia8.

Việc xác định mức vốn pháp định cho các công ty chứng khoán, theo ý kiến chúng tôi cũng cần phải xem xét tới những quy định có liên quan đến những lĩnh vực kinh doanh đặc thù, gắn liền với tiền tệ. Cần phải cải tiến lại phương pháp xác định mức vốn, đảm bảo bình đẳng cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh. Pháp luật hiện hành quy định mức vốn pháp định riêng cho từng hình thức kinh doanh chứng khoán nhằm hạn chế

rủi ro cho nhà đầu tư đồng thời cũng tăng tiềm lực tối đa cho công ty chứng khoán. Nếu muốn thực hiện đồng thời nhiều loại hình kinh doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải có vốn pháp định là tổng số vốn quy định cho từng loại hình. So sánh với những quy định về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, có những khác biệt lớn, mà sự thiệt thòi thuộc về các công ty chứng khoán. Luật Tổ chức tín dụng quy định doanh nghiệp muốn kinh doanh tiền tệ, cần phải có vốn điều lệ ít nhất bằng vốn pháp định. Khi đã có đủ điều kiện nêu trên, họ được phép thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh ngân hàng khác nhau theo tính chất của doanh nghiệp được thành lập9. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định tương tự như Luật tổ chức tín dụng10, họ được phép thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm khác nhau mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về vốn cho các sản phẩm bảo hiểm. Theo quan điểm của chúng tôi, hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng giống như hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh ngân hàng, đều là hoạt động có độ rủi ro lớn; đối tượng kinh doanh là các phương tiện tài chính nên quy định khác biệt về vốn pháp định cho công ty chứng khoán là không đảm bảo bình đẳng trong kinh doanh. Xét quy định của một số quốc gia có thị trường, chúng tôi nhận thấy quy định về vấn đề này cũng rất cụ thể. Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định vốn pháp định cho công ty chứng khoán đa năng là 500 triệu NDT; công ty môi giới là 50 triệu NDT11. Điểm khác biệt của công ty chứng khoán đa năng là chúng được thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh chứng khoán mà không tách bạch điều kiện vốn cho từng loại hình. Trong khi đó Luật Chứng khoán Singapore lại quy định vốn ròng là 3 triệu USD12. Với những phân tích trên, quan điểm của chúng tôi là cần quy định mức vốn pháp định cho công ty chứng khoán theo hướng nhóm hoạt động môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, khi đã có đủ điều kiện môi giới nếu có nhu cầu tư vấn đầu tư có thể được Ủy ban Chứng khoán cấp phép mà không cần tăng vốn. Nhóm hoạt động bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư có thể quy định điều kiện riêng về vốn cho từng hình thức kinh doanh nhưng khi đã được phép bảo lãnh phát hành thì có thể thực hiện thêm các hoạt động khác mà không cần tăng vốn. Giải quyết vấn đề này không đơn giản tạo cơ hội cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện hữu mà quan trọng hơn, sẽ kích hoạt cho các nhà đầu tư dự định thành lập công ty mới.

Gắn với sự ra đời của công ty chứng khoán là việc thành lập và cho phép hoạt động kinh doanh chứng khoán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước khi xác định điều kiện, trình tự, thủ tục để cho ra đời một pháp nhân kinh doanh chứng khoán, chúng tôi muốn đề cập tới bản chất pháp lý của pháp nhân. Đối với các doanh nghiệp hình thành bằng nguồn vốn trong nước, việc thành lập và hoạt động dựa trên cơ sở hoặc Luật Doanh nghiệp, hoặc Luật Doanh nghiệp nhà nước, hoặc luật đơn hành. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc thành lập còn dựa trên cơ sở Giấy phép đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực tế đặt ra nếu có nhu cầu thành lập công ty chứng khoán liên doanh thì trách nhiệm cho ra đời pháp nhân này thuộc về ai? Hoặc trong trường hợp doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, được thành lập tại Việt Nam, có nhu cầu thành lập công ty con, cơ sở pháp lý để thành lập loại hình này là văn bản pháp lý nào? Thực tiễn quản lý các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay của các nhà quản lý đang lúng túng, vướng mắc về vấn đề này. Ủy ban Chứng khoán nhà nước quy định “các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài muốn kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam phải thành lập công ty liên doanh với đối tác Việt Nam theo giấy phép do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp”13. Quy định này được hiểu công ty chứng khoán liên doanh sẽ do Ủy ban Chứng khoán thành lập và cấp giấy phép hoạt động, không phù hợp với tinh thần tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải có sự thống nhất giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Kế hoạch đầu tư trong quá trình thực hiện, bởi lẽ Luật Đầu tư nước ngoài đã quy định cụ thể về việc thành lập các doanh nghiệp có vốn hoặc có nguồn gốc vốn của nước ngoài; Nghị định 48/1998/NĐ-CP cũng quy định khá cụ thể nhiệm vụ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ “cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán”14. Tuy nhiên, một khả năng khác cũng có thể lựa chọn là có nên cho phép Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các công ty chứng khoán hay không? Xét theo quy định của các văn bản Luật điều chỉnh các lĩnh vực đặc thù nhưng lại có điểm chung với kinh doanh chứng khoán là kinh doanh ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm thì Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam15; Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ Việt Nam16. Lựa chọn theo phương án này theo chúng tôi có rất nhiều ưu điểm bởi lẽ kinh doanh chứng khoán là một hoạt động kinh doanh có điều kiện, yêu cầu quản lý chặt chẽ, nhưng nếu rải nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý khác nhau thì thực tiễn sẽ rất khó khăn cho các chủ thể dự định đầu tư; đồng thời có những công đoạn sẽ gặp rắc rối cho cả đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý.

Nếu chấp nhận phương án cho rằng công ty quản lý quỹ cũng là một loại công ty chứng khoán thì những đề xuất nêu trên sẽ được áp dụng cả đối với công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến xác định có cho phép hình thành quỹ đầu tư liên doanh đồng thời với việc thành lập công ty hay không; trình tự thủ tục liên quan cũng cần được làm rõ.

Về điều kiện chuyên môn đối với các thành viên sáng lập cũng là vấn đề cần phải xem xét thêm. Điều kiện Giám đốc và người kinh doanh phải có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán17 khó có tính khả thi. Để có được điều này người được đề nghị cấp giấy phép hành nghề phải “đáp ứng đủ các điều kiện sau đây theo đề nghị của công ty chứng khoán”18. Quy định này dẫn tới một vòng lẩn quẩn bởi lẽ bản thân pháp nhân là công ty chứng khoán đang cố gắng để thành lập. Trước khi xin cấp giấy phép hoạt động, phải chờ thời gian “30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ”19 để xin Giấy phép hành nghề, có nghĩa cần phải có thời gian đáng kể mà không phải là 30 ngày. Nếu xem xét dưới góc độ của một nhà kinh doanh, chúng tôi cho rằng, đây là thủ tục cực kỳ phiền hà mà không có hiệu quả, làm mất đi cơ hội kinh doanh. Một phương án khác đặt ra, vậy các

cá nhân này đã hành nghề tại một công ty chứng khoán khác chuyển thành lập hoặc làm việc cho công ty chứng khoán xin giấy phép hoạt động có phải là phương án phù hợp? Phương án này không thực sự phù hợp bởi lẽ đây không phải là vấn đề đúng cho mọi trường hợp và liệu rằng có khả năng việc “ra đi” của họ sẽ kèm theo một hệ quả là đề nghị bị thu hồi giấy phép hành nghề hay không?

Thứ tư, mở rộng phạm vi hoạt động của công ty chứng khoán

Khó có thể nói rằng công ty chứng khoán của chúng ta hiện nay theo mô hình đa năng hay mô hình chuyên doanh. Vì vậy, liên quan đến hoạt động của các chủ thể kinh doanh chứng khoán, chúng tôi đề xuất đến một số yêu cầu cụ thể sau:

Pháp luật hiện hành quy định công ty chứng khoán “chỉ được phép kinh doanh chứng khoán theo nội dung giấy phép”20. Quy định này có thể hiểu theo hai hướng. Hướng thứ nhất, các chủ thể chỉ được phép hoạt động kinh doanh theo những hình thức đã ghi nhận

là hoạt động kinh doanh chứng khoán đã đăng ký và cấp phép, mà không được phép thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào khác, kể cả các hoạt động liên quan đến chứng khoán. Với cách hiểu này chúng tôi có đề xuất nhằm mở rộng cơ hội kinh doanh cho chủ thể kinh doanh chứng khoán.

Một là nên cho phép các công ty chứng khoán thực hiện một hoặc một số hoạt động kinh doanh ngân hàng… Thực tiễn các công ty chứng khoán không phải là công ty con của ngân hàng thương mại đang gặp những khó khăn trong việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy, nếu cho phép các công ty chứng khoán thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngân hàng mà các hoạt động đó gắn liền với hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ giải quyết được khó khăn đó; đồng thời cũng xóa đi những bất lợi của các công ty chứng khoán độc lập. Để hạn chế rủi ro xảy ra cho nhà đầu tư chứng khoán hoặc cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc quy định trước phạm vi khách hàng cũng như các nội dung kinh doanh ngân hàng cũng hoàn toàn cần thiết. Xét đề nghị này với quy định của Luật Tổ chức tín dụng hoàn toàn phù hợp21 đồng thời thực tế Ngânhàng Nhà nước đã cấp phép hoạt động kinh doanh ngân hàng cho các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng22.

Hai là, đối với từng nội dung kinh doanh chứng khoán, pháp luật cũng phải có quy định

rõ cụ thể từng nội dung. Chẳng hạn như, đối với bảo lãnh phát hành chứng khoán, bao gồm những nội dung nào, tương tự như vậy đối với môi giới, tự doanh, tư vấn… Với những quy định như “việc lập hồ sơ xin phép phát hành phải được ít nhất một công ty tham gia tư vấn và chịu trách nhiệm trong phạm vi tư vấn”23. Vậy tư vấn phát hành nằm trong nội dung của hoạt động kinh doanh nào? Trong giai đoạn bảo lãnh phát hành hay tư vấn đầu tư chứng khoán? Quy định này gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán. Việc chỉ rõ nội hàm của từng nội dung kinh doanh chứng khoán sẽ tránh được hiện tượng xâm lấn nội dung kinh doanh này sang nội dung kinh doanh khác; đồng thời cũng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho chính các cơ quan quản lý khi tìm kiếm căn cứ, cơ sở pháp lý để xác định một hành vi có vi phạm pháp luật hay không. Về phía chủ thể kinh doanh chứng khoán, họ cũng rất cần được biết và phải biết giới hạn phạm vi kinh doanh của họ. Pháp luật không chỉ dành riêng cho nhà quản lý.

Ba là, trong những kiến nghị đã đề cập, nếu phương án xác định mở rộng khái niệm kinh doanh chứng khoán rộng hơn so với quy định hiện hành được chấp nhận cũng đồng nghĩa với việc chủ thể kinh doanh chứng khoán có cơ hội hơn khi xác định các nội dung kinh doanh của mình. Vấn đề này không chỉ đề cập tới các công ty chứng khoán, công ty quản

lý quỹ đầu tư mà còn đối với các chủ thể khác thực tế đang thực hiện hoạt động gắn trực tiếp với chứng khoán.

Thứ năm, chuẩn hóa quy định về phá sản các loại chủ thể kinh doanh chứng khoán

Đối với phá sản công ty chứng khoán, còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số chuyên gia pháp lý cho rằng, kinh doanh chứng khoán là lĩnh vực đặc thù, việc giải thể phá sản một công ty chứng khoán có ảnh hưởng nhất định đến thị trường, đến lợi ích của nhà đầu tư và có thể gây ra hậu quả mang tính dây chuyền… Có thể có những công ty chứng khoán của nhà nước (trong điều kiện mới hình thành thị trường chứng khoán) không được phá sản hoặc phá sản có điều kiện. Một số ý kiến cho rằng, công ty chứng khoán có thể bị tuyên bố phá sản như bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Chúng tôi cho rằng, công ty chứng khoán cũng có thể bị tuyên bố phá sản theo trình tự phá sản có điều kiện và nhất thiết phải quy định cụ thể vấn đề này tại văn bản pháp luật tương xứng. Luật Chứng khoán nhiều quốc gia trên thế giới không quy định cụ thể vấn đề phá sản công ty chứng khoán, nhưng Luật Công ty thường lại quy định cụ thể vấn đề này. Chẳng hạn, Luật Công ty Trung Quốc quy định cụ thể về việc tuyên bố phá sản mà không quy định tại luật chuyên ngành. Quá trình sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp cũng phải đưa các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán trong diện phá sản có điều kiện. Tuy nhiên, liệu các công ty chứng khoán chỉ thực hiện dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán nhất thiết phải nằm trong diện phá sản có điều kiện không? Đây cũng là vấn đề cần bàn. Các công ty chứng khoán chỉ có thể bị tuyên bố phá sản theo đề nghị của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, sau khi đã khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán chi trả mà không khôi phục được. Mặt khác, cũng giống như việc khắc phục hậu quả xảy ra sau khi phá sản doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trừ doanh nghiệp chuyên môi giới bảo hiểm), phải quy định rõ việc chuyển trách nhiệm cũng như các nghĩa vụ có liên quan của công ty chứng khoán đối với khách hàng.

Thứ sáu, những kiến nghị khác nhằm ổn định thị trường cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán

Một là phải cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của khách hàng.

Tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán, một đối tượng thường xuyên của các chủ thể kinh doanh là khách hàng của mình. Họ có thể là nhà đầu tư có tổ chức hoặc người đầu tư cá thể. Nhưng xét trong mối tương quan với chủ thể kinh doanh chứng khoán, họ thường thiếu hiểu biết hơn. Sự thiếu hiểu biết ở đây hoàn toàn chấp nhận được và pháp luật bảo hộ cho chính sự thiếu hiểu biết đó. Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi có một số đề xuất cụ thể:

– Phải tách bạch các hoạt động của công ty chứng khoán để đảm bảo quyền lợi cho người đầu tư, gắn trách nhiệm của công ty chứng khoán và người hành nghề kinh doanh chứng khoán với những thiệt hại công ty gây ra cho khách hàng, kể cả biện pháp ký quỹ của nhân viên kinh doanh chứng khoán. Quy định cụ thể để tách bạch hoạt động này ở Việt Nam còn quá mỏng, chưa đủ để giám sát việc thực hiện trong thực tế cũng như các chế tài cũng còn quá hình thức, chưa gây áp lực được đối với đối tượng có hành vi vi phạm. Yêu cầu tách bạch hoạt động môi giới và tự doanh của công ty chứng khoán phải thực hiện càng sớm, càng có lợi cho người đầu tư.

– Khi hành nghề, các công ty chứng khoán và nhân viên công ty chứng khoán phải gắn trách nhiệm của mình với những thiệt hại gây ra cho khách hàng, kể cả trách nhiệm vật chất. Đối với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, cũng giống như các hoạt động tư vấn khác, phải có những tiêu chuẩn nhất định cho người hành nghề. Pháp luật các nước có thể đề ra những quy định rất cụ thể, thậm chí áp dụng tiền ký quỹ đối với tổ chức tư vấn đầu tư và đối với ngay chuyên gia tư vấn. Đây chính là biện pháp đảm bảo trong chừng mực nhất định đối với chất lượng tư vấn. Lỗi trong giao dịch không phải chỉ xuất hiện đâu đó trên thị trường “đại gia” mà đã “chễm chệ” trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Lỗi giao dịch của Công ty Chứng khoán Sài Gòn 14/1/2002 là ví dụ điển hình.

– Cũng liên quan đến việc hành nghề chứng khoán, chúng tôi cho rằng, không chỉ yêu cầu công ty chứng khoán và nhân viên của mình phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những thiệt hại đã gây ra cho khách hàng mà còn phải gắn trách nhiệm của bản thân nhân viên công ty với công ty.

Hai là tăng cường công tác hậu kiểm đối với các chủ thể kinh doanh chứng khoán.

Kể từ khi nước ta chyển cơ chế quản lý từ cơ chế hành chính trực tiếp sang cơ chế thị trường, vai trò của chính thành viên xã hội ngày càng được đề cao. Gắn với hoạt động kinh tế là cơ chế mở cho các chủ thể kinh doanh. Pháp nhân kinh tế được hình thành chủ yếu theo quyết định của chính các sở hữu chủ. Nhà nước chỉ là người xác nhận sự ra đời của các tổ chức ấy. Nhưng đi kèm với chế độ công nhận là những biện pháp giám sát việc tuân thủ pháp luật kinh doanh của chính các chủ thể kinh doanh – công tác hậu kiểm. Các chủ thể kinh doanh chứng khoán cũng không nằm ngoài cái chung đó. Thực trạng công tác hậu kiểm của chúng ta hiện nay đều được các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử cũng như các chuyên gia về vấn đề này thừa nhận rằng đang bị bỏ lửng hoặc quá yếu. Câu hỏi đặt ra là công tác hậu kiểm sẽ được áp dụng như thế nào? Riêng đối với công ty chứng khoán, những thực thể đang thực tế tồn tại tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán hiện nay, đã có những quy định cụ thể về chế độ báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh24 nhưng đối với các chủ thể có liên quan khác, những quy định này hiện nay đang thiếu hoặc chưa rõ ràng, hoặc có sự xâm lấn giữa công tác hậu kiểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán với các hoạt động kinh doanh khác.

Câu hỏi thứ hai là cơ quan nào sẽ thực hiện công tác hậu kiểm? Theo quy định của pháp luật hiện hành, đang có cùng lúc nhiều cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu chủ thể kinh doanh chứng khoán báo cáo kết quả hoạt động của mình. Có thể chỉ ra một số chủ thể mang tính đại diện như: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý chuyên ngành; Cơ quan kế hoạch và đầu tư nếu đó là doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc Doanh nghiệp chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài; Bộ chủ quản nếu doanh nghiệp chứng khoán là công ty con của một doanh nghiệp nhà nước hạch toán toàn ngành. Nếu chấp nhận tất cả các cơ quan này đều có thẩm quyền thì trình tự hoặc thứ tự báo cáo được thực hiện như thế nào? Không có câu trả lời chính xác cho vấn đề này từ các quy định của pháp luật hiện hành. Vì vậy phải xác định chính xác, chính thức bằng văn bản pháp luật có hiệu lực cao để giải quyết những vấn đề trên. Đề xuất này, chúng tôi cho rằng cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, nội dung công tác cải cách hành chính mà chúng ta đang quyết tâm thực hiện.

Câu hỏi thứ ba là, nếu doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán không làm tốt công tác hậu kiểm thì những chế tài nào sẽ được áp dụng và mức độ áp dụng có tương xứng hoặc thỏa đáng hay không? Nghị định 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đang bị vướng bởi chính Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính25. Mức phạt, hình thức xử lý trong Nghị định 22 chưa tương xứng với những hậu quả pháp lý cũng như hậu quả kinh tế mà hành vi vi phạm có thể gây ra. Nói khác đi, với mức phạt cao nhất hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán không có nhiều ngại ngần, thậm chí sẵn sàng nộp phạt. Các chuyên gia về vấn đề này đã chỉ ra rằng: “Các chế tài được quy định đối với các vi phạm kinh tế chưa đủ sức ngăn chặn các vi phạm”26.

Trên đây là một số ý kiến cá nhân xin được trao đổi cùng với bạn đọc với mong muốn cuối cùng: Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và thịnh vượng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguồn: Ủy ban Chứng khoán nhà nước: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh chứng khoán, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Mã số UB.02.09, 2002, tr. 9.

2 Nguồn: Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, tập 1, tr. 255-256, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

3 Nguồn: Chứng khoán và thị trường chứng khoán – Những kiến thức cơ bản, tr. 81, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 1/1999.

4 Nguồn: Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Nghị định thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998, tr. 4, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2002.

5 Nguồn: Vai trò của các tổ chức định mức tín nhiệm trong các thị trường chứng khoán mới nổi, Công ty tài chính quốc tế, 1997.

6 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng chỉ định thanh toán từ tháng 7/2000 đến tháng 6/2002 và phương hướng mục tiêu, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, 7/2002.

7 Nguồn: Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Phần 3 – Các giải pháp lớn.

8 Nguồn: Khả năng thành lập các công ty chứng khoán của các doanh nghiệp. Hy vọng – dè dặt trước một cơ hội mới, Hồ Khôi, Tạp chí Chứng khoán, số 8 (22) 2000, tr. 21 – 25.

9 Nguồn: Điều 83 Luật Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành về vốn pháp định áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.

10 Nguồn: Luật kinh doanh bảo hiểm, 2000.

11 Nguồn: Điều 121, 122 Luật Chứng khoán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 1998.

12 Nguồn: Matthew Harrison: Asia – Pacific Securities Market, page 440. Longman Group (far East) Ltd,

1991.

13 Nguồn: Điều 12 khoản 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo

Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

14 Nguồn: Điều 29 khoản 1 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998.

15 Nguồn: Điều 5 khoản 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

16 Nguồn: Luật Kinh doanh bảo hiểm.

17 Nguồn: Khoản 4, Điều 30 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998.

18 Nguồn: Điều 12 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

19 Nguồn: Điều 16 khoản 2 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

20 Nguồn: Điều 3 Khoản 1 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

21 Nguồn: Điều 13, 14, 22 Luật Tổ chức tín dụng.

22 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1999 – 2001.

23 Nguồn: Thông tư 02/2001/TT-UBCK ngày 28/9/2001.

24 Nguồn: Điều 23-30 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

25 Nguồn: Lời nói đầu Nghị định 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000.

26 Nguồn: Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tr. 23, Bộ Tư pháp – Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2002.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2003

CHỨNG KHOÁN ĐƠN GIẢN NHƯ CƠM BÌNH DÂN

Phần 1: Quy tắc vàng 3 x 7 = 21

Một đội bóng không để lọt lưới luôn luôn làm một đội chiến thắng, triết lý ngược đơn giản vậy nhưng có quá nhiều người lại coi thường và làm ngược lại, tại sao Asenal thành tích lại nghèo nàn như vậy ở cả hai đấu trường Ngoại hạng và Champion cup. Hãy xem các đội bóng của người Ý, họ mới nhiều thành tích làm sao ?

Khi bạn đầu tư chứng khoán, trước khi nghĩ đến chuyện kiếm một khoản tiền mang về thì hãy nghĩ đến việc giữ tiền của bạn thật chặt đã.

Thông thường một nhà đầu tư thường quyết định đúng đắn với tỷ lệ bao nhiêu thì mới có lãi ?

6.jpgThống kê chỉ ra rằng, chỉ cần đầu tư đúng trong 3-4 lần trong 10 lần đầu tư là bạn đã có thể trở thành một nhà đầu tư cừ phách trên thị trường.

Hãy tuân thủ theo quy tắc sau để đảm bảo bạn luôn là một trong những nhà đầu tư cuối cùng còn lại trên chiến trường:

– Thống kê chỉ ra rằng có đến 75% các cổ phiếu thường tăng giá lên khỏi mức giá cũ của nó từ 20% đến 30%, sau đó, các cổ phiếu lại quay đầu giảm giá, thậm chí còn đi xuống sâu hơn mức giá ban đầu. Do vậy hãy bán ngay cổ phiếu của bạn khi mức lãi chạm ngưỡng 21%, đừng quá tham lam, nếu không, bạn sẽ lại phải nhìn lợi nhuận của mình bị cuốn phăng cùng với cơn lũ của thị trường.

– Khi cổ phiếu của bạn bị xuống giá tới mức -7%, không có ngoại lệ trong trường hợp này là: bạn phải bán ngay lập tức.

– Một quy tắc đơn giản: trong 4 lần đầu tư, kể cả bạn đầu tư tệ hại đến mức 3 lần thua -7% và chỉ có 1 lần duy nhất thắng với mức lãi suất 21%, bạn vẫn không thua lỗ.

Ví dụ 1: bạn có 200 triệu, bạn chia làm 4 phần và đầu tư vào 4 loại cổ phiếu khác nhau, với số tiền bằng nhau là 50 triệu/1CP
– Cổ phiếu A: Bạn lỗ -7%
– Cổ phiếu B: Bạn lỗ -8%
– Cổ phiếu C: Bạn lỗ -6%
– Cổ phiếu D: Bạn lời 21%
_______________________      
Số tiền còn lại của bạn vẫn sẽ là 200 triệu
(tất nhiên phải trừ đi cả chi phí môi giới cho công ty chứng khoán)

Ví dụ 2: Bạn có 200 triệu cp
– Lần 1: bạn dồn hết vào 1 mã cp, bạn lỗ -7%, bạn còn lại 186 triệu
– Lần 2: bạn dồn hết vào 1 cp, bạn lãi 21%, bạn còn: 225 triệu
– Lần 3: bạn dồn hết vào 1 cp, bạn lại lỗ -6%, bạn còn:212 triệu
– Lần 4: bạn dồ hết vào 1 cp, bạn lỗ -8%, bạn còn 195 triệu

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng tỷ lệ 1/4 này lên?
Phần 2: Đầu cơ hay Đầu tư1173303.jpg
Hãy nhớ rằng 100% các cổ phiều đều có thuộc tính ĐẦU CƠ. Bạn thường được nghe những câu nói kiểu: “tôi là nhà đầu tư dài hạn, tôi chỉ mua và nắm giữ dài hạn”, “giá xuống thì kệ đi, tôi đầu tư dài hạn cơ mà, kiểu gì cuối năm giá chả lên” … Hãy xem một ví dụ về giá cổ phiếu TDH cách đây 8 tháng và giá hiện tại hoặc giá của VTC cách đây 15 tháng và giá hiện nay (chưa kể chuyện bạn bị lỗ mà vốn liếng của bạn còn bị chôn vùi tại đó và bỏ qua vô số cơ hội kiếm lời khác trên thị trường). Có thể bạn vẫn nghe thấy: “đầu tư là phải dài hạn, phải 5 tới 10 năm mới thu lợi nhuận về” Hãy nhìn vào các doanh nghiệp cổ phần lớn của VN cách đây 5 – 10 năm: Đông Nam Mobile, Thiên Nam Computer, 3C Computer…

Bạn sẽ rất ngạc nhiên khi nghe định nghĩa sau về nhà đầu tư và đầu cơ nếu lấy đúng từ gốc latinh của 2 từ này:

+ Nhà đầu tư là một con bạc khát nước nhất, họ đặt hết tiền vào một cửa và theo đuổi – hy vọng vào cửa đó đến cùng!

+ Nhà đầu cơ là người luôn theo sát và quan sát diễn biến của thị trường, họ luôn quyết định có lợi nhất cho bản thân, họ mặc kệ thị trường nghĩ gì.
Cách giải thích này có vẻ trái ngược với những gì chúng ta vẫn nghĩ, vì mọi người trên thị trường luôn tự nhận mình là “nhà đầu tư” theo ý nghĩa tốt đẹp và có ý muốn chối bỏ mình là “nhà đầu cơ”, có lẽ nền kinh tế XHCN 50 năm đã làm cho người ta kinh sợ từ “đầu cơ” này.

Hãy tạm quên 2 từ đầu tư và đầu cơ để đến với khái niệm “dài hạn”, một khái niệm có vẻ không thực tế đối với những người trẻ tuổi đang có vô số nhu cầu cần đáp ứng trong ngắn hạn như tôi và các bạn. Hãy để cho các tổ chức khổng lồ ôm cái danh hiệu đó và họ luôn chỉ đạt được các mức lợi nhuận tệ hại dưới 20%/năm (PRUB1 là một ví dụ).

Hãy luôn bán cổ phiếu ra khi nó chạm ngưỡng thua lỗ -7%, đừng trở thành “nhà đầu tư chân chính bất đắc dĩ”. Các cơ hội khác còn nhiều ở phía trước hơn bạn tưởng. Mới chỉ có hơn 200 DN niêm yết/ 350,000 DN tại VN.

Hãy luôn hiện thực hóa lợi nhuận khi đạt kỳ vọng từ 21% trở lên. Nếu một năm bạn quyết định đúng 2 lần đầu tư liên tiếp bạn đã có thể đạt mức lợi nhuận cỡ 50% /vốn bỏ ra rồi.
Phần 3: “Đa phần mọi người thua lỗ vì không biết cách bán cổ phiếu đúng thời điểm”

Khi giáo sư viết những dòng này lên bảng, cả nhóm chúng tôi cùng ồ lên với sự ngỡ ngàng thật sự vì với chúng tôi, mua và chọn cổ phiếu tốt là quan trọng nhất, còn việc bán ra thì ai cũng có thể làm được, miễn là có lãi. Nhưng khi phân tích sâu hơn những vụ đầu tư của cá nhân tôi, tôi thấy rằng: sự đầu tư yếu kém của mình hoàn toàn là do không biết bán cổ phiếu ra đúng thời điểm.

Tháng 2/2007 tôi đầu cơ vào các cổ phiếu giá thấp và đang lên cơn sốt như PTS  và ICF với giá 49 và 34. Sau đó 10 ngày, giá PTS chạm ngưỡng 71, giá ICF lên đến 59. Do không biết cách bán những cổ phiếu này khi nó đạt đỉnh, tôi đành ngồi nhìn lợi nhuận của mình bị cơn lũ “tháng tư đen tối” cuốn phăng đi. Thật may mắn là tôi vẫn bán CUT LOSS kịp thời để có thể thu hồi vốn.

Tại sao tôi lại đưa bài học này lên trước? Phần vì từ những kinh nghiệm xương máu của tôi, phần vì thị trường hiện nay (tuần 8/6/2007) có những hiện tượng đúng với những gì trong quá khứ tôi đã từng trải qua. Thị trường đang trong giai đoạn mà những người mới tham gia (NB) không thể mua tiếp cổ phiếu vào trong ngắn hạn.

Khi quyết định bán cổ phiếu, những câu nói sai lầm sau tôi luôn luôn được gặp và bị gặp, nó lặp lại nhiều lần, và quả thực sai lầm này lại luôn lặp lại với chính tôi (hàng ngàn năm nay bản tính “bày đàn” và “tham lam” của loài người hầu như chưa hề suy giảm đáng kể bao nhiêu):
.
– “Bán làm gì nhỉ, bán ra là lỗ thật, để nguyên kiểu gì sau này nó chẳng lên lại”.

– “Cổ phiếu đang lên ầm ầm như thế, bán rồi lại ngồi mà tiếc”.

– “Để kệ đi, xuống rồi lại lên, bán đi bán lại suốt ngày chỉ phí tiền môi giới”.

– “Không có khả năng nhìn tài khoản của mình thua lỗ đến 40% thì không thể là một nhà đầu tư” !

– “Phải có cái đầu lạnh, lỗ cũng vẫn phải bình tĩnh”.

Và thật lạ là tôi thấy ai cũng có lý cả.

Nhưng bình tâm suy nghĩ lại, tôi tự đặt cho mình các câu hỏi và tôi biết mình phải chọn đáp án nào đúng cho tôi. Cuộc sống vốn vẫn vậy, có những điều đúng với người này nhưng không đúng với người kia. Vấn đềơở chỗ: “Tôi là nhà đầu cơ vốn nhỏ, chỉ có vài trăm triệu. Mục tiêu của tôi là cố gắng đạt lợi nhuận lớn hơn 40% trong 1 năm (tất nhiên lợi nhuận càng nhiều càng tốt), nhưng tôi không thể chịu đựng được mức lỗ 40%/năm, và tôi cầu mong không bao giờ tôi phải rơi vào tình huống “đầu lạnh”. Tôi cũng không có khả năng để vốn của tôi nằm lại 1 năm tại một mã cổ phiếu nào đó không tăng giá. Và tôi cũng mạo muội võ đoán có đến 80% nhà đâu tư suy nghĩ giống tôi”.

Các quy tắc bán cổ phiếu ra đơn giản (nhưng thực ra rất khó quyết định và nhận biết) được các giáo sư trong quá trình giảng dạy lặp đi lặp lại nhiều lần:

-Với các cổ phiếu tăng trưởng bình thường (không có hiện tượng tăng trưởng đặc biệt như TCT, BMC), hãy bán ngay khi nó đạt lợi nhuận từ 21%.

– Bán CUT LOSS ngay khi cổ phiếu thua lỗ đến -7%.

– Tuyệt đối không đi ngược lại xu hướng thị trường, hãy làm sao nhận biết được:

+ Thị trường đang ở trên đỉnh và hãy bán ra để hiện thực hóa lợi nhuận.

+ Nếu không bán được ở đỉnh, hãy bán ra ở phiên phục hồi kế tiếp gần đỉnh nhất.

Thật khó để các nhà đầu tư nhận biết “đỉnh” và “đáy” của giá cổ phiếu. Nhưng dù cổ phiếu của bạn có tốt đến cỡ nào, khi thị trường suy thoái chung, nó cũng sẽ đi xuống, hãy xem quá trình suy thoái của “Tháng 4 đen tối”  vừa qua, 100% các cổ phiếu đều suy giảm.

Nếu bạn là một NB, vốn nhỏ, khả năng cơ động T+1 không có, hãy luôn bán cổ phiếu khi thị trường đang ở trên đỉnh. Còn khi thị trường đã qua đỉnh, hãy ngừng giao dịch.

Các dấu hiệu sau giúp ta phát hiện đỉnh thị trường hoặc thị trường vừa qua đỉnh, đang lình xình đi xuống:

– Khi các cổ phiếu hàng đầu dẫn dắt thị trường (STB, FPT, REE, SJS, …) đang tăng rất mạnh, sau đó tăng nhẹ hoặc đứng yên đi cùng với khối lượng giao dịch lớn ở các phiên (tăng nhẹ, giảm nhẹ, đứng yên), đó là dấu hiệu thị trường đang ở trên đỉnh.

– Khi các phiên phân phối xuất hiện gần nhau, cứ 2 đến 3 phiên giao dịch lại xuất hiện một phiên phân phối, đó là dấu hiệu thị trường vừa qua đỉnh và đang lình xình, sẽ đi xuống. Phiên phân phối là những phiên mà: khối lượng giao dịch tăng lớn, chỉ số Vn-Index tăng nhẹ, đứng yên, giảm nhẹ, hoặc phiên 1 tăng, đến phiên 2, 3 giảm.

– Khi chỉ số Vn-Index tăng đột biến trong 1 ngày (bùng nổ, bứt phá, chạm đích), suốt quá trình tăng 5 – 20 điểm/phiên, đột nhiên Vn-Index tăng đến 30 điểm hoặc thậm chí 40 điểm trong một phiên khác tiếp sau. Hãy cảnh giác, sau niềm vui vỡ òa này là dấu hiệu báo thị trượng đã hết đà bứt phá lần cuối để chạm đích.

– Khi các mã cổ phiếu hàng đầu ngày càng lu mờ, thị trường đột nhiên chói sáng bởi các nhân tài PNs xa lạ, đây là dấu hiện rõ rệt nhất về việc thị trường sắp đi xuống. Ngay đến “đàn tuấn mã” cũng sẽ không kéo nổi cỗ xe Vn-Index thì những “nhân tài PNs xa lạ” kia liệu có thể thay thế?

– Khi đột nhiên lượng bài viết ca ngợi thị trường và hô hào thị trường đang phát triển mạnh mẽ ngày càng hưng phấn và tần xuất xuất hiện cao độ trên báo chí, truyền hình, diễn đàn, thì hãy cẩn thận vì sắp có những đột biến tiêu cực xảy ra.

Tuy nhiên để nhận biết được chính xác xu hướng thị trường là điều vô cùng khó. Khi có các hiện tượng xuất hiện, bạn phải bám sát thị trường và theo dõi 4 đến 7 phiên kế tiếp để xác nhận chính xác nhận định của bạn.

Hãy yên tâm về chuyện thời gian, bạn vẫn có thể rút khỏi thị trường một cách an toàn trong điều kiện bình thường (không có biến cố đột ngột). Thị trường có đủ thời gian cho bạn rút lui vì khi thị trường qua đỉnh nó vẫn cố gắng tiếp tục phục hồi mạnh mẽ hoặc lình xình đủ lâu. Đừng để sự tham lam chi phối bạn, đừng nghĩ rằng: “mình là người thông minh, mình cố lướt sóng cổ phiếu này thì vẫn có lãi và vẫn kịp rút ra”!

Hãy nhớ: đội bóng để lọt lưới ít nhất mới là đội chiến thắng!

Phần 4: Chọn cổ phiếu theo phương pháp ĐẦU CƠ GIÁ LÊN CANSLIM

1023590.jpgPhương pháp này giúp bạn chọn cổ phiếu để đầu cơ khi thị trường đang lên giá, dùng để đầu cơ trong ngắn hạn tại thị trường VN hiện nay (1-3 tháng, 3-6 tháng), phương pháp này chỉ hiệu quả khi thị trường đang trong xu hướng UPTREND.
William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công thức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hiện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập.
300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào thị trường chứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, nỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc kết được 7 yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong tương lai. Bảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CANSLIM.
Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty niêm yết cổ phiếu trên TTCK đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ phiếu đó.

Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CANSLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích chứng khoán hiện nay. “CANSLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”, John Neff, một cây đại thụ của phố Wall, cho biết.

CANSLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu:

C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)

William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất.

Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và như thế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen… Điều quan trọng là các nhà đầu tư cần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, chẳng hạn có thể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%.

A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)

Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.

Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.

N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức giá trần mới)

Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán.

S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)

Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.

Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.

L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu) 102376.jpg

Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá.

I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)

Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có thể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khiến giá cổ phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định chế tài chính đầu tư nắm giữ cổ phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì điều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh khoản của cổ phiếu xuống thấp.

M: Market Direction (định hướng thị trường)

Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí kể trên, nhưng đến tiêu chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai lầm thì sẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua sẽ mất giá và khiến bạn thua lỗ. Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” những chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Một trong những thành công lớn nhất của William là đầu tư vào cổ phiếu của hãng dược phẩm Syntex. Đây là hành động táo bạo và liều lĩnh, theo đánh giá của các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy giờ, bởi Syntex là hãng sản xuất thuốc tránh thai đầu tiên trên thế giới. Nhưng rồi kết quả đã chứng minh quyết định của William là đúng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Syntex đã công bố doanh thu hàng quý tăng trưởng trên 300% và cổ phiếu của Syntex từ chỗ còn “ẩn danh” với mức giá 100 USD/cổ phiếu đã trở thành cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ với mức giá 550 USD/cổ phiếu trong vòng chưa đầy sáu tháng. Chính nhờ khoản lợi nhuận kếch sù từ Syntex mà William đã có tiền để thành lập công ty William J. ONeil & Company của riêng mình.

Goerge Soros, một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại phố Wall, đúc kết rằng: “Không có lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận nhanh và lớn bằng đầu tư chứng khoán”. Có khá nhiều người xem việc đầu tư chứng khoán là cuộc chơi ngẫu hứng với hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn này dường như không có chỗ cho những quyết định theo cảm tính. Đối với William ONeil cũng như nhiều “cây đại thụ” khác tại phố Wall, các quyết định lựa chọn cổ phiếu cần được dựa trên sự phân tích và phối kết hợp giữa các yếu tố định lượng và định tính. Chìa khoá phân tích trong đầu tư cổ phiếu là tìm ra những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong thời điểm bạn mua chúng. Nói cách khác, bạn phải có kỹ năng phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề cùng với việc hoạch định một kế hoạch đầu tư thích hợp để xác định thời điểm mua vào những cổ phiếu mạnh và bán đi những cổ phiếu yếu.

Phần 5: Hầu hết các cổ phiếu đều tồi tệ, chỉ một số ít trong chúng có thể tăng giá mạnh mẽ

Hàng ngày đọc các bản tin, nghe các bình luận của các chuyên gia, tôi vẫn thường được nghe những câu: “đó là cổ phiếu Blue chip, yên tâm đi”, “bạn là NB à, cứ Bluechip là mua thôi, yên tâm cuối năm kiểu gì cũng lãi”, “A là cổ phiếu Blue chip hàng đầu và luôn được mọi người săn đón”, “Tài khoản của tôi toàn Blue Chip – tôi không sợ gì cả”, “Cổ phiếu B này tôi đã nhờ một người ở CTCK phân tích, nó tốt lắm”….

Khi mới tham gia trên thị trường tôi cũng luôn luôn nhìn những cổ phiếu như FPT, REE, SAM, v.v… một cách đầy ngưỡng mộ và hy vọng sẽ có ngày mình được sở hữu những cổ phiếu quý tộc đó.

Tham gia khóa học chứng khoán cùng tôi có một vài người bạn. Sau vài buổi ngượng nghịu ban đầu mọi người bắt đầu thân mật với nhau hơn và cởi mở giãi bày mọi thất bại, thành công của mình trên thị trường. Họ đều là những người mới thực sự tham gia vào TTCK từ đầu 2007, một số có những thắng lợi lớn ở năm 2006 nhưng khi hỏi kinh nghiệm thì hoàn toàn lắc đầu vì đó là do vận may đột nhiên đến. Khác với mọi người, thay vì để ý đến các lần thành công của họ tôi lại đặc biệt chú ý đến các lần họ gặp thất bại! Thật ngạc nhiên, có đến 80% các vụ thua lỗ đã làm cho họ mất đi khá nhiều thành tựu của năm 2006 (là năm mà không có ai thua lỗ vì chứng khoán cả) thuộc thành phần các cổ phiếu hạng “Thương gia” trên. Hóa ra không có CP nào là loại tốt trên thị trường cả. Hãy xem nếu ai đầu tư vào FPT, SAM, REE, GMD, NTP, ABC, PPC… từ đầu năm 2007 đến nay, họ thu được thành tựu như thế nào?

Tìm hiểu việc tư vấn và danh mục đầu tư của các quỹ lớn lại mang lại cho tôi một điều ngạc nhiên không kém, danh sách CP tốt họ đưa ra cho khách hàng lựa chọn gần như giống hệt nhau. Làm nghề tư vấn đầu tư lại dễ dàng như thế ư?

Tìm hiểu sâu hơn thì tôi được biết hầu hết các Quỹ đầu tư đều sử dụng các phần mềm mô hình hóa và chọn lọc cổ phiếu tương tự như nhau. Chính vì vậy đáp số của các chương trình này đưa ra ở mười quỹ khác nhau là một bản giống nhau. Do có quá nhiều nhà đầu tư lớn cùng mua các mã cổ phiếu này mà giá của chúng luôn cao một cách đáng ngờ!

Một số người lại bảo thủ ngây thơ, họ có những cảm tình đặc biệt với một vài mã CP, và dù thời cuộc xoay vần ra sao, họ vẫn luôn trung thành một cách mù quáng. Một số khác do thắng lợi một lần ở một mã CP nào đó, và lần phục hồi sau của thị trường họ lại lao vào các cổ phiếu này rất hào hứng. Tuy nhiên kết quả thu được thường thảm hại hơn cả mức trung bình của cả thị trường. CŨng giống như trong chính trị, mỗi một giai đoạn mới khác nhau, thị trường CP luôn chọn ra các gương mặt mới khác nhau đứng lên dẫn dắt nó đi tiếp.

Là một nhà đầu cơ chờ giá lên, bạn cần công bình và lạnh lẽo, hãy nhớ tất cả các cổ phiếu đều tồi tệ và bình đẳng như nhau, chỉ một số ít ỏi trong chúng có thể mang lại lợi nhuận lớn hơn 25%. Dù ít ỏi và khó chọn, nhưng hãy yên tâm vì chắc chắn là có các cổ phiếu mạnh mẽ kiểu đó đang ở ngoài kia chờ bạn !

Phần 6: Lăn xả vào thị trường và chỉ nên tin vào chính bạn 005.jpg

Khi nghiên cứu và tìm hiểu những phẩm chất để trở thành một nhà đầu cơ thắng lợi trên thị trường, tôi sa vào một ma trận của các chân lý và các học thuyết, nó làm tôi bối rối, lúng túng, và không tự tin vào bản thân mình nữa. Thật lạ, vì trước khi tham gia TTCK tôi vốn là một người chỉ biết tin vào chính bản thân mình. Càng tìm hiểu tôi càng hoang mang, hóa ra việc sưu tập các lời khuyên tưởng là khôn ngoan lại làm cho gánh nặng nghi ngờ trên vai tôi tăng lên nhanh chóng.

“Hãy kiên nhẫn, hãy lạnh lùng vì kể cả thua lỗ đến -40% đi nữa thì những ai đầu tư từ 2001 đến nay cũng đều lời 1000% cả”, “hãy mua và quên đi”, “phải dũng cảm và liều lĩnh mới thắng được”, “phải có nhiều thông tin nội gián”, “ phải am hiểu về tài chính và kế toán, phải đi học vài khóa về đầu tư”, “phải tham lam khi mọi người sợ hãi, phải sợ hãi khi mọi người tham lam”, “phải nghe các chuyên gia đầu tư tư vấn”, “phải dựa theo thị trường”, “phải chia đôi tài khoản ra, một nửa để lướt sóng, một nửa để dài hạn”, “phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh”, “phải ngày nào cũng lên sàn”…, rất nhiều và rất nhiều các lý thuyết, kỹ năng, tiểu xảo.

Đột nhiên tôi nhận ra quanh mình có quá nhiều nguồn tư vấn miễn phí về chứng khoán, một trào lưu mới của giới truyền thông  trong việc đưa tin, bình luận, tư vấn. Thậm chí một số tổ chức tài chính quốc tế nổi tiếng cũng nhiệt tình biếu không các bản cảnh báo về TTCKVN. Tôi thử làm theo vài lời khuyên và cũng đã có dịp hành xử kiểu bày đàn. Kết quả là tôi luôn được một chữ LỖ. Cuối cùng tôi nhận ra rằng: chỉ có tin vào chính tôi thì mới có thể có những thành tựu từ thị trường được, những bài học nửa vời luôn làm vơi đi túi tiền của tôi.

Để hiểu được thị trường bạn phải “chinh chiến” thực sự trên thị trường. Thị trường vốn đầy bất trắc và phức tạp vô cùng, nhưng những hiện tượng của nó thì ai để ý cũng đều nhận ra. Vấn đề là chúng ta có đủ sự chăm chỉ và kiến thức để tổng hợp các hiện tượng của nó và ra quyết định cho phù hợp với nó không.

Hàng ngày tôi dành 4 đến 6 tiếng để đọc các biểu đồ và xem xét số liệu êề kết quả giao dịch cuối ngày của những cổ phiếu trong danh sách quan tâm của tôi, một công việc nhàm chán và tẻ nhạt vô cùng, nhưng bù lại khi có một sự hiểu biết về một mã CPp nào đó trên bảng điện tử. Tôi luôn tìm được những thông tin khá đầy đủ về CP đó và hoàn toàn có đủ tự tin để viết 1 lệnh mua hoặc bán. Tôi cũng đã gặp vô số các thất bại và thua lỗ, nhưng cũng nhờ đó mà kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của tôi được cải thiện rất nhiều.

Và như tôi đã trình bày trong phần đầu, chỉ cần 50% số lần quyết định của tôi là đúng đắn, tôi đã có những thành tựu đáng kể. Hãy lăn xả vào thị trường, bạn chỉ có thể bơi giỏi với điệu kiện bạn phải vật lộn hàng ngày với nước trong bể bơi. Hãy trau dồi kiến thức và tích lũy thông tin, hãy tự tin vào các quyết định của bạn và chỉ của chính bạn mà thôi. Tôi chưa từng thấy một nhà tư vấn nào phải bồi thường thua lỗ cho nhà đầu tư cả, nhưng nhà đầu tư mất tiền thì hàng ngày tôi gặp rất nhiều.

Nếu bạn coi đầu cơ chứng khoán là “chơi chứng khoán” thì tôi khuyên bạn nên dừng lại. Cũng giống như mọi ngành nghề khác, để thành công cần rất nhiều mồ hôi, công sức, và cả nước mắt nữa. Và hãy nhớ: cơ hội như 2006 thì hàng trăm năm chỉ xuất hiện được một lần, hãy quên đi các tấm gương “làm giàu cực dễ”!

Phần 7:Cái cần tìm trong báo cáo bạch & báo cáo tài chính 1413257.jpg

Thời niên thiếu và sinh viên, tôi đặc biết có ác cảm với những người làm trong lĩnh vực kế toán tài chính. Thế nhưng người con gái dịu dàng bên cạnh tôi bây giờ lại tốt nghiệp Học viện ngân hàng và hành nghề kế toán.

Trong suốt 7 năm đi làm việc cho người khác, tôi cũng đặc biệt dị ứng với các sự vụ liên quan đến tài chính vì trong mắt tôi hình dung: cứ dính đến tài chính là có vẻ thiếu trong sạch. Sau này do đặc thù công việc, tôi buộc phải đối diện với các bản báo cáo tài chính đầy ma thuật, và tôi cũng chỉ thường xem lướt qua lấy lệ, may thay phần việc đó sau này có người tin cậy gánh đỡ hòan toàn.

Khi tham gia trên TTCK, tôi bị buộc phải đọc các BCTC và các bản báo cáo bạch, bản nào cũng dài dòng, rắc rối và đầy vẻ phức tạp. Phải chăng những người lập ra nó càng muốn ít người hiểu được nó càng tốt? Và tôi đã dành thời gian 6 tháng của mình chỉ để học cách đọc các BCTC và các bản báo cáo bạch. Tôi đã phát hiện ra rất nhiều điều thú vị  trong các báo cáo này. Và tôi lại càng thấy rằng: chỉ có tin vào chính bản thân thì mới có thể trụ vững trên thị trường.

Rất phức tạp để nói để các bạn hiểu làm cách nào để hiểu toàn bộ một bản BCTC hoặc một báo cáo bạch, nhưng vì khoản đầu tư của chúng ta, chúng ta buộc phải nghiên cứu chúng Tôi sẽ liệt kê một số kinh nghiệm đơn giản, không đòi hỏi bạn phải là một chuyên gia tài chính mà vẫn nắm được những cái quan trọng và cốt lõi nhất của DN:

– Khi đọc báo cáo bạch: phần thông tin về tăng trưởng, doanh số, lợi nhuận, lợi thế nghành, bạn có thể bỏ qua, phần này công ty nào cũng ca hay, múa giỏi nhưng đa phần các thông tin đều lạc hậu, hãy bỏ qua nó.

– Bạn đặc biệt chú ý đến phần danh sách cổ đông chiến lược, những công ty mà không có các cổ đông chiến lược là các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư tầm cỡ. Bạn hãy bỏ qua, đừng thương tiếc gì cả.

– Hãy xem “tổng số người lao động” và phần chi phí “quản lý doanh nghiệp”, bạn có thể võ đoán tiền lương trung bình của người lao động trong công ty bằng cách lấy hai con số này chia cho nhau, tránh xa các công ty có mức lương trung bình dưới 2 triệu. (Bạn hãy xem lương của người lao động tại TAICERA, HANOI MILK hoặc thậm chí RANG DONG là bao nhiêu?)

– Hãy đặc biệt chú ý đến sự tương xứng giữa con số “doanh thu” và “lợi nhuận sau thuế”, chúng phải tăng tương ứng với nhau, nếu doanh thu tăng không đáng kể mà lợi nhuận lại tăng vọt, hãy cảnh giác bởi các trò tiểu xảo của các nhân viên lập báo cáo, rất có thể họ được miễn thuế thu nhập trong kỳ vừa rồi hoặc thậm chí được đền bù đất, hoặc họ hạch toán cả lợi nhuận (từ tháng nào đó) do họ đầu tư các cổ phiếu mà có thể CP này đang rất tệ hại vào thời điểm bạn đang đọc báo cáo, hoặc họ chỉ đưa ra con số lợi nhuận trước chi phí, nếu bạn có ý định đầu cơ dài hơn 6 tháng, hãy cực kỳ cảnh giác với các công ty có thông tin chênh lệch bất thường này.

– Đừng chú ý đến tên công ty, thường các công ty yếu kém luôn chọn cho mình những cái tên đặc biệt hay.

– Hãy xem phần nợ/tổng tài sản của họ, cẩn thận với các công ty có tỷ lệ nợ thấp hơn 25% và cao hơn 75%.

– Chỉ chú ý đến con số “lợi nhuận sau thuế” thôi nhé, nhiều công ty có cách hạch toán rất hay cho chính họ: doanh thu rất cao và giá vốn rất thấp, nhưng chi phí còn cao hơn nữa, và cái cuối cùng thuộc về bạn là “lợi nhuận sau thuế” lại bé xíu hoặc tăng không đáng kể (TAICERA là một ví dụ điển hình về kỹ năng này trên sàn HOSC).

– Thường các công ty có bề dày về thương hiệu và tài sản lớn lại đạt được các chỉ số tài chính rất tầm thường, nhưng thực ra những BCTC của họ đa phần là rất trung thực đấy, hãy đặc biệt chú ý đến các công ty này, chỉ cần có một nhân tố mới (sản phẩm, lãnh đạo, dự án, đối tác…) là họ sẽ lột xác ngay, và các cổ phiếu này sẽ là những khoản đầu cơ rất tốt của bạn.

– Những công ty chậm nộp BCTC hoặc rất sốt sắng đưa thông tin về tình hình kinh doanh của họ, đừng vội hấp tấp với các công ty kiểu như vậy. Họ đều có dụng ý cả đó, và đa phần là các dụng ý đó mang thiệt hại đến khoản đầu tư của bạn.

– Nhiều công ty vẽ ra được rất nhiều dự án và đặc biệt là đều rất hấp dẫn. Nhưng bạn hãy cẩn thận và kiên nhẫn, kinh doanh không dễ đến mức cứ nói được là làm được. Cái mà chúng ta cần là người thật, việc thật, dự án thật đang triển khai.

–  Các công ty có cơ cấu và nghành nghề kinh doanh đơn giản thường là những công ty có lợi nhuận cao nhất (BMC, TCT). Bất cứ ai chuyên tâm vào việc gì họ đều chuyên nghiệp và ít thất bại và thành tựu họ đạt được cũng lớn hơn những kẻ đa năng khác. Kinh nghiệm của tôi là hãy tránh xa những công ty kiêu ngạo và có ý định trở thành người số 1 trong ngành nghề của mình
P/S: trong bài viết có nhắc đến một số CP, đây chỉ là các ý kiến mang tính chủ quan cá nhân và chia sẻ của tác giả, không hề có ý định PR hay nói xấu một mã CP nào

Phần 8: Xu thế thị trường quyết định 80% khoản đầu tư của bạn 196620.jpg

Có đến 80% các cổ phiếu đều tuân theo xu hướng của thị trường (nếu không muốn nói là 100%), trong mô hình CANSLIM, O-neil cũng chỉ cho chúng ta biết rằng: xu hướng thị trường là điểm quan trọng nhất quyết định thành bại việc đầu cơ của bạn.

Nếu ai đã từng đầu cơ chứng khoán từ 2006 thì sẽ hiểu điều này. Có những thời điểm 100% các cổ phiếu trên thị trường đều tăng giá đến hàng tuần hoặc ngược lại, đó là một sự cào bằng đến ngớ ngẩn của các chuyên gia. Mọi sự phân tích chỉ số đối với các CP là vô nghĩa, hiệu quả đầu tư vào các CP là như nhau, bất kể đó là một cổ phiếu BCs hàng đầu hay một PNs mạt hạng.

Mới vừa đây thôi, trong đợt phục hồi của thị trường vào nửa cuối tháng 5, khi Vn-Index tăng từ 950 lên 1100 điểm thì có đến 80% các CP đều tăng gía trên 20%. Như vậy nếu là một nhà đầu cơ dù tư chất có kém cỏi bao nhiêu nhưng nếu bạn cứ nhắm mắt mua bừa các CP vào thời điểm tuần 20/5 tới 26/5 và bán ra vào thời điểm 5/6 thì chắc chắn số lãi của bạn cũng có khoảng 20%.
Gần như 100% các nhà đầu cơ khôn ngoan đều chỉ giao dịch khi thị trường có xu thế rõ ràng, phần lớn trong số họ chỉ giao dịch khi thị trường đang có xu hướng giá lên (UPTREN), một số ít khác lại đặc biệt ưa thích việc bán khống khi thị trường giá xuống (DOWNTREND). Với thị trường tại VN, khi mà việc “bán khống” chưa có điều kiện để thực thi, thì chúng ta phải dùng một lựa chọn duy nhất: chỉ giao dịch khi nắm rõ được xu hướng thị trường khi chúng đang lên giá.

Vậy khi thị trường không rõ xu hướng (lình xình) thì chúng ta làm gì, tất nhiên là không làm gì cả, lựa chọn tốt nhất là thu hồi tiền mặt và rời xa thị trường. Hãy làm những gì mà bạn thích thú miễn là đừng liên quan đến TTCK. Với những mã CP trót mua cao ở đỉnh chúng ta buộc phải CUT LOSS, với các mã CP mà bạn đã chọn điểm mua đúng và cũng lình xình giá thì hãy để chúng yên.

1444274.jpgVâng, nói đơn giản như vậy nhưng không phải ai cũng làm được, có rất nhiều người (trong đó có cả tôi) thường xuyên có cảm giác bất an khi trong tài khỏan của mình không có một mã CP nào hoặc có quá ít cổ phiếu mà toàn tiền mặt, hoặc lo sợ một cách vô lý rằng người khác đang cướp hết cơ hội của mình. Với tôi, nếu có bị buộc phải rời xa thị trường thì thấy cuộc sống đột nhiên trở nên nhàm chán và vô vị đến mức tự bản thân tôi cũng cảm thấy rất ngạc nhiên, dù biết rất rõ rằng việc theo dõi bảng điện tử hàng ngày hoặc bàn luận liên miên về các cổ phiếu mà tôi ưa thích nào đó không mảy may tác động gì đến giá của chúng.
Xu hướng của thị trường đa phần mọi người đều có thể cảm nhận được, tuy nhiên do tình cảm lấn áp và đôi khi vì tự tin thái quá hoặc mềm yếu quá đáng đã đẩy chúng ta đến những tình huống rất khó xử và phải lựa chọn sự hy sinh không cần thiết. Tuy nhiên đó cũng là điều thú vị của cuộc sống mà nhiều người thích thú lựa chọn, nhưng trong lĩnh vực tài chính thì những chiến binh mang tên “cảm tính” luôn là kẻ được mai táng rất sớm.

Người Đức và người Nhật có thể có những thành tựu kinh đêển là do họ chỉ sử dụng một phẩm chất rất đơn giản, đó là tính “KỶ LUẬT”.

Giảm nhanh chóng số lượng cổ phiếu khi thị trường đang đi xuống hoặc đã đi lên gần đỉnh, hãy luôn sử dụng CUT LOSS để giữ mình, hãy sử dụng quy tắc 3×7=21 để hiện thực hóa lợi nhuận. Hãy tuyệt đối giữ kỷ luật với bản thân khi giao dịch, chỉ mua vào khi thị trường đang lên giá, hiện thực hóa ngay lợi nhuận khi thị trường đang lên đỉnh hoặc vừa qua đỉnh và đang nỗ lực phục hồi, bắt buộc phải CUT LOSS khi thị trường đang xuống giá

Và cùng với quá trình giao dịch bạn sẽ nhận thấy rằng thành tựu mà bạn đạt được gần như tỷ lệ nghịch với số lượng lần giao dịch của bạn.

Phần 9: Đầu cơ kiểu đấu súng cao bồi miền TÂY 230757.jpg

Các cao thủ cao bồi miền tây khi đối mặt đấu súng, khả năng rút súng nhanh và bắn chính xác chỉ hơn kém nhau vài phần trăm giây là phải trả giá mạng sống của chính họ. Trong đầu cơ chứng khoán có một kỹ năng nguy hiểm và hồi hộp gần giống như vậy, đó là một kinh nghiệm đầu cơ cực kỳ nguy hiểm nhưng cơ may về lợi nhuận lại rất cao, điều mà ai ai cũng sợ hãi. (phần này chỉ mang tính chia sẻ của tác giả, không mang tính học thuật)

Khi tôi lang thang qua vài sạp sách cũ ở vỉa hè, thật tình cờ và may mắn thấy có hai cuốn của Oneil do các tác giả người Việt biên dịch lại, tuy việc dịch thuật không được tốt lắm nhưng cũng có rất nhiều điều thú vị mà tôi tìm thấy từ hai cuốn của nhà đầu cơ danh tiếng nhất mọi thời đại này.

Trong các hồi tưởng của ông về các phi vụ đầu cơ của mình, tôi đặc biệt chú ý đến một chi tiết là vào một ngày của năm 1962 khi ông đi ngang qua phố Wall và nhìn lên bảng điện tử thấy hầu hết cả thị trường đều đi xuống thảm hại thì có một cổ phiếu lại CE một cách mạnh mẽ khác thường, và không hề do dự cũng như phân tích chi cả, ông gọi cho người môi giới và đặt lệnh mua cổ phiếu này ngay lập tức, phi vụ đó mang lại cho ông 250% lợi nhuận. Sau này ông mô hình hóa các cổ phiếu loại này trong các cuốn sách mà ông viết, và tên ông đặt cho chúng là “hiện tượng cổ phiếu cường tráng bất ngờ”, nôm na tại thị trường VN chúng ta gọi là “HÀNG NÓNG“.

Với đa phần các mã cổ phiếu này mà nói, việc phân tích kỹ thuật cũng như cơ bản giá trị là vô nghĩa bởi sự biến động quá lớn về khối lượng giao dịch và tâm lý qua từng phiên. Nhiều khi nó thăng tiến bất kể đến dư luận và tình hình chung của thị trường, và thông thường chu kỳ thành công của nó cũng rất ngắn ngủi kèm theo rủi ro lớn.

Oneil có đưa ra một định lý mà tôi rất tâm đắc là: “Các cổ phiếu quá đắt luôn tăng giá mạnh mạnh nữa và các cổ phiếu quá rẻ thì luôn giảm và giảm mạnh nữa !!!”, như vậy phân tích và cảm giác của bạn là vô nghĩa trong thị trường chứng khoán này !

Khi TCT tăng từ mặt bằng 90 tới 150 là mọi người đều đánh giá đã quá đắt. Thậm chí có rất nhiều bài viết phân tích hết sức giá trị và thuyết phục khẳng định mức cản 180 và mức kiệt sức là 220, nhưng hiện giờ TCT đang dao động ở 400.

Cảm giác của bạn như thế nào khi gặp một cổ phiếu đã tăng trần liên tục cỡ 3 phiên? Làm gì có cổ phiếu nào tăng trần đến 7-8 phiên để mà mình kịp bán? Làm sao lệnh mua của bạn được khớp khi dư mua trần toàn mấy trăm nghìn? Nắm giữ một cổ phiếu mà khả năng FL của nó là hiển nhiên?…

Đây là kinh nghiệm của một nhà đầu tư:

– Khi một cổ phiếu đang lình xình đột nhiên CE hoặc đang đi xuống đột nhiên quay đầu CE, phải mua NGAY LẬP TỨC, đừng mất 1-2 ngày tìm thông tin và phân tích xong thì quá muộn, không thể tranh mua được nữa.

– Khi một cổ phiếu đang CE liên tục đột nhiên chững lại, hoặc tăng nhẹ không CE, hoặc quay đầu điều chỉnh: BÁN NGAY LẬP TỨC, và phải LUÔN BÁN GIÁ SÀN để tranh bán.

– CUT LOSS ngay lập tức và không khoan nhượng, thậm chí khi cổ phiếu vừa về tài khoản T+4 mà đang lỗ cũng đặt lệnh bán NGAY LẬP TỨC.

– Có thể mạo hiểm đuổi theo cổ phiếu đang CE khoảng 3 phiên, không có ngoại lệ khi CUT LOSS, cũng đừng quá tham lam đuổi theo cổ phiếu khi nó đã tăng qúa mạnh và cả thị trường đang trầm trồ nhìn nó.

Như vậy với các hàng nóng kiểu này, khả năng mua được là rất thấp, khả năng thua lỗ lại rất lớn, nhưng lợi nhuận cũng rất cao, thông thường nó đạt đến con số 20-30% chỉ trong vòng 1 tuần lễ.

Và đặc biệt bạn phải tuân theo quy tắc 3 x 7 = 21 và CUT LOSS kịp thời.

Phần 10: Thời gian chờ đợi mới sinh ra tiền bạc

Bài học vỡ lòng khi tôi tham gia vào TTCK là “buy and hold’, hãy mua và nắm giữ dài hạn, càng dài càng tốt! Và người ta phân chia thời gian đầu tư ra ngắn hạn, trung hạn, dài hạn tương đương với thời gian 3 năm, 5 đến 10 năm, 20 năm. Toàn bộ bí quyết chỉ gói gọn trong 1 từ “Chờ đợi”.

Thật chí lý và an toàn biết bao, chân lý rất đơn giản mà chúng ta lại hay bỏ qua nó, và chân lý này được lặp lại ở hầu hết tất cả các cuốn sách mà tôi đã đọc về chứng khoán. Hóa ra đi tìm chân lý thậm chí là viết sách về chân lý là việc dễ làm đấy chứ, làm theo chân lý cũng đâu có khó gì? Vậy thì hãy mua và giữ. Vậy mà tôi cứ tốn công tìm những cuốn sách rất phức tạp đọc cả ngày không hiểu nổi một trang.

Và với một nhà đầu tư kiên định, chân chính, giỏi giang thường đạt được kết quả tăng gấp đôi số vốn của mình trong thời gian từ 5 tới 6 năm. Và 80% các quỹ đầu tư cũng nằm trong số này.

Vào tháng 2/2007 khi cuốn sách của Oneil lần đầu được dịch và bán ở VN (tôi vốn chỉ biết đọc và viết thành thạo tiếng Việt), tôi có tò mò đọc lướt qua (vì trước đó tôi vốn không ưa những gã đầu cơ – cơ hội như Oneil). Trong phần căn bản ông có viết một đoạn khuyên các nhà đầu cơ mới tập tành mua bán cổ phiếu như tôi phải nên đặt cho mình một mục tiêu khiêm tốn là “tăng gấp đôi số vốn của mình lên trong khoảng thời gian từ 6-15 tháng.

Thật không thể tin được khi mà trên đời này còn có những phương pháp mà mục tiêu khiêm tốn của nó là lợi nhuận phải đạt được cỡ 20 tới 30% /tháng.

Và bí quyết để đạt được nó là gì? Vẫn là từ ngữ mà tôi rất quen thuộc: “Chờ đợi”. Đúng, chỉ một từ thôi: “Chờ đợi”. Vâng, đúng là “Chờ đợi”, “Chờ đời” chứ không phải “Tê liệt”.

“Chờ đợi” luôn sinh ra tiền bạc:

– Khi chưa mua được cổ phiếu, và không phát hiện được cổ phiếu nào đáng để mua, hãy kiên trì giữ gìn tiền mặt và chờ đợi vì chí ít lãi ngân hàng theo tỷ lệ dù thấp cũng sinh ra lợi nhuân cho bạn.

– Khi chưa xác định được xu hướng của thị trường, hãy kiên trì chờ đợi xu hướng thị trường xác lập rõ rệt và không giao dịch gì cả. Đừng lo sợ bị mất cơ hội. Khi một thị trường đang lên giá thường nó sẽ kéo dài đến hàng tháng. Nếu thị trường giảm giá thì tiền vẫn sinh ra cho bạn do cổ phiểu rẻ đi và bạn sẽ mua được nhiều hơn công với lãi tiền gửi.

– Khi thị trường giảm giá thì đương nhiên phải bảo tồn tiền mặt và chờ đợi. Trong cơn lũ thì phải lo giữ mình còn sống, đừng nghĩ đến chuyện vừa bơi giữa dòng lũ vừa nhặt của rơi thu lợi.

– Khi nắm giữ cổ phiếu tốt trong tay, hãy kiên trì chờ đợi để nó có đủ thời gian tăng giá đến đỉnh hoặc gần đỉnh. Hãy nhớ “chờ đợi” ở đây không có nghĩa là “không làm gì cả”. Khi một cổ phiếu của bạn đang tăng giá mạnh mẽ, hãy bám sát nó từng phiên và quyết đoán ra quyết định bán ra thu lợi nhuận về.

– Việc chờ đợi trong kinh doanh chứng khoán giống hệt như một người làm vườn gieo hạt và chăm sóc cây, chờ đợi ngày thu quả, họ cần chờ đợi đúng thời vụ để gieo hạt, cần chờ đợi cho cái cây lớn, đơm hoa, kết trái và hái quả đúng lúc quả đang chín (lên gần đỉnh hoặc đang ở đỉnh), hái sớm quá sẽ chỉ được quản non xanh (lợi nhuận thấp), hái muộn quá có khi quả đã rụng rồi (cổ phiếu qua đỉnh và đang phi xuống), trong khi chờ đợi và chăm sóc vườn cây cần loại bỏ thẳng cánh các cây gẫy, chột, cỏ dại (cổ phiếu tồi tệ-đang xuống giá, cần CUT LOSS), đừng chờ đợi và hy vọng các loài cỏ dại đó có thể lại ra được quả ngọt, thà trong vườn thưa cây nhưng cây nào cũng ra được quả (tuy ít) còn hơn là vườn toàn cỏ và không ra được quả nào.

– Như vậy là bạn phải làm việc với một chuỗi dài sự “Chờ đợi”: Chờ đợi thị trường xác lập xu thế lên giá rõ ràng để từ đó lựa chọn các cổ phiếu tốt, chờ đợi tín hiệu bùng nổ để mua cổ phiếu vào đúng thời điểm, chờ đợi quá trình tăng giá và quyết đoán bán ra thu lợi nhuận, chờ đợi tiền vốn và lãi về tài khoản.
Và trong lúc chờ đợi thì bạn nên làm gì? Hãy liên tục học hỏi, nghiên cứu và tinh lọc một danh sách các cổ phiếu “đáp ứng một số tiêu chuẩn tốt” cần quan tâm trong danh sách. Một công việc mệt mỏi và khô cứng vô cùng, nhưng may thay, công việc đầu cơ cổ phiếu lại đem lại cho các nhà đầu cơ nhỏ một niềm đam mê đắm say và rất sâu lắng !

Theo TTVNOL

SOURCE: SAGA.VN

KHỦNG HOẢNG THẾ CHẤP VÀ BÀI HỌC TỪ GOLDMAN

“Không phải tất cả những gì lấp lánh đều là vàng”, Goldman Sachs hẳn phải hiểu rất rõ câu thành ngữ này, bởi vì nhờ nó mà họ đã khôn ngoan thoát khỏi cơn khủng hoảng thế chấp đang lan rộng.

Cách đây một năm, khi hầu hết các ngân hàng đầu tư đang háo hức tiếp nhận tất cả những vụ cầm cố mà họ có thể đạt được thì ngược lại, Goldman Sachs đã lịch sự chối từ.

Theo tờ Thời báo New York, Goldman đã không chỉ ngừng việc dồn tiền vào cầm cố chứng khoán mà còn bắt đầu thanh lý các khoản thế chấp và mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro.

Tại sao Goldman Sachs có thể nhìn thấy những rủi ro khi không ai thấy được điều đó?

Trong một thị trường và một nền kinh tế đặc trưng bởi những sự hoa mỹ phi lý và được cổ vũ bởi tâm lý đám đông, tinh thần lãnh đạo của Goldman đã tạo điều kiện cho các tư tưởng trái chiều lên ngôi.

Bạn sẽ làm gì để không bị lạc vào các chiến dịch thiển cận khiến rất nhiều tổ chức tài chính rơi vào vực thẳm và đảm bảo rằng tất cả các ý kiến được biết đến trong phạm vi công ty. Hãy cùng xem xét các ý kiến phản hồi của các học giả trường Harvard giới thiệu để xem đó như một bước khởi đầu.

Ý kiến phản hồi

1. Chỉ có Goldman thôi sao?

Thế còn Hiệp hội Quốc gia tài trợ bất động sản (Federal National Mortgage Association) và Công ty Quốc Gia tài trợ địa ốc (Federal Home Loan Mortgage Corporation) thì là cái gì?

Michel

2. Phản ứng của Goldman với cơn khủng hoảng thế chấp là một bằng chứng xác đáng cho thấy tình hình đó không có gì là ngạc nhiên. Khi được hỏi về ảnh hưởng của điều này trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 7 năm 2007, Charles Prince – người mà sau đó trở thành Giám đốc Điều hành của Citigroup nói: “Khi âm nhạc ngừng lại, mọi thứ trở nên phức tạp. Nhưng ngay khi nhạc nổi lên, bạn đứng dậy và nhảy. Chúng ta vẫn đang nhảy.”

Citi và một số ngân hàng lớn khác đã “nhảy” theo cách của họ, giống như con lem-mut[6] trên vách đá. Goldman thì trái lại, họ đối diện với thực tại và giải quyết nó. Cần lưu ý rằng cả Citi và Goldman đã tiên đoán được điều này, nhưng chỉ Goldman có khả năng phản ứng hiệu quả. Đây là nhờ sự lãnh đạo táo bạo và đặc điểm văn hóa không a-dua.

Michael Watkins

3. Thế còn các nguyên tắc của Goldman thì sao? Họ đã giữ một thị phần quan trọng trong những sản phẩm này. Họ đã đi tiên phong trong cuộc chơi, nhưng nhiều khách hàng của họ đã bị đẩy vào tình cảnh khó khăn.

Liệu họ có phải là những ngân hàng đầu tư có đạo đức hay chỉ là kẻ lợi dụng thông tin đa chiều trong những thị trường không hoàn hảo? Lẽ nào chúng ta lại hài lòng với cái gọi là sự biết trước?

T S Toh

4. Cho dù Goldman Sachs đã gây khó khăn cho khách hàng, nhưng họ đã cứu được các cổ đông.

Vậy còn Cục Dự trữ Liên bang[7] đóng vai trò gì trong tất cả chuyện này? Kể từ khi Goldman Sachs và Citi nhận ra điều này và đảm nhiệm những vị trí đối lập nhau, có chắc Cục Dự trữ Liên bang cũng nằm trong cuộc? Chẳng phải cuộc chơi bắt đầu dưới sự giám sát của Greenspan hay sao? Và có phải chúng ta đang sa vào một cuộc phê bình vô bổ?

MK Khoo

5. Cả Goldman Sachs và Citi đã xác định được may rủi của việc đầu tư vào cầm cố chứng khoán. Đầu ra và đầu vào của các đầu tư này đang được thảo luận do ảnh hưởng của nó lên cả hai tổ chức.

Ở một mức đơn giản hơn, các công ty này đóng vai trò như những nhà đầu tư riêng lẻ cố gắng tận dụng cơ hội. Một nhà đầu tư thường bảo thủ hơn so với những người khác. Có lẽ đó chính là sự khác biệt về bản chất: Các bản phân tích có tính kết luận (ví dụ như văn hóa tổ chức hoặc các thông số điều hành) đã quyết định xem ai ra đi và ai ở lại. Điều này giống như cách làm của một số nhà đầu tư riêng lẻ tại thị trường chứng khoán – những kẻ muốn đợi một khoản lời lớn hơn từ đầu tư cuối cùng lại mất hết cả gốc lẫn lãi.

Nếu chúng ta hy vọng cả hai công ty trở thành người chiến thắng, vậy thì ai sẽ mất tiền đây? Một công ty tương tự nào đó ư? Dù sao thì vẫn luôn tồn tại tâm lý đám đông và chẳng mấy công ty giữ được tính kỷ luật trong đầu tư vào cầm cố chứng khoán.

Một độc giả giấu tên

6. Vàng của Goldman có lẽ đã giúp họ hiểu rằng “không phải cái gì lấp lánh cũng là vàng”.

Việc Goldman có thể đánh giá được khả năng bị khủng hoảng của tình trạng vay thế chấp và đã thực hiện các biện pháp hợp lý là một ví dụ hay cho thấy Goldman đã có tiến hành các phân tích xu hướng phổ biến và họ còn có thể cung cấp số liệu cho các vấn đề quan trọng khác (cả chủ quan lẫn khách quan) trong toàn bộ hoạt động kinh doanh.

Sẽ rất hữu ích nếu như Goldman có thể công bố những công thức kinh doanh mà họ đã sử dụng để dự đoán cuộc khủng hoảng này sẽ xảy ra khi nào và ra sao và cả độ chính xác của phỏng đoán của họ trong mối quan hệ với các khủng hoảng thực tế.

Đã đến lúc các tổ chức tài chính chú ý học bài học này và tiến hành các nghiên cứu có tính phê phán hơn về môi trường kinh doanh. Điều quan trọng là họ phải hiểu được là không phải cái gì lấp lánh cũng là vàng.

George Ik. Agu

7. Tôi cho rằng Goldman đã hiểu được một chu trình quan trọng trong lĩnh vực bất động sản và sử dụng sự nhậy bén kinh doanh sắc sảo trong việc điều chỉnh đầu tư. Một vài dấu hiệu đã được ghi nhận, báo hiệu việc bán các khoản đầu tư và bảo hộ số còn lại.

Katherin Stratton

8. Mặc dù Goldman đã chuyển đổi thành doanh nghiệp nhà nước một vài năm trước, tôi nghĩ rằng nền văn hóa cá thể đã bắt rễ ở công ty – với mối lo ngại rằng sự giàu có cá nhân đang bị de dọa – đã đóng góp vào những khuynh hướng quan trọng trong thị trường này

Ở Đức, hai ngân hàng lớn đã phải cầu cứu vì những đầu tư quá lối của họ vào thị trường ABS[A1] của Mỹ. Trong cả hai công ty này, ban lãnh đạo chưa bao giờ lo ngại những hậu quả tài chính của việc đánh giá sai của họ. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Merrill và Citibank của Mỹ.

Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiếp tục thấy những kết cục tương tự trong lĩnh vực này – và cả các ngành công nghiệp – trừ phi ban lãnh đạo không chỉ tính đến khả năng sinh lãi mà còn cả các rủi ro.

Jan Hagen

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

CÂU CHUYỆN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN MINH

Rửa tiền Có hay không chuyện rửa tiền trên sàn chứng khoán Việt Nam? Có. Và đó không phải là ý kiến riêng của tôi mà chính ông Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phùng Khắc Kế đã cảnh báo. Đây cũng là chuyện bình thường. Khu vực kinh tế ngầm ở Việt Nam, theo một nghiên cứu của WB, có thể đạt tới giá trị 50% GDP, tức không dưới 25 tỷ USD1. Đã ngầm nghĩa là tiền không sạch, nên nhu cầu rửa là chuyện tất nhiên.

Nguyên tắc cơ bản trong đầu tư tài chính là phải sinh lời: tiền đẻ ra tiền. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư tìm mọi cách, huy động mọi nguồn lực để xác định cho mình một chiến lược đầu tư hợp lý. Nhưng rửa tiền thì không theo nguyên tắc này. Người ta sẵn sàng mất một nửa để biến tiền bẩn thành sạch. Thử hỏi bạn sẽ buôn bán như thế nào với người có rất nhiều tiền, nhưng cốt yếu đi buôn là để tiêu tiền chứ không làm tiền. Thị trường sẽ biến động liên tục, thất thường không theo một qui luật nào. Và người chịu thiệt hại nhiều nhất chính là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Họ thiếu thông tin, họ mua bán theo phong trào, nhưng khổ nhất là họ phải kết bè, kết bạn với những người không cùng mục đích kinh doanh.
Mới đây, khi Thủ Tướng chính thức có yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, kiểm soát nguồn vốn đầu tư, tăng tính công khai minh bạch, ngăn chặn có hiệu quả các hiện tượng lừa đảo, đầu cơ, thị trường đã có phản ứng tích cực – chỉ số VN-Index liên tục giảm trong sáu phiên liền (từ 19-03 đến 28-03), chấm dứt mối lo ngại về độ nóng không đáng có bấy lâu nay. Nhưng chúng tôi chỉ lo, khi ta thiết lập được các thể chế, chế tài đủ mạnh, ngăn chặn được tiêu cực thì tiền cần rửa người ta đã rửa xong.

Chứng khoán và ngân hàng, tuy hai mà một

Ai cũng biết chứng khoán và ngân hàng là hai kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Điểm khác biệt cơ bản là khi gửi tiền vào ngân hàng – chúng ta đang trao quyền quyết định đầu tư đồng vốn của mình cho một người hoặc một nhóm người (Tổng Giám đốc hay Hội đồng quản trị của ngân hàng); còn khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK)– chính chúng ta sẽ là người quyết định số phận đồng vốn của mình. Vì thế qui mô huy động vốn cũng như khả năng chia sẻ rủi ro trên TTCK sẽ cao hơn nhiều. Nền kinh tế tựa lưng vào TTCK sẽ vững chãi hơn nền kinh tế chỉ có hệ thống ngân hàng. Như vậy, từ nay chúng ta có thể yên tâm vì nền kinh tế Việt Nam đã có cả ngân hàng lẫn TTCK.
Không hẳn như vậy. Thay vì là đối trọng chiến lược của TTCK, hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay đang bị guồng quay lợi nhuận của chứng khoán cuốn theo. Ngân hàng đang trở thành người chơi đắc lực trên thị trường. Ngân hàng có tên tuổi thì đua nhau phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ; ngân hàng chưa có tên tuổi thì đua nhau đổi tên – đẹp hơn, kêu hơn, tung hoành ngang dọc trên thị trường OTC; ngân hàng đang thai nghén thì đua nhau tăng tốc cho sớm ra đời (chỉ tính đến cuối tháng 3-2007 đã có hơn 10 bộ hồ sợ nộp NHNN xin mở NHCPTM)2. Dường như người ta đang quên mất nhiệm vụ chính của ngân hàng là cung cấp dịch vụ tài chính phục vụ cộng đồng và điểm tựa về vốn cho nền kinh tế. Trong khi áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Theo các cam kết gia nhập WTO, kể từ ngày 01-04-2007, các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động tại Việt Nam, được đối xử bình đẳng và được thực hiện phần lớn các nghiệp vụ như ngân hàng trong nước. Thiết tưởng, đây là lúc các ngân hàng Việt Nam phải vắt chân lên cổ mà chạy: mở rộng chi nhánh, tăng cường dịch vụ, nâng cấp chất lượng phục vụ… Đằng này, có vẻ như lợi ích của một nhóm người (một nhóm cổ đông nào đó) đang lấn át lợi ích cộng đồng. Cứ tưởng rằng, phát triển TTCK, nền kinh tế có thêm một chân cho vững, ai dè chân cũ lại dẫm lên chân mới – nguy cơ vấp ngã quá cao, làm sao yên tâm đây.

Bản sắc của thị trường
Người Việt mình làm gì cũng có bản sắc riêng, chơi chứng khoán cũng vậy. Lịch sử chứng khoán thế giới chưa từng ghi nhận một trường hợp nào mà thị trường biến động kỷ lục như ở ta. Chỉ riêng năm 2007, tính đến ngày 12/03 – VN-Index đã kịp tăng 56%, và ngay hai tuần tiếp sau đó đã cũng kịp giảm 12,5%. Thế mà mọi người xem đây là hiện tượng “hết sức bình thường” – thị trường chỉ điều chỉnh chút đỉnh cho phù hợp với thực tế. “Chút đỉnh” này đã kịp làm lao đao hàng loạt các nhà đầu tư nhỏ. Rõ ràng đây là những dấu hiệu của một thị trường tiềm ẩn quá nhiều rủi ro. Và nguyên nhân chính là tình trạng làm giá, thông tin nội gián, móc nối trục lợi. Có lẽ chưa một nơi nào mà các đại gia chứng khoán có thể thao túng và điều khiển thị trường dễ dàng như ở ta trong thời gian qua.
Chưa hết, cứ phải lên sàn bạn mới cảm nhận đủ sự khác biệt. Đầu giờ sáng, người ta chen nhau nộp tiền. Vào thời cao điểm, nhà đầu tư ùn nhau đặt lệnh mua bán, ngồi phệt cả ra nền nhà để xem các con số nhảy nhót, hay bày tiền tràn lan ra sàn mà đếm. Lúc lên giá thì đua nhau mua, lúc xuống sàn thì tìm không ra mẫu đơn để đặt lệnh bán. Nhộn nhịp và tấp nập. Tuy nhiên, quan sát cảnh này, không thể dứt bỏ được cảm giác, dòng người đang là con rối trong tay những kẻ điều khiển vô hình. Họ là ai? Là các đại gia? Là những nhà đầu tư nước ngoài? Là ai khác nữa? Hay là chính chúng ta đang tự biến mình thành con rối cho các con số giật dây?
Có lẽ vì thế mà gần đây, nhiều người đã lên tiếng nhận xét về tính phong trào, tính bầy đàn của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi thì không nghĩ vậy. Chợ quê dĩ nhiên không thể bằng chợ phố: hàng hóa ít hơn, nghèo nàn về chủng loại, cách buôn bán, lối tổ chức cũng không thể nào so sánh. Nhưng chợ quê cũng có những nét đẹp mà chợ thành phố không thể nào có được, đó là chưa kể nếu đem so về giá trị đối với cộng đồng thì chưa biết chợ nào “ăn” chợ nào. Đơn giản là vì cộng đồng thế nào sẽ sản sinh ra chợ thế ấy. Nền kinh tế thị trường của chúng ta mới bước sang tuổi 20. Chứng khoán Việt Nam vừa lên bảy. Người chơi chứng khoán thì qua một đêm – nghiễm nhiên trở thành nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước vừa làm vừa dò dẫm. Trong khi ở các nước tiên tiến kiểu thị trường này đã có cách đây hàng trăm năm (TTCK Philadelphia ra đời năm 1754, New York – 1792, London –1801, Tokyo – 1878), nên chúng ta có ngây ngô, nhà quê trước họ cũng là chuyện bình thường.
Nhưng quan trọng hơn tất cả, theo tôi, chính sự ngây thơ của chứng khoán đang thổi vào đời sống tinh thần xã hội một làn gió mới, một niềm tin mới. Tin rằng, không chỉ có chốn quan trường mới có thể làm nên phú quí. Vẫn còn nhiều con đường khác, sự giàu có và thành đạt thực sự đang ở rất gần, hoàn toàn nằm trong tầm với của rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ tuổi có tri thức. Và niềm tin đã thôi thúc dòng người sáng sáng từ thứ 2 tới thứ 6 nối đuôi nhau lên sàn tìm cơ hội. Và tôi hiểu rằng niềm tin này với ai đó (không phải là với tất cả) là hoàn toàn không ngây thơ chút nào.
——————
1 Stoyan Tenev, Amanda Carlier, Omar Chaudry, Nguyễn Quỳnh Trang. “Hoạt động không chính thức và môi trường kinh doanh ở Việt Nam”. IFC, Ngân hàng Thế giới và MPDF. Hà Nội, Thông tấn, 2003. tr. 18
2 Hàng loạt NH cổ phần nông thôn trước đây tưởng như đã giải thể, nay đã được các tập đoàn kinh tế lớn đổ vốn và nâng cấp thành NH đô thị, mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động. NH TMCP Nông thôn Đồng Tháp Mười đã công bố chuyển đổi mô hình hoạt động thành NH đô thị và đổi tên thành NH TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank). Nhiều tập đoàn lớn trong nước cũng đã góp vốn để trở thành cổ đông chính của các NH. NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) cũng đã ký thoả thuận hợp tác chiến lược với VNPT. EVN và Petro VN hiện đã có cổ phần lớn trong NH cổ phần An Bình (ABBank) và Toàn Cầu (G-Bank). Nhiều NHTMCP cũng thi nhau đổi tên cho “đẹp” hơn như NHTMCP Nông thôn Ninh Bình đổi thành NHTMCP Toàn Cầu (G-Bank); NHTMCP Nông thôn Sông Kiên đổi thành NHTMCP Nam Việt (Navibank) – cổ phần của các ngân hàng này hiện giao dịch rất sôi động trên thị trường OTC.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

CỔ PHIẾU THƯỞNG: BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠNH TÓAN

Phan Long, CPA
Monash University, Australia

Tại thời điểm đầu năm 2007 này, thị trường chứng khoán tại Việt Nam đang phát triển “nóng”. Giá thị trường của cổ phiếu tăng cao cùng với sự kỳ vọng lớn lao của nhà đầu tư trước những thông tin công bố chia cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết theo quy định của Uỷ ban chứng khoán (trước ngày 20/1). Trong đó, giá thị trường của cổ phiếu của những công ty có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu tăng vọt do nhà đầu tư hi vọng sẽ được sở hữu những cổ phiếu giá rẻ nếu nắm giữ cổ phần của các công ty này. Bài viết này nhằm cho độc giả thấy rõ bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và đưa ra hướng xử lý kế toán đối với các bên liên quan.

Bản chất của cổ phiếu thưởng
Cổ phiếu được chia theo cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thưởng. Cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu chỉ làm tăng đến số lượng cổ phiếu lưu hành mà các cổ đông nắm giữ. Chính vì thế, về bản chất, nó làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu sau khi chia.
Thông thường cổ phiếu thưởng được chia theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ: Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần Tân Tạo nhất trí chia toàn bộ cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1 (vnexpress.net, 2007). Điều đó có nghĩa là cổ đông nắm giữ 05 cổ phiếu cũ sẽ được “thưởng” 01 cổ phiếu mới phát hành, và tổng số cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 20%. Khi đó chúng ta có thể thấy kết quả của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể dẫn đến giá trị của mỗi cổ phiếu giảm 20% do tổng giá trị vốn chủ sở hữu không thay đổi.
Xử lý kế toán
Cổ phiếu thưởng làm tăng số lượng cố phiếu lưu hành và làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, xử lý kế toán lại không giống nhau trong mọi trường hợp, và phụ thuộc vào yếu tố giá trị của cổ phiếu thưởng, có nghĩa là tỷ lệ chia. Theo thông lệ, khi tỷ lệ cổ phiếu thưởng nhỏ vào khoảng 20% – 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ. Xử lý kế toán trong trường hợp này sẽ được minh hoạ bởi ví dụ dưới đây. Những trường hợp tỷ lệ cổ phiếu thưởng lớn hơn 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng lớn, và trường hợp này ít xảy ra. Một ví dụ điển hình của phát hành cổ phiếu thưởng lớn là vào năm 1973, hãng Walt Diney công bố tỷ lệ cổ phiếu thưởng 100%, có nghĩa là cứ 01 cổ phiếu nắm giữ sẽ được nhận thêm 01 cổ phiếu mới và như thế số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên gấp đôi. Điều đó dẫn đến giá trị cổ phiếu bị “loãng”, làm cho giá thị trường của cổ phiếu bị sụt giảm.
Ví dụ minh hoạ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ:
Công ty ABC có 100.000 cổ phiếu lưu hành với mệnh giá $1,00 và với giá thị trường là 6,60$. Như vậy tổng giá trị thị trường của ABC là 100.000 x $6,60 = $660.000.
Báo cáo tài chính ngày 31/12/XX của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (100.000 cổ phiếu) $100.000
– Lợi nhuận chưa phân phối $200.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Đại hội đồng cổ đông của ABC quyết định chia toàn bộ lợi nhuận bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 10:1. Có nghĩa là sẽ ban hành 10.000 cổ phiếu mới. Sau khi chia, ABC sẽ có tổng cộng 110.000 cổ phiếu lưu hành.
Giá trị cổ phiếu mới phát hành là: $200.000 : 10.000 = $20
Giá trị cổ phiếu mới phát hành theo mệnh giá là: $1,00 x 10.000 = $10.000
Chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu theo giá phát hành và theo mệnh giá = $200.000 – $10.000 = $190.000
Sau khi chia cổ phiếu thưởng Báo cáo tài chính của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (110.000 cổ phiếu) $100.000 + $10.000 = $110.000
– Thặng dư vốn $190.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Theo như ví dụ trên thì giá trị cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ sau khi được chia sẽ không thay đổi so với trước khi được chia (đều bằng $300.000). Trường hợp này đã ngoại trừ các yếu tố tác động đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường như cung – cầu, kỳ vọng của nhà đầu tư,… mà chỉ tập trung đến tác động của việc chia cổ phiếu thưởng.
Xử lý kế toán đối với trường hợp chia cổ phiếu thưởng lớn sẽ đề cập trong bài khác do việc “làm loãng” cổ phiếu quá lớn tác động đến giá trị cổ phiếu.
Tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu
Theo suy luận logic thông thường, cổ phiếu thưởng có thế:
(1) không làm ảnh hưởng đến giá trị của công ty
(2) làm tăng giá trị của công ty
(3) làm giảm giá trị của công ty
Quan niệm chuẩn về cổ phiếu thưởng là nó không làm thay đổi giá trị tài sản của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp. Theo ví dụ trên, giá trị thị trường của ABC là $660.000. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, số cổ phiếu lưu hành là 110.000 cổ phiếu, và mỗi cổ phiếu có thế có giá trị là $660.000 : 110.000 = $6,00.
Trường hợp một cổ đông năm giữ 1000 cổ phiếu trước khi chia, có giá $6.600. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x $6,00 = $6.600. Như vậy, cổ phiếu thưởng, thực chất, không có ảnh hưởng về mặt kinh tế. Và trên lý thuyết, việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng giảm và sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông nắm giữ.
Tuy nhiên, thực tế thị trường lại có khác biệt rất lớn. Việc chia cổ phiếu thưởng sẽ tác động đến tâm lý được mua “rẻ” của số đông nhà đầu tư, dẫn đến các nhà đầu tư tìm cách mua cổ phiếu trước khi chia cổ phiếu thưởng đã làm cho cầu về cổ phiếu tăng cao. Hơn nữa, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu được các nhà đầu tư Việt Nam “diễn giải” là doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận đạt được để tái đầu tư, cũng khiến cho kỳ vọng của nhà đầu tư về sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Các yếu tố này góp phần đẩy giá của cổ phiếu lên cao. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nơi các nhà đầu tư đầu tư theo phong trào và “mách nước” nhiều hơn là có sự phân tích kỹ càng nhiều yếu tố, và đặc biệt đúng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài việc phát hành cổ phiếu thưởng tràn lan có thể dẫn tới làm giảm giá thị trường của cổ phiếu.

Tài liệu tham khảo:
– Black, F. (2004). Why firms pay dividends. fundamentals of corporate finance. M. Tully, McGraw-Hill. 3e: 657-659.
– vnexpress.net.(2007).”Cổ tức kích cổ phiếu tăng giá”.[Internet].
Link: http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F2519/
– Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác

————————————-
Bản quyền http://www.kiemtoan.com.vn

MỘT SỐ SAI LẦM CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM

Trong không khí nóng bỏng của TTCK Việt Nam, tôi xin mạn phép trình bày một số sai lầm của các nhà đầu tư chứng khoán. Cái này đúc kết từ kinh nghiệm và quan sát. Tôi viết bài này với tất cả sự kính trọng các nhà đầu tư vì dám mạo hiểm đầu tư vào một loại sản phẩm cao cấp, trên một thị trường có tính đặc thù cao. Nhưng sự thật là sự thật, vì một thị trường lành mạnh và bền vững, tôi sẽ rất trung thực.

1. Nghe hơi nồi chõ. Thông tin rất quan trọng trên thị trường, nhưng vì thiếu hiểu biết, nhiều nhà đầu tư có xu hướng nghe ngóng. Tin thì đủ loại, trên trời, dưới biển, vận hành, tài chính, tổ chức… Có điều chẳng mấy ai có khả năng kiểm định. Vì vậy, cái sự nghe trở nên láng máng, truyền tai nhau hết sức nguy hiểm.

Thông thường, họ tìm một số nhân vật có khả năng “hót hay như khướu” hoặc tìm một vài cán bộ môi giới-tư vấn của chính các công ty chứng khoán. Cái này có mấy điểm hại sau:

* Không khách quan vì bản chất là xung đột lợi ích.
* Không đảm bảo chính xác vì có khi người nói cũng không biết mình đang nói gì.
* Không có bộ lọc vì thế không thể biết cái vừa nhận được là vàng hay thực tế là rác.
* Luôn luôn muộn, vì khi nghe được thì cũng rất nhiều người khác đã nghe được.

2. Không có kỳ vọng đầu tư riêng. Nói giản dị là không biết mình muốn gì, ngoài một nguyện vọng ngất trời cao là Lợi Nhuận.

Các nhà đầu tư nước ngoài chẳng hạn, họ biết rất chính xác điều họ muốn, và vì phần lớn là các quỹ dạng Mutual Fund, nên các chính sách của họ tương đối nhất quán, ổn định. Họ không nhảy ra nhảy vào thị trường liên hồi, gây ra các chi phí giao dịch lớn trong khi hiệu quả chưa đo đếm được.

Việc không đặt kỳ vọng đầu tư cho mình cũng có nghĩa là để ước muốn trôi theo diễn biến thị trường. Ví dụ, lãi 20% trong vòng 3 tháng đã là tốt, nhưng vì ước muốn 40% trong vòng 4 tháng nên kết cục có khi chỉ là không bán được cả “hàng” và chết tắc với số tiền đầu tư.

Không có kỳ vọng còn liên quan tới một hiện tượng nữa là kỳ vọng bị bóp méo hoặc chèn ép.

3. Tâm lý bầy đàn. Tôi đã cùng GS. André Farber chứng minh bằng số liệu và mô hình thống kê toán rằng Hiệu ứng bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới. Hiệu ứng này đặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài.

Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng của đám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí. Trong khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng giao dịch trái chiều.

Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần. Mà tính thanh khoản chính là giá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính năng huy động vốn đâu!) Khi tính thanh khoản trở nên “hàng hiếm” thị trường biến thành Casino. Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay ra tiền, nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền… Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằng điều này quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc.

4. Quan tâm tới lợi nhuận nhưng không quan tâm tới bổ sung kiến thức. Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và thuộc một bài vỡ lòng rằng đào bới được thông tin mật “rò rỉ” đâu đó chính là cách làm giàu kiến thức. Điều này sai. Kiến thức khác thông tin. Kiến thức là một bộ lọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp. Tôi dám cam đoan rằng việc chỉ chăm chắm đào bới các thông tin vốn nhiều như rác không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi là tình tiết tăng nặng của các vấn đề tồn tại ở trên.

Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạn trong các dòng chảy thông tin. Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳ vọng cá nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của “hiệu ứng bầy đàn.”

5. Tin rằng “mình khôn ngoan nhất”. Họ cho rằng chỉ có họ mới là khôn ngoan nhất, đó là biểu hiện của thiếu kiến thức. Chính vì thiếu kiến thức, nhà đầu tư cũng không mấy khi quan tâm thực sự tới các cách thức tính toán, quản trị và phân tán rủi ro của rổ tài sản.

Ôi cái sự đời mới trớ trêu làm sao. Tôi sẽ xin lược trích một số ý kiến sau này của GS. Farber một trong những chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới về hiện trạng mà 5 năm qua hầu như chưa thay đổi gì.

Chúng tôi cũng đầu tư, cũng hoạt động, cũng cung cấp dịch vụ tài chính… với cả một đội ngũ cộng sự dày công chăm chỉ rèn luyện… chứ không ầm ờ, bát nháo đâu. Và vì thế, chúng tôi hiểu thị trường nó không như phần lớn các nhà đầu tư nghĩ.

Nhiều người có thể không đồng tình, nhưng tôi đã nói từ trước là sẽ rất trung thực, vì thế, sẵn sàng chấp nhận phản hồi khắc nghiệt nhất của độc giả.

Vương Quân Hoàng – http://www.saga.vn

CÁC TRANH LUẬN XUNH QUANH VẤN ĐỀ NÀY

Báo Thị trường số 258 ra ngày 26/09/2007 có đăng lại toàn bộ ý kiến của tác giả Vương Quân Hoàng về các sai lầm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam. Đây là một cách nhắc nhở, cảnh báo rất hữu ích về các vấn đề mang tính chất nguyên lý cho nhà đầu tư tại Việt Nam.

Thị trường trong thời gian vừa qua đã – đang được chứng minh những vấn đề anh Hoàng nêu ra trong bài viết trên!

Mọi người nghĩ sao về vai trò của báo chí trong thời gian thị trường đang “sốt”, và trong thời gian gần đây?

TranTriDung (23/04/2007

 

Cổ phiếu ngân hàng luôn thu hút quan tâm của nhà đầu tư như một lĩnh vực đầu tư giàu tiềm năng mặc dù các khả năng kinh doanh ngoại hối thua lỗ, nhân viên thụt két đã từng xảy ra. Bài viết dưới đây cũng cho thấy rủi ro tiềm tàng của lĩnh vực kinh doanh này. Một cá nhân và 3 chủ doanh nghiệp đã qua mắt ngân hàng.
====
TTXVN- Bắt khẩn cấp 3 giám đốc “móc” tiền ngân hàng
Từ 19 đến 22/4, Công an TPHCM đã khám nhà, bắt khẩn cấp 3 giám đốc và một cá nhân là Trần Minh Lộc để điều tra hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xảy ra tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam chi nhánh TPHCM. Ba giám đốc là Dương Huy Chí (Công ty cổ phần TMDV tổng hợp Thành Trung), Lương Văn Hiền (Công ty TNHH Nhà Đẹp), Trương Xuân Vinh (Công ty Công ty TNHH Hà Phong).

Điều tra cho thấy, do thua lỗ, Hiền bàn với Lộc lập các hợp đồng kinh tế mua bán khống, chứng thư bảo lãnh thanh toán khống để lừa đảo, chiếm đoạt tiền vay vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh TPHCM. Vào tháng 12/2006 và tháng 3/2007, Lộc hướng dẫn Hiền móc nối với Chí và Vinh lập các hợp đồng mua bán vật tư trả chậm, khống với số lượng 400 tấn thép xây dựng (trị giá hơn 3,4 tỷ đồng). Sau đó, Lộc lập chứng thư bảo lãnh thanh toán giả để Công ty Nhà Đẹp vay tiền. Theo thỏa thuận, sau khi giải ngân, Hiền phải chi cho Lộc 10% số tiền được vay.

Tại cơ quan điều tra, Hiền thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt số tiền vay là 2,83 tỉ đồng của Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh TPHCM. Vụ án đang được tiếp tục điều tra mở rộng.

Các nhà đầu tư nước ngoài họ tính toán đầu tư trong chục năm. Còn các nhà đầu tư Việt Nam dự tính đầu tư trong 2 tuần. Khi thị trường biến động, bản lĩnh của nhà đầu tư được thể hiện. Ở đây không thể hiện khi giá tăng, mà thể hiện khi giá cổ phiếu giảm. Khi giá giảm, hầu hết các nhà đầu tư trong nước tỏ ra thụ động với thị trường, họ lo sợ, càng lo sợ lại càng không dám bán những cổ phiếu đó. Cứ chờ và phụ thuộc vào thị trường. Và cuối cùng chết tắc với đống tiền đã bỏ ra.

Chính vì lợi nhuận cao làm mờ mắt, nên các nhà đầu tư trong nước thi nhau đổ tiền vào thị trường này mà không có sự tính toán trước gây ra hiện tượng bong bóng như hiện nay. Đến một lúc nào đó, mà tôi tin không xa, khi bong bóng vỡ, thì số người nhảy lầu tự tử không phải ít. Và chính họ đã tự đào mồ chôn mình bởi sự mù tịt về kiến thức của mình. Tôi đồng ý hoàn toàn với ý kiến của Mr. Vương.

MaiAnh (23/02/2007 03:10 PM)

Tiếp theo bình luận “Thị trường chứng khoán Việt Nam vượt quá giá trị 30%” (Vietnam stocks ‘30% overvalued’). Financial Times tiếp tục có bài viết về thị trường chứng khoán tại Việt Nam với tiêu đề “Cơn sốt trên thị trường chứng khoán đang túm chặt lấy tầng lớp trung lưu Việt Nam” (Stock market mania- nghĩa tiếng Anh là cơn điên- grips Vietnam’s middle classes).

Bài viết mở đầu với câu chuyện góp vốn buôn cổ phiếu của một học viên MBA. Kinh nghiệm lần đầu tham gia thị trường chứng khoán của anh chàng này là “Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán biến đổi từng ngày. Ai có được thông tin chính xác, người đó kiếm tiền dễ dàng“.

Tốc độ tăng trưởng 249 phần trăm trong hơn 13 tháng đã khiến tầng lớp trung lưu mới nổi của Việt Nam phát sốt với chứng khoán. Sinh viên, công chức, quản lý doanh nghiệp đều dồn tất cả tiền tiết kiệm và huy động được từ mọi nguồn có thể để mua cổ phiếu và mơ tới mức lợi nhuận từ trên trời rớt xuống.

Các chuyên gia kinh tế quốc tế có mặt tại Việt Nam nhận định thế nào với hiện tượng này?

pincus.jpgJonathan Pincus, Kinh tế trưởng của LQH tại Hà Nội- Đó là một sự điên cuồng. Mọi câu chuyện tại Hà Nội lúc này đều về những người đang đầu tư trên thị trường. Tôi không rõ liệu có ai hiểu được các công ty có giá trị thế nào nhưng họ đang mua những tờ giấy”.

Li Houng Lee, Đại diện thường trú của IMF tại Hà Nội- Chính phủ thực sự quan ngại với việc giá chứng khoán liên tục tăng và nhiều nhà quan sát có chung quan điểm rằng thị trường đang được đánh giá quá cao. Điều này sẽ dẫn tới nhiều vấn đề khi có sự điều chỉnh nhanh chóng về giá, đặc biệt khi có rất nhiều nhà đầu tư địa phương tham gia thị trường chứng khoán”

Sriyan Pietersz, Trưởng bộ phận nghiên cứu tại JPMorgan- Có một thực tế rằng các khoản lãi đó có thể bốc hơi, bạn đang lao vào rủi ro của tình trạng đầu tư quá thấp cho doanh nghiệp của mình do bộ phận quản lý quá bận với việc… cắm rễ trước màn hình Bloomberg”

Các công ty môi giới chứng khoán mọc lên như nấm. Hiện tại đã có 56 công ty được cấp giấy phép. Con số này vào đầu năm 2006 là 16 công ty. Mọi công ty đều có gắng tranh phần miếng bánh hấp dẫn này. Vinatex, một công ty dệt may quốc doanh, mới đây cũng tuyên bố sẽ triển khai hoạt động môi giới chứng khoán.

TranTriDung

Báo Tuổi trẻ số ra ngày 26/01/2007 có bài “Chứng khoán VN vượt quá giá trị thật“:

Tờ Thời báo Tài Chính (Anh) (Financial Times) mới đây dẫn lời các nhà quản lý tài chính nước ngoài cảnh báo thị trường chứng khoán TP.HCM đang rơi vào tình trạng quá nóng và vượt quá giá trị thật.

Chỉ số chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM tăng 38% trong năm nay, sau khi tăng 114% trong năm 2006. Theo các chuyên gia tài chính, nguyên nhân dẫn tới tình trạng quá nóng là do các khoản tiền “nóng” từ nước ngoài đổ vào. Tỉ lệ đầu tư trên lãi suất (P/E) của VN hiện lên đến 25-30, vượt xa mức trung bình 18-20 của khu vực.

Tuy nhiên, ông Peter Ryder, giám đốc Quĩ Indochina Capital, nhận định đây là tình trạng thường thấy ở các thị trường mới thành lập, và nhà nước nên để thị trường tự điều chỉnh thay vì can thiệp.

hamy

Mới nhất thì có bài của tác giả TS. Phan Minh Ngọc, trên TBKTVN (TTOL Chủ Nhật, 28/01/2007 đưa) viết về “Chứng khoán Việt Nam qua cái nhìn của một nhà đầu tư nước ngoài“. Bài viết như sau:

————————————–

Mới hôm rồi nhận được email của một người quen, ông Yoshiaki Ueda, giáo sư kinh tế tại một đại học của Nhật, thông báo rằng ông vừa cho đăng một bài báo trên NNA (một tờ báo điện tử chuyên về châu Á của Nhật) về thị trường chứng khoán Việt Nam, ngày 22-1. Vào xem mới biết ông cũng đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Tư vấn đầu tư của Công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Lotus (mà theo ông thì mới được UBCKNN cấp phép hoạt động tại Việt Nam gần đây).

Vì đây là một bài viết của một nhà đầu tư nước ngoài với những nhận định rất chuyên nghiệp, nhưng cụ thể hơn và chứa những khác biệt so với những gì mà báo chí trong nước hay đăng khi nói về đánh giá của giới đầu tư nước ngoài về triển vọng của thị trường Việt Nam (thường chỉ thấy sự lạc quan chung chung về triển vọng) nên tôi mạn phép ông Ueda tóm tắt, lược dịch và giới thiệu với bạn đọc, không ngoài mục đích giúp bạn đọc hiểu đầy đủ hơn về những nhận định đa chiều của giới đầu tư nước ngoài về thị trường Việt Nam. Bài viết của ông có tiêu đề, tạm dịch, là “Cao trào của thị trường chứng khoán Việt Nam: Sốt nhưng có đúng 100% là “không có vấn đề gì”?”. Ông vào đề với việc thuật lại chỉ số VN-Index đã tăng 39,96 điểm vào ngày 19-1 so với hôm trước đó, đạt kỷ lục 1023,05 điểm, và là lần đầu tiên vượt mức 1000. So với phiên đầu năm, mức này đã tăng tới 38%.

Sau đó, ông bình luận ngay rằng 100% là thị trường đang lên cơn sốt, nhiệt độ tăng từng ngày từng giờ; bầu không khí hiện nay giống hệt của Nhật ngay trước thời điểm nước này bước vào thời kỳ tăng trưởng bong bóng trước đây. Nếu so sánh một cách tương đối với Nhật thời kỳ cho đến cuối năm 1989, thì cần phải nhìn vào động hướng của dân chúng (ý nói những nhà đầu tư “tay mơ”) để xác định thời điểm mà cao trào của thị trường chứng khoán bước vào vùng nguy hiểm. Ông minh họa rằng trong các đại học ở Hà Nội hay TP.HCM, nào là người ta lập ra các “hội nghiên cứu chứng khoán”, nào là với suy nghĩ cứ đầu tư vào chứng khoán là có lãi nên sinh viên từ các vùng nghèo khó của đất nước bắt đầu góp vốn để đầu tư chứng khoán chung với nhau. Trong khách sạn ông ở, có một nữ quản lý trung niên với khuôn mặt gợi những nét điển hình của “thần giữ của” nhưng cũng cho biết bắt đầu chơi chứng khoán. Lái xe taxi cũng hả hê tiết lộ “tôi cũng kiếm bộn từ chứng khoán”.

Cứ như vậy, cơn sốt chứng khoán đang dần tiến đến hồi kết. Khi sinh viên, các bà nội trợ, và dân thường lao vào chơi chứng khoán, điều này có nghĩa là cung vốn đổ vào thị trường chứng khoán tiến gần đến giới hạn. Trong chừng mực vốn tiếp tục được rót vào thị trường thì giá còn tiếp tục tăng. Ở trên giác độ này, để tránh các tổn thất to lớn từ sự sụp đổ của thị trường thì cần phải đặc biệt chú ý đến động hướng của nguồn vốn rót vào thị trường. Các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam thông qua mua bán thực tế hàng ngày có thể cảm nhận được chiều hướng xoay chuyển của đường cung này. Ngoài ra, họ cũng để mắt chăm chú vào động hướng đầu tư của dân chúng như nói ở trên để phán định tình hình. (Như vậy có nghĩa là nhà đầu tư cá nhân chắc sẽ là nạn nhân đầu tiên và nặng nề nhất?)

Vấn đề đáng lo ngại nhất trong việc đầu tư vào chứng khoán Việt Nam thời gian tới là liệu việc chuyển nhượng chứng khoán đang sở hữu với khối lượng lớn giữa các quỹ đầu tư quy mô lớn có diễn ra suôn sẻ hay không. Các quỹ đầu tư nước ngoài với tiềm lực vốn cực lớn vẫn phải bán chứng khoán đang sở hữu để thu hồi vốn đầu tư. Vậy vấn đề là ai đủ tiềm lực để mua lượng chứng khoán với khối lượng lớn như thế này (nếu không phải là các quỹ đầu tư nước ngoài khác)? Để TTCKVN phát triển lành mạnh thì cục diện này là điểm trọng yếu.

Theo ông, từ nay cho đến lúc thị trường thoái trào (có lẽ ý nói là để kéo dài thời kỳ phát triển sôi động của TTCKVN) thì điều lý tưởng là phải tăng được mức thu nhập của dân chúng và doanh nghiệp (chắc ý nói là để “làm giàu” nguồn vốn đổ vào thị trường), và dịch chuyển sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư nước ngoài vào tay các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước (chắc ý nói nhằm tránh một sự xáo động mạnh khi các quỹ tiến hành hiện thực hóa lợi nhuận). Tất nhiên, theo ông, sự tham gia của các quỹ đầu tư nước ngoài mới cũng là điều có ích.

Ông Ueda thêm rằng chắc chắn trong thời gian tới, các cơ quan hữu trách của chính phủ sẽ có thể liên tục đưa ra những cảnh báo về bong bóng chứng khoán. Tỷ suất thu lợi từ chứng khoán cũng có thể sẽ tăng cao hơn nữa. Nhưng chừng nào vốn còn tiếp tục đổ dồn vào thị trường chứng khoán thì chừng đó giá chứng khoán Việt Nam còn tiếp tục thăng hoa, và sẽ không có vấn đề gì. Với ý nghĩa này, đối với nhà đầu tư vào TTCKVN, hiện tại đang là thời kỳ hạnh phúc nhất. Nhưng tiếp theo lộ trình thăng hoa sẽ chỉ là lộ trình suy thoái/tháo chạy (chứ không có giai đoạn chuyển tiếp/điều chỉnh dần dần). Vấn đề là kịch bản suy thoái/tháo chạy sẽ là kịch bản nào mà thôi.

hamy

Các chuyên gia kỳ cựu về thị trường vốn nước ngoài cũng không phát biểu khác là bao nhiêu, như trong bài tham khảo dưới đây:

——————————————-

Ngày 24/01/2007 Thông tấn xã Việt Nam trích bài viết của AMCHAM nói rằng TTCKVN “thăng hoa thiếu cơ sở”

Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) vừa đăng tải trên website của họ bài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam “thăng hoa thiếu cơ sở”. Mục đích của AMCHAM cốt để khuyến cáo giới đầu tư rằng các tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam thấy cổ phiếu Việt Nam đang sốt ở mức không bình thường. Kinh tế gia chuyên về lĩnh vực tài chính của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, ông Noritaka Akematsu, được trích lời, nói rằng “hiện đang có sự phấn khích quá mức vượt quá khuôn khổ của thị trường, vượt quá sự kiểm soát của cơ quan điều tiết vào thời điểm này. Nhà chức trách Việt Nam không thể đảm bảo báo cáo kinh doanh của các công ty niêm yết là hoàn toàn chính xác, các giao dịch buôn bán chứng khoán được thực hiện theo đúng chuẩn mực”. Ông khuyến cáo giới đầu tư nên cẩn trọng.

Ông David Knapp, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ cho rằng, sự thiếu vắng tính minh bạch và chuẩn mực quốc tế trong báo cáo tài chính của các công ty có nghĩa là người ta khó thực hiện việc phân tích năng lực thực sự của các công ty niêm yết. Giới phân tích tài chính và chứng khoán tại Hà Nội cho rằng khác với giới đầu tư vào cổ phiếu ở thị trường chứng khoán ở nước ngoài, đa số người mua chứng khoán tại Việt Nam không sử dụng các công ty nghiên cứu thực trạng của công ty niêm yết mà mua chứng khoán theo kiểu “mua bán theo cảm tính”.

Số liệu cho thấy hiện có khoảng 1700 nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Theo ông David Knapp, các nhà đầu tư mà ông gọi là các ông lớn đã có kinh nghiệm về biến động của thị trường và khi thị trường điều chỉnh cho đúng giá thực của cổ phiếu, người thiệt thường là các nhà đầu tư cá nhân. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi không nói rằng quá trình này sẽ xảy ra mà chỉ muốn nói rằng đây là một trong những thực tế mà các nhà đầu tư cá nhân nên để tâm tới. Tôi cũng khuyến cáo với các nhà đầu tư rằng hiện nay giá chứng khoán Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực. Thế nhưng nếu cứ nghĩ rằng mua là được thì đó cũng là điều khá nguy hiểm bởi sẽ tới thời điểm thị trường sẽ điều chỉnh ở mức nào đó”.

“Đầu tư tại Việt Nam không thể là bài toán ngắn hạn và tôi cũng như các khách hàng của chúng tôi thấy đầu tư dài hạn mới là đầu tư có lợi và vững vàng nhất. Là nhà đầu tư tìm kiếm môi trường tương đối ổn định, có tiềm năng về dài hạn và tôi tìm thấy những điều đó ở Việt Nam”. Thế nhưng tìm được sự ổn định trong các biến động tài chính không phải là điều dễ dàng và cũng như bất kỳ hình thức đầu tư nào thì đầu tư vào chứng khoán cũng có yếu tố khó định lượng được, đó là rủi ro.

TranTriDung

Bài viết này sáng nay tôi có được đọc lại trên báo Tiền phong, số ra ngày 23/12/2006. Cám ơn bài viết của a VQH và các trao đổi rất hữu ích của các bạn.

QuangNam

Tôi hoàn toàn đồng tình với Dr. Hoang. Bản thân tôi cũng vừa là nhà đầu tư vừa là nhà tư vấn dạng “Private fund”, cũng đã từng IPO chứng khoán trên sàn từ năm 2000 đến nay. Tôi tiếp xúc rất nhiều “đối tượng tham gia chứng khoán” từ công ty chứng khoán, nhà đầu tư, quỹ đầu tư, cả “các chuyên gia bói chứng khoán” và cả “những” người ngoại đạo của trò chơi “đầy tính chất của người trong đạo” này. Có hai khía cạnh tôi muốn được chia. Một là: cách ra quyết định đầu tư “mua chứng khoán” của một nhà đầu tư là thế này “Lúc cổ phiếu STB-Sacombank chuẩn bị niêm yết” sau khi được UBCK chấp thuận (12/07/06), thì trong khoảng thời gian này trước khi chốt sổ cổ đông để niêm yết, thì khối lượng giao dịch qua thị trường OTC rất nhiều, không có thống kê chính thức nhưng tôi quan sát, dự đoán riêng cá nhân thì chắc khoảng 5-10%/số lượng cổ phần niêm yết giao dịch diễn ra trong thời gian này, tôi có bán một lượng cổ phiếu tương đối lớn STB cho một khách hàng với giá “hot” lúc đó 88.000đ/cp. Tôi hỏi người mua là sao anh mua STB- trả lời tĩnh ru là: Tôi đang làm việc vợ tôi giục nói anh về mua ngay STB vì nó “tốt” lắm và sắp niêm yết. Anh ta làm từ ngành dầu khí- tuổi khoảng 35. Trường hợp 2: tôi biết có 10 nhà đầu tư cá nhân thì 6 người trong số đó họ lấy tiền từ 2 nguồn sau cho việc mua tiếp: cầm cố số chứng khoán hiện đang có (niêm yết) mua tiếp và có thể mang nhà cầm cố!

Bình luận: Khía cạnh 1: Thì cách mua trên theo “bầy đàn và thiếu thông tin, không có kỳ vọng đầu tư” giống Dr. Vuong nói trên. Còn khía cạnh 2 thì: tính rủi ro “nó thường trực” và quá lớn khi kỳ vọng lợi nhuận lại do ‘bầy đàn” hay “cơ chế nhóm lớn” quyết định. Nếu cầm cố chứng khoán thì hầu hầu như các công ty chứng khoán có buộc điều khoản “ký quỹ bổ xung-margin call” khi giá chứng của cổ phiều cầm cố rớt xuống mức biên an toàn thì các công tychứng khoán buộc nhà đầu tư thực hiện margin call bằng tiền hoặc không các công ty chứng khoán này “thanh lý-bán” để bù vào. Nếu cầm cố nhà, thì có thể xem việc đầu tư chứng khoán hiện nay của các nhà đầu tư cá nhân trên là “ngắn hạn theo từng phiên” (có thể gọi là tài trợ ngắn hạn) nên lợi nhuận/lỗ cũng sẽ rất ngắn hạn và bấp bên. Điều này hòm chứa một rủi ro rất lớn “và vô hình dung tạo một lượng cầu giả tạo” cho giá trị giao dịch từng phiên trên thị trường chứng khoán hiện nay. Có bong bóng hay không “thời gian” là việc chứng minh tốt nhất.

Hơn nữa, cũng có thể chia sẻ thêm thông tin là các quỹ đầu tư nói chung ‘đánh giá hiệu quả quản lý” các nhà quản lý quỹ theo “giá trị thị trường danh mục đầu tư” của quỹ đó. Do vậy, thời điểm cuối năm cũng là “thời điểm” đánh giá “hiệu quả” để thưởng hay “lãi lỗ” cho các nhà quản lý, việc tạo cơ chế tăng giá “cuối năm tài chính” là động thái cũng rất đáng quan tâm! -:)

TranTriDung

Ông Trần Đắc Sinh – giám đốc TTGDCK TP.HCM: Giá cổ phiếu đã cao hơn giá trị thật

– Trong gần một tháng qua, chỉ số chứng khoán VN đã tăng liên tục, nếu cuối tháng mười một chỉ ở mức 633,05 điểm thì đến ngày 20-12 đã tăng lên 809,86 điểm. Diễn biến này cho thấy TTCK đang phát triển rất nóng. Giá của hầu hết các loại chứng khoán đều tăng mạnh, khối lượng giao dịch cũng tăng cao, cho thấy một lượng vốn lớn đã được đổ vào TTCK.

Chúng ta không thể phủ nhận đã có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến TTCK, tạo tâm lý hưng phấn nơi nhà đầu tư, trong đó đặc biệt là việc VN hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới với vị thế cao hơn. Bên cạnh đó, một lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng đã đổ vào VN trong thời gian gần đây.

Tuy nhiên, tôi e ngại một diễn biến thị trường như trong tháng 4-2006 có thể lặp lại. Theo các tính toán, chỉ số P/E (tỉ lệ phần trăm giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập trên một cổ phiếu) bình quân của các công ty niêm yết cổ phiếu trên TTCK VN hiện là 38,18 lần, trong khi so sánh với mức trung bình của các thị trường khác P/E chỉ dao động 10-17 lần.

Với tương quan như vậy, tôi lo ngại giá cổ phiếu hiện nay đã vượt quá cao so với giá trị thật của nó, tạo ra một “hàm ếch” mà thị trường sẽ tự điều chỉnh bất cứ lúc nào.

* Thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng sau sáu năm và trải qua nhiều thăng trầm, nhà đầu tư trong nước đã có nhiều kinh nghiệm hơn, do vậy cũng chưa hẳn thời gian qua họ đã đầu tư theo kiểu phong trào?

– Đúng là nhà đầu tư trong nước đã có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về TTCK, tuy nhiên việc giá chứng khoán liên tục tăng ở mức cao đã tạo ra những cám dỗ khó dừng đối với các nhà đầu tư. Tôi nghĩ nếu giá tiếp tục tăng như hiện nay cũng có nghĩa là chúng ta phải đối mặt với sự điều chỉnh càng lớn.

* Ông có lời khuyên gì với các nhà đầu tư?

– Đầu tiên, để có thể tham gia TTCK thì nhà đầu tư phải tự tin và có hứng thú với TTCK. Muốn vậy, họ phải có kiến thức và ý niệm căn bản về chứng khoán và TTCK. Nhà đầu tư cũng phải biết lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với khả năng đầu tư của mình. Người không ngại rủi ro có thể chọn cổ phiếu, người thận trọng có thể chọn trái phiếu… Quan trọng nhất vẫn là phải tự tin khi ra quyết định đầu tư, không nên đầu tư theo đám đông mà phải có chính kiến của riêng mình.

theo Tuổi trẻ

TranTriDung

Ông Đặng Văn Thành – chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank): Đúng ra giá còn nóng hơn

Theo tôi, đúng ra giá chứng khoán còn nóng hơn nữa, nhưng rất may điều này đã được hóa giải khi hàng loạt công ty đã niêm yết cổ phiếu để kịp hưởng ưu đãi thuế trước khi chính sách này hết hiệu lực từ cuối năm 2006.

Mặc dù đã có hàng loạt công ty niêm yết cổ phiếu được cấp phép, giúp tăng lượng cung chứng khoán nhưng vẫn không đủ trước cầu về chứng khoán quá lớn đã đẩy giá chứng khoán tăng cao. Tôi tin rằng về lâu dài TTCK sẽ còn phát triển, giá sẽ còn tăng.

Tuy nhiên, trước mắt sẽ ít nhiều có điều chỉnh, giá chứng khoán có thể giảm nhưng khó có thể xảy ra một đợt giảm giá mang tính sốc như đã từng xảy ra trong năm 2003.

theo Tuổi trẻ

TranTriDung

Cảnh báo giá chứng khoán quá nóng (trích bài viết trên Tuổi trẻ)

Ngày giao dịch 20-12 tại TTGDCK TP.HCM, một kỷ lục mới đã được lập: chỉ số chứng khoán VN đã vượt qua mức 800 điểm, mức kỷ lục kể từ khi có thị trường chứng khoán (TTCK). Kết thúc phiên giao dịch ngày 21-12, chỉ còn 13 chứng khoán tăng giá, 11 chứng khoán đứng giá, 54 chứng khoán còn lại giảm giá. Chỉ số chứng khoán VN đã giảm 30,98 điểm (tương đương 3,83%), xuống dưới ngưỡng 800 điểm, chỉ còn 778,88 điểm.

Ngay trong ngày giao dịch 21-12, trong các phiên giao dịch một và hai của ngày giao dịch, giá một số loại cổ phiếu vẫn tăng khá và chỉ “rớt sàn” ở phiên giao dịch cuối ngày. 4-2006, khi đó lượng vốn để đầu tư cổ phiếu không dồi dào, trong khi nhiều nhà đầu tư đã cầm cố cổ phiếu để tiếp tục mua cổ phiếu mới đến hạn phải trả nợ.

Theo nhận định của một số công ty chứng khoán, vẫn chưa quá lo với diễn biến trong ngày 21-12. Trong phiên này, nhà đầu tư chưa bán tháo cổ phiếu, đây chỉ là một phiên mà ở đó thị trường điều chỉnh sau khi chỉ số chứng khoán VN vượt qua ngưỡng 800 điểm đồng thời có cảnh báo từ TTGDCK TP.HCM. Cũng theo các công ty chứng khoán, trước mắt thị trường còn điều chỉnh thêm một số phiên và lời cảnh báo của TTGDCK TP.HCM là cần thiết để những nhà đầu tư “non tay” thận trọng hơn.

Ha Hoang

 

Theo mình biết thì có rất nhiều các nhà đầu tư sộp đang rất sốt ruột nhưng chưa dám đầu tư vì còn chưa thật sự hiểu hết chứng khoán là gì? Chơi như thế nào và rủi ro ra sao? Họ thường xuyên hỏi mình là có sách nào hay ho về kinh doanh chứng khoán không? Vậy rất mong Dr.Vương cùng các chuyên gia của SAGA sẽ liên tục bổ xung kiến thức về vấn đề này và tất nhiên mình sẽ refer các đại gia này xem SAGA. Good deal hah!

Phuong

 

Rõ ràng đầu tư chứng khoán là không hề đơn giản, cũng có nghĩa là để đầu tư có lợi nhuận thì khó khăn hơn nhiều. Vậy có thể giải thích ra sao về một số nhà đầu tư trong giai đoạn này, những người mà có thể khẳng định là họ không có nhiều kiến thức về lĩnh vực đầu tư cao cấp này, lại có thể kiếm được lợi nhuận, thậm chí không hề ít. Ta có thể thấy rõ những dòng tiền, rất lớn, chảy liên tục trên thị trường. Vậy cuối cùng tiền sẽ về tay ai? phải chẳng là về những người may mắn hơn người khác.
Tính bày đàn thể hiện rõ nét trong biến động gần như giống hệt nhau của VN-Index và những cổ phiếu giao dịch nhiều. Trong khoảng 2 tháng VNI tăng đến 60%. Nhiều nhận định cho rằng thị trường quá nhạy cảm. Vậy kết cục cho trái bóng quá căng này sẽ thiên về hướng vỡ tan hay chỉ dần dần xì hơi.
Rất mong mọi người trên Saga cùng thảo luận.

TuanPhuc

Khả năng TTCK Việt Nam hiện nay đúng hơn là một sòng bạc lớn. Rất nhiều người thực ra không có kiến thức về chứng khoán nhưng vẫn cứ tham gia. Bởi vì sẵn có máu cờ bạc trong người. Cái tâm lý mà Dr Vuong nói trên đây đúng là tâm lý của một người chơi số đề vậy. Trông chờ vào may rủi, chứ không có một căn cứ khoa học về phân tích số liệu. Mong Saga sắp tới sẽ cung cấp cho cộng đồng kiến thức về chứng khoán nhiều hơn nữa để các nhà đầu tư có thể tham khảo và có các quyết định chuẩn xác hơn về cách sử dụng đồng tiền của mình sao cho hiệu quả nhất.

SOURCE: SAGA.VN

TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CHO NHỮNG NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN

1. Cẩm nang cho nhà đầu tư mới vào nghề

Trên thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu (CP) xuất phát từ những mẹo do bạn bè mách bảo, các cú điện thoại của nhà môi giới hay nhưng đề xuất của một nhà phân tích nào đó. Họ thường mua CP khi thị trường đang trong giai doạn nóng bỏng, đến lúc thị trường trở lạnh, họ rất dễ hoảng loạn, bán tháo số CP nắm giữ để rồi hứng chịu một khoản thua lỗ. Đó là câu chuyện rất điển hình về những nhà đầu tư mới vào nghề.
Đầu tư chứng khoán về cơ bản là một quá trình bao gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Chọn lựa CP
Bước đầu tiên trong việc chọn lựa một CP là bắt đầu theo dõi diễn biến các CP. Đặt một CP vào danh sách theo dõi (Watch list) sẽ làm tăng sự chú ý của bạn đối với CP đó. Thật hiếm khi bạn tìm được một CP nào đó rồi mua ngay tức thì. Một danh sách quan sát là mấu chốt để lựa chọn CP thành công.
Nếu bạn theo trường phái phân tích kĩ thuật, thì khi đó diễn biến giá CP là lý do chính của việc lựa chọn một CP đó để theo dõi.
Còn nếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản, thì tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lý do chính để bạn quan tâm đến CP này. Một khi CP đã nằm trong danh sách theo dõi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của CP đó với diễn tiến giá cả của các CP khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến CP đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định.
Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kĩ thuật có thể quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin có tính kỹ thuật về CP. Liệu CP có diễn biến giá cả giống như trong quá khứ không? Xu hướng giá CP trong 13 tuần, 26 tuần hay 52 tuần gần đây nhất là đi lên hay đi xuống? So với lúc bắt đầu được đưa vào danh sách, CP đó tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?
Nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản sẽ tìm kiếm tin tức, các bản bảo cáo thu nhập, báo cáo ngành hay báo cáo của nhà phân tích nhằm tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, khi chọn lựa CP để theo dõi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu CP đó có đáng được theo dõi hay không.
May mắn lắm bạn cũng chỉ chọn được 2 đến 3 CP tốt trong số 10 lần chọn. Bởi vậy, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy các CP giảm giá sẽ chiếm đa số trong danh sách theo dõi. Cần lưu ý rằng, chỉ nên đưa những CP tốt nhất trong danh sách theo dõi vào danh mục đầu tư của bạn.
Bước 2: Chấp nhận vị thế
Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, bạn chỉ cần liên hệ với nhà môi giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều. Trước tiên là loại giao dịch mà bạn thực hiện: đoản hay trường (short or long). Mặc dù xu hướng chung của giá CP là di lên nhưng bất kỳ ai dã từng mắc phải một vị thế thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn CP có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nhìn chung, bạn nên tránh nhưng vị thế đoản (vị thế bán non). Chúng ngốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho vị thế đoản lại rất hiếm hoi. Nếu bạn thực hiện vị thế đoản, bạn cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế trường.
Kế đến là việc chọn lựa nhà môi giới. Nếu bạn là một nhà đầu tư tư nhân bạn có lẽ chỉ cần đến một nhà môi giới phần dịch vụ (discount broker). Đây là nhà môi giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng.
Bước 3: Giám sát vị thế
Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nhất của quá trình đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đưa bạn đến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết dịnh đầu tư của mình. Khi vị thế đó nằm ở vị trí bấp bênh giữa lỗ và lãi, bạn cần phải hết sức chú ý đến những vị thế này. Khi CP mà bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng, đó là CP tốt thì bạn nên tính đến chuyện mua thêm CP này. Nếu CP mà bạn chọn giảm giá liên tục bạn cũng nên cân nhắc bán đi CP đó nhằm hạn chế thua lỗ.
Bước 4: Kết thúc vị thế
Nhà đầu tư thường bán CP khi giá CP đạt đến mức giá mục tiêu (target price) hay CP không diễn biến theo như mong đợi của anh ta. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán như thế nào để kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông thường, bạn nên bán CP khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể, chắng hạn như, thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhiều năm liền, thị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt hay nội bộ ban giám đốc luôn lục đục…

———————————————————-

2. Nên quan tâm đến gì trước khi đầu tư?

Tôi đã đầu tư vào hàng nghìn công ty khác nhau trên thị trường chứng khoán. Thành công không bao giờ đến từ những điều thần kỳ hay sự nỗ lực ít ỏi. Luôn có một công thức hướng tới lợi nhuận. Điều quan trọng là bạn cần biết nhìn vào đâu trước mỗi quyết định đầu tư”. Đó là nhận định của Doug Richard, một trong những nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên thế giới.
Năm 2004, Doug Richard đã được tạp chí BBC bầu chọn là nhà đầu tư có cái nhìn sắc sảo nhất trong giới đầu tư chứng khoán Anh. Những khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu của Doug luôn có tỷ lệ sinh lời trên 20%. Mặc dù lựa chọn phương thức đầu tư mạo hiểm nhưng dường như chưa bao giờ Doug phải đương đầu với thua lỗ. Nhiều người băn khoăn tự hỏi: Đâu là “người bảo vệ” cho những khoản đầu tư mạo hiểm của Doug Richard?
Sự thật rất đơn giản! Doug Richard dành khá nhiều thời gian phân tích kỹ lưỡng trong giai đoạn tiền đầu tư. Với Doug, luôn có 5 nhân tố then chốt cần phải quan tâm trước khi đầu tư tiền bạc vào một loại cổ phiếu nào đó:
1. Đảm bảo an toàn vốn
Để kế hoạch đầu tư không đương đầu với rủi ro lớn, điều đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm là đảm bảo đồng vốn của mình được an toàn, không bị giảm sút. Các nhà đầu tư nên xây dựng danh mục đầu tư đa đạng. Ðầu tư đôi khi cũng có nhầm lẫn, sự nhầm lẫn này có thể làm các nhà đầu tư phá sản. Vì vậy khi đầu tư chứng khoán nên tránh tập trung vào một loại chứng khoán mà cần chia ra nhiều loại chứng khoán khác nhau, tức là phân tán rủi ro. Mọi người biết rằng những công ty lớn nhất trên thị trường cũng có thể phá sản, vì vậy một danh mục đầu tư càng đa dạng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, những “cổ phiếu thắng cuộc” sẽ bù đắp cho những “cổ phiếu thua cuộc”. Nếu số tiền ít thì nên mua chứng khoán của công ty mà chúng ta đang làm việc, gia nhập các hội đầu tư hoặc là mua cổ phiếu của các Quỹ hỗ tương.
Không chỉ có vậy, giá cổ phiếu tăng liên tục trong một thời gian nhất định sẽ mang lại cho các nhà đầu tư những khoản lời lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chính sự tăng giá này đã đẩy giá các loại cổ phiếu lên mức giá quá cao. Vậy nên mua vào hay bán ra cổ phiếu nào vào thời điểm này? “Không nên tham quá khi cố găm giữ cổ phiếu để chờ nó tăng giá cao hơn nữa. Cái quan trọng là phải biết khi nào nó chuẩn bị mất giá để kịp thời bán ra, chứ để khi giá đã xuống thấp thì cho dù có muốn bán cũng chẳng có ai mua”, Doug cho biết.
2. Sự đổi mới và cách tân
Sự đổi mới không chỉ đơn thuần là những phát minh sáng chế. Nó có thể là những cách thức mới để tiến hành các hoạt động kinh doanh cũ. Một công ty nhiệt huyết với sự đổi mới thì cổ phiếu của những công ty đó sẽ hứa hẹn tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Trong khi, một công ty quá bảo thủ với những phương thức truyền thống thì cổ phiếu của công ty đó cũng trở nên trì trệ và kém năng động.
Điều quan trọng để chiến lược đầu tư được thành công là việc nắm bắt rõ tính năng động của cổ phiếu. Do đó, các nhà đầu tư nên tìm hiểu xem công ty mà mình dự định đầu tư có thực sự hướng đến những phương pháp kinh doanh mới khi gặp khó khăn hay không.
3. Tình hình nhân sự
Hoạt động kinh doanh đều do con người thực hiện. Do vậy, việc nắm bắt tình hình nhân sự của công ty mà bạn dự định đầu tư là rất cần thiết”, Doug nói. Theo ông, việc tìm hiểu tình hình nhân sự không phải là công việc quá khó khăn. Không ai có tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm và danh tiếng để điều hành các hoạt động kinh doanh, điều quan trọng chính là ở chỗ họ có nhiệt huyết với công việc hay không.
“Khi tôi nhìn vào tình hình nhân sự, tôi muốn thấy sự nỗ lực công việc của các nhân viên trong công ty mà tôi dự định đầu tư”, Dough nói, “Một công ty có tình hình nhân sự không ổn định, thường xuyên thay đổi nhân viên không phải là một công ty tốt để đầu tư”.
Hơn thế nữa, với Doug, tình hình nhân sự cũng là yếu tố quyết định để bán cổ phiếu. Nếu những nhà quản lý hàng đầu của công ty (những người chịu trách nhiệm về sự thành công của công ty) bắt đầu rời bỏ công ty thì có thể xem đó là dấu hiệu bất lợi cho tương lai của công ty. Khi đó cần phải theo dõi và phát hiện xem tại sao lại có những thay đổi như vậy. Đặc biệt, khi phát hiện ra những dấu hiệu cho thấy công ty đang trở nên suy yếu trong lĩnh vực kinh doanh chính thì tốt nhất nên bán cổ phiếu của công ty đó đi và thay vào đó là tìm mua cổ phiếu của công ty khác trong cùng lĩnh vực đó nhưng mạnh hơn và có Ban quản trị ổn định hơn.

4. Bản cáo bạch

Bản cáo bạch luôn được xem như một tài liệu then chốt. Đối các nhà đầu tư, Bản báo bạch là phương tiện giúp họ đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết định thiếu thông tin có thể làm các nhà đầu tư phải trả giá đắt.
Bởi vậy, các nhà đầu tư nên đọc Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng và tìm hiểu rõ những may rủi thực sự của công ty trước khi ra quyết định đầu tư. Nên đánh giá cẩn thận những yếu tố cơ bản của công ty dự định đầu tư thông qua việc nghiên cứu các thông tin trong Bản cáo bạch. Mặc dù những đợt chào bán lần đầu ra công chúng dường như là cơ hội đầu tư tốt vì chúng thường mang lại lợi nhuận ban đầu cao, tức là tiền chênh lệch, do cổ phiếu tăng giá; nhưng rủi ro vẫn tồn tại và không có gì bảo đảm là sẽ thu được tiền chênh lệch hoặc tiền chênh lệch sẽ được như mức mà bạn trông đợi.
“Tôi luôn bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty. Trong quá trình thực hiện, tôi tự đặt ra cho mình một số mục đích quan trọng như tìm hiểu xem việc kinh doanh của công ty có tiến triển hay không, lợi nhuận trung bình như thế nào, nợ nần ra sao,… Doanh thu tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng. Nhưng các con số chưa phải là nói lên tất cả. Do vậy, sẽ rất cần thiết khi nghiên cứu Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng để tìm ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty”, Doug nói.
Các nhà đầu tư cũng nên tìm hiểu về các sản phẩm công ty kinh doanh, khách hàng của công ty, đặt ra câu hỏi liệu các sản phẩm này có tiếp tục bán được nữa không. Các thông tin chính về các vấn đề này nằm trong các phần khác nhau của Bản cáo bạch.

5. Kế hoạch kinh doanh

“Nếu công ty mà bạn dự định đầu tư không có những kế hoạch kinh doanh tốt thì triển vọng lợi nhuận của cổ phiếu gần như bằng không. Bạn đừng mắc phải sai lầm này, kinh doanh là một cuộc chiến. Để kiếm lời từ cổ phiếu bạn cần hiểu cổ phiếu đó đang làm những gì và có kế hoạch như thế nào”, Doug nói.
Tất cả các hoạt động kinh doanh đều có những kế hoạch và mục tiêu. Kế hoạch kinh doanh sẽ tạo ra những trọng điểm mà công ty cần tập trung vào. Các nhà đầu tư không thể bỏ qua việc nghiên cứu các kế hoạch kinh doanh nếu muốn có được những khoản đầu tư sinh lời.
Việc tìm hiểu kế hoạch kinh doanh của các công ty không quá dễ nhưng cũng không quá khó. Các nhà đầu tư có thể tìm hiểu từ chính những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của công ty đó. Họ là những người am hiểu về cổ phiếu này hơn ai hết.
Tạp chí BBC đã có một cuộc phỏng vấn ngắn với Doug Richard về công việc đầu tư chứng khoán của ông:
BBC: Giới đầu tư chứng khoán đồn rằng, khi bắt đầu, mới “chơi” cổ phiếu có hơn 5 tháng mà ông lãi cả triệu bảng Anh?

Doug Richard:
Tôi không tranh cãi chuyện thiên hạ đồn đại về mình, bạn bè vẫn quen gọi tôi là “trùm cổ phiếu”. Điều mà tôi cảm thấy yên tâm và hài lòng sau một thời gian tham gia đầu tư cổ phiếu là đã chọn đúng nhà môi giới. Tôi cho rằng, từ cơ sở hạ tầng đến đội ngũ nhân viên môi giới của Công ty môi giới Nicleway, nơi tôi đang mở tài khoản là đáng tin cậy.

BBC:
Cơ sở nào tạo cho ông sự tin cậy này?

Doug Richard:
Theo đánh giá của tôi, ở Nicleway khả năng của nhà môi giới là vượt trội. Điều này thể hiện qua cách trả lời chính xác, dễ hiểu, mức độ tinh thông nghiệp vụ, tính trung thực, tinh thần phục vụ và tính bảo mật khách hàng của đội ngũ nhân viên làm việc ở đây. Nhờ vậy, khả năng truyền thông giữa các nhân viên môi giới tại sàn của công ty chứng khoán và tại Sở Giao dịch chứng khoán thường rất nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra, Nicleway còn có những dịch vụ hỗ trợ khác như có thể cho khách hàng thế chấp chứng khoán ở ngân hàng mẹ để vay tiền mua chứng khoán hoặc để làm việc khác…

BBC:
Có phải ông gián tiếp cho rằng trong đầu tư chứng khoán thì điều đầu tiên cần quan tâm là việc chọn công ty chứng khoán?

Doug Richard:
Điều này đã từng được các chuyên gia về chứng khoán khuyến cáo. Thực tế trong thời gian qua lời khuyên này là hoàn toàn chính xác. Có thể thấy, trong điều kiện đặt lệnh giao dịch qua nhân viên môi giới tại các công ty chứng khoán như hiện nay, khả năng xử lý lệnh nhanh nhạy của nhân viên môi giới là hết sức quan trọng, bởi vì nếu bạn đặt lệnh cùng với giá của người khác mà nhân viên môi giới lại nhập lệnh chậm hơn đối thủ cạnh tranh thì bạn đã mất quyền ưu tiên và khả năng lệnh của bạn được thực hiện rõ ràng nhỏ hơn người kia.

BBC:
Việc chọn đúng nhà môi giới là một lợi thế nhưng để mua hoặc bán được cổ phiếu ở mức giá vừa ý lại do nhà đầu tư quyết định. Với kinh nghiệm của mình, ông có thể “bật mí” một vài bí quyết?

Doug Richard:
Phương pháp mà tôi sử dụng để xây dựng “danh mục đầu tư” của mình là dựa vào những nhận định của bản thân. Nhận định này được tính theo mức lợi tức kỳ vọng cho mỗi giả định đầu tư của mình và so sánh chúng với nhau để tìm ra danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán (tức là danh mục có kỳ vọng cao nhất).
Tôi cho rằng, phương pháp tính lợi tức kỳ vọng này phụ thuộc chủ yếu vào đánh giá chủ quan của mỗi nhà đầu tư dựa trên các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp hàng tháng, hàng tuần, thậm chí hàng ngày. Việc đánh giá xác suất và tỷ lệ lợi nhuận được chia tuy cùng dựa trên cơ sở thực tế là bản cáo bạch, báo cáo về việc phân chia cổ tức, thông tin đại chúng, thông tin không chính thức mà nhà kinh doanh thu thập được nhưng người nào có nhiều thông tin chính xác và có khả năng dự đoán tốt hơn sẽ có nhiều cơ hội thành công. Điều này đòi hỏi người tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải luôn động não, cần khả năng tư duy, thậm chí đòi hỏi họ cả ý chí và bản lĩnh.

BBC:
Nhà đầu tư có nên một lúc đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu?

Doug Richard:
Có một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh chứng khoán là đừng bao giờ “bỏ tất cả trứng vào một rổ”. Tuy vậy, việc đầu tư dàn trải vào quá nhiều danh mục đầu tư cũng có thể không mang lại hiệu quả mong đợi. Người đầu tư vừa mất sức lực lại vừa không kiểm soát được đối tượng đầu tư của mình. Theo tôi, nhà đầu tư nên tìm hiểu nhiều loại chứng khoán nhưng chỉ nên đầu tư vào một số loại chứng khoán mà họ tin tưởng nhất.

BBC:
Lời khuyên nào với các nhà đầu tư chứng khoán mới vào nghề?
Doug Richard: Trong mua bán chứng khoán, điều quan trọng là nhà đầu tư phải biết tự bảo vệ mình và đưa ra những phương pháp đầu tư phù hợp nhất với từng loại chứng khoán.. Một số biện pháp an toàn cơ bản mà các chuyên gia chứng khoán đã khuyến cáo có thể được tham khảo như hãy cảnh giác với những tin đồn, những người bán đang gây sức ép buộc mình phải hành động tức thời hoặc những sự bảo đảm hay lời hứa về lợi nhuận nhanh chóng; phải chắc chắn hiểu rõ về sự mạo hiểm, rủi ro phát sinh trong mua bán chứng khoán. Ngoài ra cũng cần hiểu bản chất của thị trường chứng khoán là luôn biến động, điều quan trọng mà các nhà đầu tư nên nhớ là thành công trước đây không phải là sự bảo đảm cho thành công trong tương lai đối với một phi vụ đầu tư.
BBC: Xin cảm ơn ông!
Được mệnh danh là một nhà đầu tư được coi là “có máu mặt” tại Anh, kinh nghiệm và những lời khuyên của Doug Richard chắc chắn sẽ rất hữu ích trong thời buổi thị trường có nhiều biến động như hiện nay, đặc biệt là đối với những nhà đầu tư mới vào nghề. Để rồi, “chính sự cẩn trọng và nhanh chóng nắm bắt kinh nghiệm đầu tư chứng khoán sẽ đưa đến bí quyết thành công trên thị trường chứng khoán”, Doug Richard nhận định.

Những nhân vật không thể thiếu trên thị trường chứng khoán

Trải qua hàng trăm năm lịch sử hình thành, thị trường chứng khoán đến nay vẫn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định là một kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế. Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu về sự đa dạng trong các hoạt động đầu t¬ư, đến nay nhiều loại thị trường đã ra đời với các hình thức tổ chức thị trường từ đơn giản đến hiện đại và hết sức chặt chẽ.
Thị trường chứng khoán không thể thiếu những thành viên hoạt động của mình. Khi đề cập đến các hình thức tổ chức thị trường không thể không nhắc đến vai trò của các chuyên gia và các nhà tạo tập thị trường trong việc tạo lập sự công bằng, hiệu quả và trật tự trên mỗi thị trường này.

——————————————-

3. Vai trò của chuyên gia chứng khoán trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung.

Mục tiêu của các Sở giao dịch là tạo lập một môi trường giao dịch chứng khoán (chứng khoán) an toàn và hiệu quả, trong đó các nhà đầu tư phải được đối xử công bằng, được cung cấp thông tin tương xứng nhằm hỗ trợ kịp thời cho các quyết định đầu tư.
Trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung, chuyên gia chứng khoán là những người hoạt động chuyên môn nhằm duy trì sự công bằng, cạnh tranh và hiệu quả về một loại chứng khoán đã niêm yết. Ngoài ra, các chuyên gia còn là sự kết nối giữa các nhà môi giới với các lệnh đặt mua và bán trên thị trường chứng khoán, hỗ trợ cho các giao dịch được thực hiện an toàn và hiệu quả.
Một giao dịch được thực hiện khi giá cả đã hợp lý, để đạt được mức giá hợp lý thì các lệnh đều phải chuyển qua các chuyên gia phụ trách. Vai trò của các chuyên gia được thể hiện qua các hoạt động sau:

  • Vai trò là đại lý của các nhà môi giới: Công việc của chuyên gia là thực hiện lệnh cho các nhà môi giới đối với loại chứng khoán mà họ phụ trách. Nếu một khách hàng tiến hành đặt lệnh thông qua nhà môi giới, trong trường hợp lệnh giới hạn không thể thực hiện được, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này sang các chuyên gia, các chuyên gia sẽ trở thành người đại diện cho nhà môi giới đối với lệnh đó tại sàn giao dịch.
  • Vai trò là nhà đấu giá: Trong toàn bộ phiên giao dịch, các chuyên gia sẽ đưa ra một mức giá chào mua – chào bán tốt nhất, trên cơ sở đó đến đầu mỗi phiên giao dịch họ thiết lập một mức giá giao dịch hợp lý đối với từng loại chứng khoán trên cơ sở cung – cầu về loại chứng khoán đó. Hoạt động này nhằm bảo đảm trật tự thị trường đối với từng loại chứng khoán mà họ phụ trách, đồng thời hạn chế sự dao động về giá cả của chứng khoán đó.
  • Vai trò là nhà kinh doanh: Các chuyên gia thực hiện giao dịch tại một mức giá nằm trong khoảng giá chào mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất. Họ là người chịu trách nhiệm giảm thiểu sự chênh lệch giữa lệnh mua và lệnh bán. Việc mua và bán này được thực hiện theo hướng của thị trường cho đến khi sự chênh lệch được cân bằng trở lại.
  • Trong trường hợp xảy ra biến cố về lệnh, về giá cả… tại thị trường giao dịch tập trung, vai trò của các chuyên gia trở nên rất quan trọng trong việc chủ động điều chỉnh các biến cố về trạng thái cân bằng và ổn định.

—————————————————-
4. Vai trò của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường phi tập trung.

Nhà tạo lập thị trường là người thực hiện chức năng duy trì thị trường cho một loại chứng khoán. Chẳng hạn, đối với chứng khoán A là chứng khoán không niêm yết và được mua bán trên thị trường phi tập trung (OTC). Nhà tạo lập thị trường là người đặt ra mức giá bán chứng khoán A cho bên mua với sự thách giá trên cơ sở tương ứng với mức giá mà bên bán (khách hàng của họ) yêu cầu.
Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh mua bán chứng khoán A trên thị trường OTC, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này tới nhà kinh doanh (thuộc bộ phận kinh doanh của công ty môi giới). Nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm người có thể bán số chứng khoán A (nhà môi giới bên bán). Lúc này, nhà môi giới bên bán đóng vai trò là người tạo lập thị trường cho chứng khoán A.
Thực tế là có nhiều nhà môi giới sẵn sàng bán chứng khoán A và như vậy sẽ có rất nhiều nhà tạo lập thị trường đối với chứng khoán A tương đương với các mức “thách giá” khác nhau. Nhà kinh doanh bắt đầu tiến hành thương lượng về giá cả của chứng khoán A với các nhà tạo lập thị trường để có thể đạt được mức giá tối ưu. Giao dịch sẽ được thực hiện khi nhà kinh doanh tìm được nhà tạo lập thị trường bán số chứng khoán A với mức giá thấp nhất.
Thông thường các nhà tạo lập thị trường là những nhà môi giới đã được đăng ký. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà môi giới đã đăng ký đều là những nhà tạo lập thị trường. Để có thể trở thành một nhà tạo lập thị trường thì người môi giới phải thực sự quan tâm đến việc tạo dựng thị trường cho một loại chứng khoán.
Vai trò của các nhà tạo lập thị trường được thể hiện thông qua các hoạt động sau:

  • Duy trì tính thanh khoản của thị trường đối với một loại chứng khoán khi chứng khoán đó được phát hành ra thị trường.
  • Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán có thể sinh lời do sự cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau đối với cùng loại chứng khoán đó.
  • Thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán không niêm yết trên thị trường.
  • Tăng tính thanh khoản của thị trường đối với một loại chứng khoán khi tăng số lượng các nhà tạo lập thị trường.

Các chuyên gia cũng có thể trở thành “nhà tạo lập thị trường” đối với một loại chứng khoán cụ thể trong điều kiện phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ. Sự kiểm soát này sẽ hạn chế được các sai phạm nếu họ lạm dụng quyền hành độc quyền của mình tại Sở giao dịch.
Bên cạnh đó, các nhà tạo lập thị trường có xu hướng cạnh tranh với nhau do luôn có nhiều nhà tạo lập thị trường đối với một chứng khoán, do đó thị trường OTC được đánh giá là có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.
Cả chuyên gia chứng khoán và nhà tạo lập thị trường đều được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, vì vậy họ có nhiều khả năng bị “rò rỉ” thông tin khi có sự biến động thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện kinh doanh cho chính họ nhằm thu lợi nhuận. Đó cũng chính là lý do tại sao những đối tượng này bị kiểm soát chặt chẽ. Một yêu cầu khác nữa là họ phải công bằng với tất cả các nhà đầu tư, không được phép thiên vị bất cứ bên nào.
Ngày nay, trên thế giới có nhiều loại thị trường mới ra đời như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường hợp đồng tương lai, thị trường quyền chọn… cùng với sự hỗ trợ của các phương thức giao dịch đa dạng đã không ngừng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thị trường chứng khoán, góp phần vào sự công bằng, hiệu quả và trật tự đối với các giao dịch tại các thị trường này… Vì vậy vai trò của các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường là luôn được khẳng định.

—————————————-

5. Cẩn trọng khi giao dịch với các Công ty chứng khoán

Hiện tại, cách tiếp cận dễ nhất của nhà đầu tư với thị trường chứng khoán là qua các công ty chứng khoán. Tại các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới, các hình thức đầu tư chứng khoán cũng đã “xâm nhập” vào tư duy của mọi người. Trên những thị trường này, có thể thấy lượng khách hàng đến các công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch nói riêng hay lượng người quan tâm đến chứng khoán nói chung ngày một tăng
Các công ty chứng khoán có thể cung cấp những nghiệp vụ như môi giới, tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, tự doanh, bảo lãnh phát hành,.
Khi tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng, các công ty này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng nếu vi phạm các cam kết. Trong trường hợp thực hiện tư vấn cho doanh nghiệp trong việc niêm yết chứng khoán, các công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều công ty chứng khoán lợi dụng những khe hở của pháp luật để tiến hành các hành vi tiêu cực mà nếu không cẩn thận các nhà đầu tư rất dễ gặp rủi ro.

1. Tư vấn vì lợi ích cá nhân của các công ty chứng khoán:

Do ý đồ cá nhân, công ty chứng khoán có thể sẽ tư vấn đầu tư không phù hợp với nhu cầu, khản năng tài chính và mục tiêu của khách hàng. Do đó, khách hàng cần nhận thức rằng, mình muốn được hướng dẫn đầu tư phù hợp với bản thân mình chứ không phải phù hợp với người môi giới. Mỗi khoản đầu tư được tư vấn đều cần có lời giải thích cặn kẽ, gồm cả việc khuyến cáo các rủi ro.

2. Vi phạm quy định giao dịch công bằng:

Các hoạt động sau đây của các công ty chứng khoán bị xem là vi phạm những quy định liên quan đến giao dịch công bằng:

  • Đề nghị thực hiện việc đầu cơ chứng khoán mà không xem xét tình hình tài chính của khách hàng và đảm bảo khách hàng không chịu rủi ro.
  • Mở tài khoản khống chế thực hiện việc kinh doanh chứng khoán trái phép.
  • Thực hiện các giao dịch ngoài thẩm quyền được giao.
  • Đề nghị mua chứng khoán không thích hợp với khả năng chi trả của khách hàng.
  • Các hoạt động lừa đảo (chẳng hạn như giả mạo và cung cấp không đầy đủ hoặc không cung cấp số liệu thực tế).

3. Giao dịch thái quá:


Hành vi giao dịch thái quá có nghĩa là giao dịch thường xuyên và với số lượng lớn trên tài khoản của khách hàng nhằm mục đích nhận hoa hồng mà không nhằm đạt được các mục tiêu khách hàng đã đề ra. Đây là hành vi lạm dụng trách nhiệm uỷ quyền của khách hàng.
Một trong những biện pháp để ngăn chặn hành vi lạm dụng này là nhà đầu tư cần phải yêu cầu tất cả tài khoản mà mình uỷ quyền cho công ty chứng khoán phải được giám sát viên của công ty chứng khoán xem xét thường xuyên.
4. Vay và cho vay tiền và chứng khoán:

  • Vay tiền và vay chứng khoán của khách hàng: Các công ty chứng khoán bị cấm vay tiền hay chứng khoán từ khách hàng trừ phi khách hàng là ngân hàng hay các tổ chức tài chính có chức nang thực hiện việc cho vay tiền và chứng khoán.
  • Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các công ty chứng khoán cũng bị cấm cho khách hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệp vụ thông thường.

5. Xuyên tạc:
Các công ty chứng khoán có thể xuyên tạc, nói không đúng về bản thân hay về các dịch vụ của công ty mình đối với khách hàng tiềm năng. Do đó, theo quy định, Công ty chứng khoán không được phép xuyên tạc về:

  • Trình độ, kinh nghiệm và học vấn.
  • Loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng.
  • Các loại phí.

Việc công bố không chính xác hay không công bố các sự kiện quan trọng liên quan đến những vấn đề trên cũng bị coi là xuyên tạc. Khách hàng sẽ phải khó khăn khi so sánh chất lượng dịch vụ giữa các công ty chứng khoán nếu khách hàng không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác liên quan đến vấn đề chuyên môn.
6. Sử dụng các báo cáo, công trình nghiên cứu của công ty hoặc cá nhân khách hàng:
Công ty chứng khoán không được phép sử dụng các nghiên cứu phân tích hay đề nghị do cá nhân hay công ty khác tiến hành mà không công bố rằng, các báo cáo này không phải do chính họ thực hiện. Công ty chứng khoán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các báo cáo hay phân tích của người khác nhưng không được tự nhận rằng, các báo cáo, nghiên cứu đó là của mình.
Có thể nói, nhà đầu tư đến bất kỳ Công ty chứng khoán nào cũng đều dễ dàng được tiếp cận với những thông tin thị trường, những lời khuyên của nhà môi giới, hoặc tư vấn của các chuyên gia… Đó là tại những thị trường lâu đời như phố Wall, Nhật Bản, Hồng Kông. Tuy nhiên, tại những thị trường chứng khoán còn rất mới và sơ khai như thị trường Việt Nam, các chủ thể hoạt động trên thị trường vẫn trong giai đoạn vừa làm vừa bổ sung và củng cố nên nhà đầu tư chưa thể có cơ sở để đặt niềm tin tuyệt đối vào bất kỳ một định chế tài chính nào.
Nhà đầu tư cần ý thức rằng dù có biết được một tin tức tốt lành đến đâu đi nữa thì quyết định mua hay bán vẫn cần cân nhắc kỹ bởi mua chứng khoán là mua bằng tiền của chính mình, được hay mất đều tác động trực tiếp đến ngân sách của nhà đầu tư. Đặc biệt cần thận trọng với trào lưu thị trường vì trong trào lưu thị trường hiện tại, nhà đầu tư bỏ tiền mua chứng khoán nhìn chung vẫn theo xu hướng kỳ vọng giá lên chứ không mấy ai có những phân tích sát thực tình hình hoạt động của công ty niêm yết để tìm ra một mức giá hợp lý.
Nhiều chuyên gia chứng khoán cho rằng rất khó dự đoán xu thế biến chuyển của giá chứng khoán vì hai nguyên nhân:
Thứ nhất, các thông tin về công ty niêm yết chưa thực sự được công bố thường xuyên và đầy đủ.
Thứ hai, do hình thức đầu tư chứng khoán còn rất mới mẻ đối với công chúng nên việc quyết định mua, bán chứng khoán của nhiều nhà đầu tư vẫn mang tính tự phát theo trào lưu, chưa có sự phân tích đánh giá nên không ổn định trong tâm lý đầu tư.
Có một vài điều nhà đầu tư cần lưu ý khi giao dịch với các Công ty chứng khoán, cụ thể:

  • Hãy yêu cầu Công ty chứng khoán cho bạn biết về tình hình thị trường hiện tại, bạn cũng có thể yêu cầu họ cung cấp các tài liệu về tình hình của các công ty niêm yết. Hãy quan tâm đến những quy định cơ bản về hoạt động của công ty và thị trường như giới hạn khoản tiền mở tài khoản, mức phí môi giới, biên độ dao động giá…
  • Cần thận trọng đối với những nhà tư vấn đầu tư cung cấp thông tin không khớp với các thông tin trong tài liệu. Trong trường hợp có nhiều điểm không giống hãy xin tư vấn dưới dạng văn bản về những gợi ý đầu tư và lý do đầu tư. Điều này sẽ hỗ trợ bạn trong trường hợp phát sinh các vấn đề sau khi bạn được tư vấn.
  • Các Công ty chứng khoán hứa hẹn lợi nhuận nhanh chóng và dễ dàng cũng là điều bạn cần cân nhắc Hãy nhớ là điều gì quá tốt, quá thuận lợi đều cần phải xem lại. Nên cân nhắc kỹ càng, nếu bạn còn băn khoăn điều gì hãy tìm lời khuyên của người tư vấn khác.
  • Đừng để bị thuyết phục dẫn đến những quyết định hấp tấp dựa trên các thông tin “nội gián”, thông tin “tuyệt mật”, “khả năng hợp nhất” hoặc “bị thâu tóm” hay những tin về “sản phẩm mới hấp dẫn”…
  • Khi đầu tư vào chứng khoán, nên hiểu rằng các điều kiện cấp phép do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đặt ra là nhằm bảo đảm cho các Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cũng như các nhân viên được cấp phép có đủ khả năng hoạt động trong lĩnh vực được cấp phép. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các loại giấy phép do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp sẽ đảm bảo tính trung thực đối với hành vi của người hoặc đơn vị được cấp phép hay chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.Mua chứng khoán một cách khôn ngoanBắt đầu hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán quả là không mấy dễ dàng. Mở tài khoản ở hãng tư vấn đầu tư sẽ rất tốn kém. Mua các loại chứng khoán khác nhau cũng đòi hỏi phải xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng.

    Cách tốt nhất để bắt đầu “buôn” chứng khoán là dùng chiến lược gọi là bình quân giá chi phí đôla (dollar-cost averaging). Đây là một thuật ngữ thường dùng để thực hiện các khoản đầu tư vào một chứng khoán thường xuyên và có hệ thống mà không tính đến yếu tố giá cả.

    Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng các nhà đầu tư theo chiến lược đó thường có khuynh hướng phải trả mức giá thấp hơn những người mua chứng khoán theo số lượng lớn. Chiến lược này khá hữu hiệu, đặc biệt đối với ngành có độ giao động cao như ngành công nghệ. Sở dĩ như vậy là bởi vì cùng 100$ một tháng có thể mua được nhiều chứng khoán hơn khi giá xuống và sẽ mua được ít chứng khoán hơn khi giá lên.

    Có rất nhiều cách để thiết lập nên những khoản đầu tư chứng khoán theo hệ thống. Cách thứ nhất có thể là thực hiện việc mua vào chứng khoán liên tục thông qua một nhà môi giới giảm giá trên mạng. Hoặc là nhà đầu tư có thể sử dụng dịch vụ của các nhóm hỗ trợ nhà đầu tư về chứng khoán.

    Nguyên tắc quan trọng nhất khi đầu tư chứng khoán là phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đã đề ra và thiết lập những khoản đầu tư thường xuyên trong quỹ chứng khoán của bạn mỗi tháng, bất kể là khoản đầu tư ấy nhỏ đến mức nào. Và sau đó, bạn hãy bình tĩnh vượt qua những “thử thách cam go” của thị trường.

—————————————————-
6. Định hướng tài sản trong đầu tư chứng khoán

Thế nào là tài sản thực và thế nào là tài sản tài chính? Nhà đầu tư nên đầu tư vào loại tài sản nào trên thị trường chứng khoán? Đó là câu hỏi mà các nhà đầu tư chứng khoán cần trả lời trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư chứng khoán. Có một số nhà đầu tư đã nhầm lẫn khi trả lời câu hỏi trên. Kết quả là họ phải chịu những khoản thua lỗ không đáng có.

Tài sản thực là các loại tài sản trực tiếp tham gia quá trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ của nền kinh tế như: đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, chất xám,…

Ngược lại, tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp quá trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá,… Các loại tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể chỉ là những dữ liệu trong máy tính, sổ sách.

Tài sản tài chính yêu cầu cao về lợi tức mà các tài sản thực tạo ra. Nói cách khác, tài sản thực tạo ra lợi tức thuần cho nền kinh tế, còn tài sản tài chính thì định ra sự phân phối lợi tức hoặc của cải giữa các nhà đầu tư.

Các nhà đầu tư đem của cải của mình đi mua các loại chứng khoán (tài sản tài chính). Những người phát hành chứng khoán (công ty, chính phủ,…) sử dụng số tiền huy động được từ việc phát hành chứng khoán để đầu tư mua tài sản thực như nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nghệ, hàng hoá và thương hiệu. Khi đó, thu nhập từ chứng khoán của các nhà đầu tư chủ yếu từ lợi tức do các tài sản thực tạo ra và các tài sản thực này thì được tài trợ chủ yếu bằng việc phát hành chứng khoán.

Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là các tài sản tài chính, không là tài sản thực. Tùy theo ý chí và mục đích đầu tư, các nhà đầu tư có thể lựa chọn đầu tư vào các loại chứng khoán sau:

Chứng khoán lợi tức cố định:

Chứng khoán này được trả lợi tức cố định hàng năm như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty,… Thông thường, lợi tức thấp do rủi ro rất thấp nếu tình hình tài chính của công ty tốt và lành mạnh.

Chứng khoán vốn (cổ phiếu thường):

Cổ tức tùy thuộc vào kết qủa hoạt động kinh doanh của công ty hàng năm. Nếu công ty hoạt động hiệu quả, giá trị cổ phần vốn tăng, ngược lại nếu hiệu quả kém thì giá trị cổ phần vốn sẽ giảm. Do vậy, đầu tư vào loại chứng khoán này luôn gắn liền với hiệu quả kinh doanh và tài sản thực của công ty. Do đó, mức độ rủi ro khá cao. Tuy nhiên, nếu phân tích và dự đoán chính xác hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty thì mức lợi nhuận thu được từ cổ tức và giá trị cổ phần đầu tư có thể rất cao, đôi khi trong khoảng thời gian rất ngắn.

Chứng khoán có điều kiện:

Chứng khoán này là các hợp đồng quyền chọn (option) và các hợp đồng tương lai (future), cung cấp những khoản thanh toán được xác định trước theo giá của các tài sản khác như giá trái phiếu, cổ phiếu hay hàng hoá. Loại chứng khoán này hiện nay rất thông dụng trên thị trường chứng khoán các nước do được sử dụng linh động và thuận tiện trong các giao dịch trên thị trường.

Đầu tư bất hợp pháp, biết để tránh!

Để đảm bảo một môi trường đầu tư lành mạnh, thị trường chứng khoán cần được xây dựng trên nền tảng thi hành trung thực và công bằng. Nhà đầu tư phải được bảo vệ tối đa. Sự an toàn chính là nhân tố thuyết phục cho thị trường tồn tại và được duy trì bởi: một hành lang pháp luật, một hệ thống quy chuẩn và nghiệp vụ được chuẩn hoá chi li và những điều cấm kỵ có tính nguyên tắc.
Trên thị trường có một số hoạt động bất hợp pháp mà điều này đôi khi ảnh hưởng đến quyền lợi của những nhà đầu tư. Những nhà đầu tư kinh nghiệm thường biết để hạn chế tối đa rủi ro cho mình. Tuy nhiên đối với những nhà đầu tư mới vào nghề thì vấn đề này vẫn còn rất mới mẻ. Và nếu không cẩn thận, nhà đầu tư sẽ “sập bẫy” trên thị trường chứng khoán
Giao dịch giả tạo
Tương tự như việc đưa ra chào mua, chào bán ảo, việc dựng lên các giao dịch nguỵ tạo có thể được một sổ người sử dụng nhằm tạo các đột biến thị trường cho một loại chứng khoán nào đó ngõ hầu phục vụ cho dụng ý cá nhân. Các động tác giả (artificial transactions) này dù được vận dụng dưới bất cứ hình thức nào đều bị nghiêm cấm.
Gài thế
Cũng nhằm ngụy tạo cảm giác thị trường của một chứng khoán nào đó sôi động, cùng lúc có hai người đưa ra hai lệnh mua và bán giống hệt nhau thông qua cùng một công ty môi giới và được thực hiện. Kết quả mua bán được báo cáo trên các hệ thống thông tin nhưng kỳ thực đây chỉ là một một mánh khoé tạo xung động giá chứ không có mua bán theo cung cầu trung thực.
Các cá nhân cũng có thể tự thực hiện thủ thuật này hoặc do các nhóm cùng cánh làm ăn bất chính tạo ra. Các công ty chứng khoán buộc phải lưu ý và phát hiện các lệnh đối ứng kiểu này và không được thực hiện nghiệp vụ khi biết rằng đó là một hoạt động gài thế (matching). Ví dụ mua và bán cùng loại chứng khoán, cùng số lượng, gần như cùng giá tại cùng thời điểm,…
Mua bán đột biến
Mua bán đột biến tăng lên được xác định khi một thành viên có thể cấu kết với khách hàng – thực hiện các lượng mua bán một lượng chứng khoán vượt trội, tại một thời điềm nào đó, khác xa với diễn biến bình thường, hoặc vượt quá sự cân đối nguồn tài chính của mình một cách lộ liễu. Hoạt động này có thể bị kết tội hoặc bị truy cứu đã gây nhiễu loạn thị trường.
Dùng các phương tiện truyền thông để gây ảnh hưởng thị trường
Các công ty chứng khoán, hoặc các cá nhân, đơn vị liên quan, không được dùng tiền mua chuộc và tạo ra các bài viết, các nhận định thuận lợi theo ý mình hoặc các đề cập có dụng ý khác trên báo chí, các ấn phẩm tài chính,… Tất nhiên điều cấm kỵ này không bao gồm các quảng cáo bình thường trên các phương tiện truyền thông và được phân biệt rõ như vậy.
Phao tin thất thiết hay gây lạc hướng
Các nhà kinh doanh giao dịch chứng khoán bị cấm sử dụng vị thế của mình để tạo ra các trung tâm ảnh hưởng và nơi đưa ra ý kiến nhằm lung lạc khách hàng bằng việc truyền bá hoặc cung cấp các thông tin sai lạc hoặc thất thiệt phục vụ cho mục tiêu lôi kéo quần chúng mua hay bán một loại cố phiếu cụ thể nào đó.
Chạy trước
Hành động chạy trước liên quan tới những tình huống theo đó một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán trong khi đang giữ một lệnh mua hay bán của khách hàng đặc biệt là các khối lượng lớn có chiều hướng làm biến đổi thị trường lại thực hiện mua hoặc bán cho mình cùng phía với lệnh của khách hàng, trước khi đưa lệnh đó ra thị trường.
Nếu là lệnh mua, nhà kinh doanh môi giới không được mua riêng cho mình với giá bằng hay thấp hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.
Tương tự trường hợp khách hàng ra lệnh bán thì công ty đó không được bán chứng khoán cùng loại cho tài khoản công ty mình bằng hoặc cao hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.
Ép giá, trợ giá, chốt giá
Bất cứ nỗ lực chủ quan nào nhằm để tạo một áp lực làm cho giá một chứng khoán nào đó bị hãm lại ở mức thấp, hoặc đẩy giá xuống thấp hơn, được xem là hành động ép giá. Điều này bị lên án và cấm kỵ trong thị trường chứng khoán.
Tương tự các tác động chủ ý nhằm để duy trì một giá cao giả tạo hoặc chốt giá ổn định một cách không bình thường đối với một chứng khoán đều là các hành vi sai phạm và bị cấm.
Bên cạnh các biện pháp giám sát và duy trì sự tuân thủ các điều cấm cụ thể trên đây, có thể nói, toàn bộ thị trường chứng khoán được vận hành dựa vào một hệ thống nghiệp vụ, kỹ thuật, quy phạm,… được chuẩn hoá cao độ. Các hoạt động trong thị trường chứng khoán hầu như tất cả đều dựa trên những ‘đường ray’ theo một trật tự ăn khớp nhau. Sự tinh tế và nhạy cảm phát đi từ hiệu lực của hệ thống. .. giúp cho người ta có thể đo được độ trung thực theo yêu cầu “fair play” cho cả những thương vụ cực kỳ ngắn dù phải tính bằng giây.
Tính kỷ luật trong thị trường chứng khoán do được thể hiện từ các chuẩn mực chuyên sâu và cương kỷ như vậy, người đầu tư khi giao dịch trong thị trường này cần thiết phái nhờ đến chuyên viên tư vấn hoặc các nhà môi giới.

  • Có nên chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận khác? Chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm những khoản lợi nhuận khác lớn hơn luôn là lẽ thường trong hoạt động của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng dễ dàng như mong muốn: có những lúc thị trường chứng khoán lên giá khiến nhiều nhà đầu tư “mừng ra mặt”, nhưng cũng có khi thị trường sụt giảm làm không ít nhà đầu tư “mất ăn mất ngủ”. Nhiều người đã chuyển hướng đầu tư để tránh thua lỗ. Nhưng liệu những hành động như vậy có phải vào thời điểm nào cũng được coi là thích hợp?
    Câu hỏi đặt ra với các nhà đầu tư chứng khoán là họ có nên rút tiền đầu tư để mua trái phiếu, vàng hoặc ngoại tệ mạnh trước việc giá cổ phiếu sụt giảm không? Câu trả lời không dễ dàng chút nào, bởi vì có một điều không thể phủ nhận đó là yếu tố bất ổn tâm lý luôn là kẻ thù của các nhà đầu tư.
    Một quyết định mua hay bán ở thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình đầu tư của bạn. Tại Mỹ và châu Âu, rất nhiều nhà đầu tư cá nhân đã tìm đến các chuyên gia tư vấn, những nhà môi giới chuyên nghiệp trước khi quyết định đầu tư. Điều này gần như đã trở thành đương nhiên, bởi nếu bạn có một quyết định đầu tư không sáng suốt thì việc khắc phục hậu quả sẽ làm bạn đau đầu hơn nhiều. Tất nhiên, khi bị thua lỗ thì nhiều nhà đầu tư tỏ ra chán nản với thị trường chứng khoán. Thực tế, nếu thị trường chứng khoán có thể đem lại lợi nhuận lớn trong một thời gian ngắn thì cũng có thể làm cho nhà đầu tư chứng khoán thua lỗ lớn cũng trong một thời gian như vậy. Do vậy, những nhà đầu tư tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận luật chơi đó.
    Patrick W Cabe, phó tổng giám đốc Citibank, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ, khi nhận xét về sự tăng giảm giá các loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đã cho biết: “Thị trường biến động quá nhanh và tính ổn định kém. Đây là những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán của các công ty niêm yết. Một số nhà đầu tư đã rút tiền khỏi tài khoản để mua vàng khi giá vàng tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Tôi cho rằng, các nhà đầu tư này nếu bắt chước một số khách hàng của ngân hàng rút đô la Mỹ (USD) bán lấy đồng nội tệ rồi đi mua vàng, thì họ sẽ bị thua thiệt”.
    Dự trữ vàng có điều bất lợi là không sinh lời như kiểu cho vay. Nó có điều lợi duy nhất là trong thời gian dài vừa qua giá vàng đã tăng lên đáng kể. Vậy đầu tư vào vàng nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào sự tiên đoán về biến chuyển của giá vàng trên thị trường quốc tế. Biến động này thay đổi tuỳ theo ba thời kỳ như sau:
    • Từ năm 1930-1968: giá vàng trên thị trường thế giới gần như ổn định ở mức 35 USD/Ounce = 35 USD / 31,103 gr. Bất cứ ai tích trữ vàng cũng đều mất một khoản tiền lời và những khoản lợi tức, trong khi họ có thể dùng vốn đầu tư vàng vào việc đầu tư thứ khác. Trong thời kỳ này đầu tư vàng bất lợi hơn so với đầu tư ngoại tệ.
    • Từ 1968 – tháng 7 năm 1973: Giá vàng đã bắt đầu chuyển biến mạnh, nhất là từ ngày 15-08-1971 khi Mỹ quyết định thả nổi đồng USD, để cho giá vàng biến chuyển theo luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy, giá vàng từ dưới 40 USD/ ounce lên tới 130 USD/ounce vào tháng 7 năm 1973, rồi cứ thế thăng trầm theo chiều hướng đi lên theo đà mất giá của đồng Mỹ kim, xuất phát từ tình trạng lạm phát và thâm thủng trong cán cân thanh toán của Mỹ. Tình trạng đó kéo dài tới 1980 với giá gần 700 USD/ounce.
    • Từ năm 1988 cho tới nay dưới tác động của sự hoà dịu giữa Đông và Tây, giá vàng đã giảm mạnh, từ 460 USD (tháng 5 năm 1988) lại thăng trầm theo chiều hướng đi xuống tới mức chỉ còn 370 USD (tháng 5 năm 1989), tăng lên 400 USD vào cuối năm 1989 và đầu năm 1990 nhưng rồi dần dần giảm xuống mức 350 USD vào tháng 6 năm 1998, đến nay giá vàng đang trong xu hướng tăng trở lại. Giá vàng trong năm 2006 này có nhiều khả năng sẽ phá vỡ các kỷ lục trước đó. Hiện nay mức cản kỹ thuật 575 USD/ounce đã bị phá vỡ và thị trường đang nhắm đến mức 600USD/ounce. Tuy nhiên, dự đoán trong tương lai giá vàng không thể lên cao được như trước đây mà sẽ có khuynh hướng ổn định lâu dài

    Giá vàng tăng chỉ là nhất thời do yếu tố tâm lý, do vậy khi cú sốc tâm lý qua đi thì sẽ bình ổn trở lại và có thể giá vàng sẽ thấp hơn thời điểm hiện nay. Những người rút tiền đi mua vàng sẽ chịu thiệt bởi phải mua đắt bán rẻ và thiệt hại này sẽ lớn hơn bình thường khi họ mua đúng vào thời điểm vàng đang “sốt”.
    Đối với việc đầu tư ngoại tệ, hình thức này có điểm lợi hơn so với đầu tư vàng là có thể dùng ngoại tệ để mua những trái phiếu ngắn hạn trên thị trường quốc tế. Số thặng dư ngoại tệ dùng vào mục đích sinh lợi nói trên bao gồm những ngoại tệ mạnh được tự do chuyển đổi. Căn cứ mọi diễn biến của thanh toán quốc tế, các nhà đầu tư sẽ phân tích, tính toán để có thể chuyển đổi từ một thứ ngoại tệ đang mất giá sang thứ ngoại tệ mạnh khác đang tăng giá. Không nên đầu tư vào những ngoại tệ không chuyển đổi tự do được.
    Patrick khuyên rằng để hạn chế bớt rủi ro, những nhà đầu tư nhỏ cần quan tâm đến các loại trái phiếu vì trái phiếu có độ an toàn và tính ổn định cao hơn. Thuật ngữ “Corporate bond” đã không còn xa lạ với nhiều nhà đầu tư ngày nay, bởi đây là một trong những phương thức đầu tư an toàn và hiệu quả. Hiện nay, trái phiếu ngoại tệ mà các ngân hàng thương mại đang phát hành có thể coi là một cơ hội rất tốt cho những nhà đầu tư muốn tìm kiếm một công cụ đầu tư tài chính thích hợp.
    Mặc dù vậy, theo Patrick thì mặc dù đầu tư vào trái phiếu không thể đem lại lợi nhuận như đầu tư cổ phiếu, nhưng các nhà đầu tư cần hiểu rằng, lợi nhuận lớn luôn đi kèm với mức độ rủi ro cao và trong một thị trường có tính ổn định kém thì rủi ro sẽ càng lớn, chẳng hạn như rủi ro về lãi suất thị trường, giá của một trái phiếu công ty sẽ thay đổi theo hướng ngược lại với lãi suất thị trường. Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu sẽ giảm và ngược lại. Hay khi bán một trái phiếu trước ngày đáo hạn, thì khi lãi suất thị trường tăng, nhà đầu tư sẽ lỗ vốn, có nghĩa là bán trái phiếu thấp hơn giá mua vào. Trái phiếu còn vướng phải rủi ro về lạm phát. Rủi ro này xuất hiện khi trị giá lưu lượng tiền mặt của một trái phiếu thay đổi do lạm phát. Ví dụ, nếu nhà đầu tư mua một trái phiếu có lãi suất 8%/năm, nhưng tỷ lệ lạm phát là 9%/năm, thì thực tế, sức mua lưu lượng tiền mặt đã giảm. Ngoại trừ trái phiếu lãi suất thả nổi, còn đầu tư vào tất cả trái phiếu khác đều chịu rủi ro lạm phát, vì mức lãi suất được công ty phát hành cam kết sẽ cố định trong suốt kỳ hạn của trái phiếu.

    Có thể nói, không có hình thức đầu tư nào là an toàn và hiệu quả tuyệt đối cả. Trước đây, khi nói về kinh nghiệm đầu tư của mình, các nhà đầu tư thành đạt nhất trên thế giới như W.Buffet hay G.Soros… đều hay nhắc đến hai kẻ thù mà họ cho rằng không thể đội trời chung, đó là “lòng tham” và “nỗi sợ hãi”. Hai kẻ thù này nằm ngay trong con người các nhà đầu tư mà chính họ lại không biết, hay có biết thì cũng hết sức chủ quan không để ý cho đến khi thất bại xảy ra. Điều quan trọng nằm ở chính là sự bình tĩnh, biết kiềm chế để có những tính toán hợp lý của các nhà đầu tư.
    Sẽ là quá muộn nếu các nhà đầu tư không nhận ra rằng thị trường chứng khoán không phải là nơi tiêu tiền nhanh và vô bổ nhất, cũng như không phải là nơi kiếm tiền dễ dàng và nhàn nhã nhất. Và chỉ có những nhà đầu tư biết có cái đầu lạnh và sáng suốt mới tránh được sự hối tiếc, nếu một ngày kia giá chứng khoán tăng trở lại.

——————————

    7. Giá cả biến động – nguyên nhân từ đâu?
    Giá chứng khoán thay đổi hàng ngày bởi các lực lượng thị trường – tác động từ hai phía: cung và cầu. Nếu có nhiều người muốn mua (cầu) hơn muốn bán (cung), giá sẽ tăng. Ngược lại, nếu có nhiều người muốn bán hơn là muốn mua (cung lớn hơn cầu), giá chứng khoán sẽ giảm.
    Hiểu được cung và cầu là điều không có gì là khó khăn. Điều khó khăn là nhận biết được cái gì là nguyên nhân khiến người ta thích một cổ phiếu đặc thù hoặc không thích một cổ phiếu khác. Kết quả là, khó khăn trên trở lại vấn đề: thông tin nào là tích cực, thông tin nào là tiêu cực với một công ty. Có rất nhiều câu trả lời cho vấn đề này và chỉ xoay quanh việc bất cứ nhà đầu tư nào bạn gặp cũng có quan điểm và chiến lược riêng.
    Người ta nói rằng, nguyên tắc lý thuyết là vận động của giá cả một cổ phiếu cho thấy điều gì khiến nhà đầu tư cảm thấy công ty mình lựa chọn là hợp lý. Giá trị công ty là mức vốn hóa thị trường (bằng giá cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phát hành). Giá cổ phiếu không chỉ phản ánh giá trị hiện tại của công ty, mà còn phản ánh mức (tốc độ) tăng trưởng mà nhà đầu tư kì vọng trong tương lai.
    Nhân tố quan trọng nhất phản ánh giá trị công ty là lợi nhuận thu được – trong dài hạn, không một công ty nào có thể tồn tại mà không cần tới nó. Các công ty cổ phần phải có trách nhiệm báo cáo thường kỳ tình hình lợi nhuận của mình. Từ đó, nếu kết quả đạt hay vượt kì vọng, giá cổ phiếu sẽ tăng, và ngược lại.
    Tất nhiên, không phải chỉ có lợi nhuận mới có thể khiến dự cảm về một cổ phiếu thay đổi (nhân tố khiến giá cổ phiếu thay đổi). Chẳng hạn, có hàng tá công ty coi Internet là một thành tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh (dot-com company) có thể gia tăng giá trị thị trường lên hàng tỉ USD mà thậm chí không kiếm được một đồng lợi nhuận nào.
    Tất cả chúng ta đều biết rằng, những giá trị trên không thể kéo dài mãi, và hầu hết các công ty như vậy nhận thấy giá trị của họ giảm mạnh. Cho đến giờ, sự thật là giá cả không biến động phụ thuộc vào nhiều nhân tố chứ không chỉ có lợi nhuận hiện tại. Các nhà đầu tư đã hình thành hàng trăm biến số, tỉ lệ và chỉ số. Nhiều chỉ số bạn đã từng biết tới, như P/E, Chaikin Oscillator hoặc MACD.
    Vậy thì tại sao giá cổ phiếu thay đổi ? Câu trả lời thoả đáng nhất là, không ai biết chắc chắn. Nhiều người tin rằng, không thể dự đoán giá cổ phiếu sẽ biến động ra sao, trong khi những người khác cho rằng, bằng việc xây dựng các biểu đồ và nhìn vào xu hướng giá trong quá khứ, bạn có thể xác định khi nào thì nên mua, khi nào nên bán. Điều duy nhất chúng ta biết chắc chắn là giá cả thay đổi hết sức mau lẹ.
    Có nhiều lí thuyết nhằm giải thích cách thức giá cổ phiếu biến động, nhưng chẳng có lí thuyết nào có thể giải thích tất cả.
    “Luật chơi” của các nhà tạo giá trên thị trường chứng khoán
    Các nhà tạo giá khi đưa ra các báo giá cho một chứng khoán nào đó ngoài mục đích kinh doanh còn có yêu cầu giúp cho thị trường đạt được một giá giao dịch tốt nhất (giá thu vào cao nhất và giá bán ra thấp nhất). Tuy nhiên trong quá trình cạnh tranh và thực hiện ý chí chủ quan của mình, do say sưa muốn giành ảnh hưởng với các đối tác khác, họ có thể làm cho thị trường bị trở ngại kỹ thuật. Do đó một số luật lệ được đặt ra nhằm duy trì trật tự thị trường và loại bỏ các sự cố do nhầm lẫn.
    Hai tình huống được nêu sau đây lưu ý các nhà tạo giá không được đưa giá cài khoá (gọi là locked market) và giá vượt chéo (crossed market) vào hệ thống.
    Thế nào là thị trường bị cài khoá?
    Ta biết rằng một báo giá của các nhà tạo giá đưa vào hệ thống gồm có giá chào mua (bid) và giá chào bán (offer). Giá sẽ bị cài khoá khi nào hai giá dùng để tham khảo (giá tốt nhất) không có khoản chênh lệch giá. Cụ thể, một nhà tạo giá đưa ra giá thu vào (bid) bằng đúng với giá bán ra (offer/ask) đã được một nhà tạo giá khác chào trước đó sẽ làm thị trường bị cài vào thế khoá lại.
    Ví dụ, giả định lúc đầu chỉ có mỗi một nhà tạo giá ALFA đưa báo giá vào hệ thống báo giá cho chứng khoán TNA (một chứng khoán OTC giả định). Đến lượt công ty chứng khoán khác, công ty DELTA tham gia tạo giá cho chứng khoán TNA và đã khoanh thị trường lại đối với chứng khoán đang được tạo giá này.
    Thị trường bị cài khoá hay bị khoanh lại chỉ để “hai ta” làm ăn với nhau thôi (có thể vô hình). Trường hợp trên đây giá bán ra của công ty CK ALFA và giá mua vào của công ty chứng khoán DELTA bằng nhau, là 20,5 USD. Do trong báo giá còn nêu cả số lượng sẵn sàng giao dịch, gọi là “firm bid” và “firm ask”, (nếu không ghi thì mặc nhiên đó là 1 lô = 100 cổ phần), cho nên, theo nguyên lý hai công ty này sẽ giao dịch với nhau cho đến khi cạn hết lượng chào bán “cứng” đó. Kết quả cạn kiệt này rốt cuộc có thể giải toả thị trường, nhưng lúc đó thị trường sẽ có một tình huống giá tệ hơn (khoảng chênh lệch lớn hơn).
    Thế nào là một thị trường bị vượt chéo?
    Một thị trường bị gọi là vượt chéo khi một nhà tạo giá đưa ra giá chào mua (bid) cho một chứng khoán ở mức cao hơn giá chào bán (offer/ask) do một nhà tạo giá khác đã nhập vào hệ thống (ví dụ hệ thống Nasdaq). Tương tự nếu có một giá bán ra (ask) thấp hơn giá thu vào (bid) trong hệ thống đối với chứng khoán cùng loại, thì thị trường này cũng bị “tréo ngoe”. Tình huống này làm cho thị trường tắc tị, cho nên tất cả các hệ thống giao dịch thị trường OTC đều không cho phép các thành viên báo giá có thể gây vượt chéo cho thị trường.
    Một thị trường giá vượt chéo cho hậu quả còn tệ hơn trường hợp nó bị cài khoá. Bắt đầu là chào giá của công ty ALFA. Sau đó, công ty chứng khoán DELTA tham gia đưa tiếp giá của mình vào hệ thống, mà không cần tham khảo chào giá của công ty ALFA, kết quả: Giá thu vào (bid) của DELTA lúc này là 21 USD đã vượt chéo so với giá bán ra (ask) của công ty ALFA đang là 20.5 USD. Hậu quả của việc đưa giá tuỳ tiện này làm cho giá thị trường đang bình thường vọt lên một giá mới khá cao. Trong ví dụ trên đây, với giá rao mua (bid) của DELTA (21 USD) sẽ kích bán, và theo nguyên lý, giá đó cùng với giá chào bán 20.5 USD của ALFA, sẽ nhanh chóng biến mất, khoét rộng khoảng cách giữa giá thu vào và bán ra sẽ được hệ thống ghi nhận tiếp sau đó là “bid 20 – ask 22”. Khoản lệch giá lúc này là 2 USD, còn xấu hơn khoản lệch giá trong trường hợp thị trường bị cài khoá như đã khảo sát ở trên. Trong thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường giao dịch OTC, khi giá chứng khoán bị kích lên hoặc dìm xuống, mà không xuất phát từ vận động cung cầu hợp lý của thị trường, thì các nhà tạo giá có thể bị quy trách nhiệm đã dùng thủ thuật vận hành giá (manipulation).
    Tóm lại, để tránh tình trạng thị trường bị cài khoá hoặc bị vượt chéo, luật lệ giao dịch OTC cấm các nhà tạo giá không được đưa vào hệ thống:

  • Giá thu vào (bid) bằng hoặc lớn hơn giá bán ra (ask) của một nhà tạo giá khác đã nhập vào cho cùng một chứng khoán.
  • Giá bán ra (ask) bằng hoặc nhỏ hơn giá thu vào (bid) của một nhà tạo giá khác đã nhập sẵn vào, đối với cùng một chứng khoán.

Các nhà tạo giá cũng được lưu ý rằng, các chứng khoán được báo giá và đưa vào hệ thống phải là loại hợp lệ và đưa vào đầu tư cần tham khảo thông tin về chủ thể phát hành loại chứng khoán đó họ sẽ thực hiện dễ dàng.
Những lưu ý đặc biệt khác về báo giá trên OTC:
Các báo giá phải đảm bảo thoả mãn cung cầu một lượng chứng khoán ít nhất bằng một lô tròn (100 cổ phần). Đây là một chào giá có cam kết chắc chắn (firm).
Một báo giá thông thường được yêu cầu phải kèm theo số lượng. Tất cả các chào giá được xem là có cam kết cứng ngoại trừ có chỉ định khác rõ ràng kèm theo. Các chỉ định không chắc chắn đó như: “vào khoảng” (around), “còn tuỳ thuộc” (subject), “theo tính toán” (work out), … sẽ phải được ghi trước hay sau một báo giá.
Vì những lý do nghiệp vụ và kỹ thuật, hệ thống báo giá và xác nhận phải được thực hiện bằng mạng truyền in được và hiển thị lên màn ảnh, chứ không thể làm việc này chỉ bằng điện thoại.

    ==========================

    SOURCE: SAGA.VN

HUY ĐỘNG VỐN CỔ ĐÔNG THÁCH THỨC CỦA THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VIỆT NAM

Việc phát triển thị trường vốn đang là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Trong bài phát biểu tổng kết Hội nghị Chính phủ sơ kết 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp toàn quốc đầu tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu rõ điều cấp bách hiện nay là hình thành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn, để tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tại hội nghị này, chính giới ngân hàng cũng đã khuyến cáo doanh nghiệp cần tìm nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các kênh khác của thị trường vốn như trái phiếu hoặc cổ phiếu, vì với nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, hoạt động chính của ngân hàng là cung cấp tín dụng ngắn hạn chứ không phải là dài hạn. Bản tin này đề cập đến các khó khăn trong việc phát triển thị trường cổ phiếu và huy động vốn cổ đông ở Việt Nam.

Số lượng và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)

Sau hơn 3 năm hoạt động, với 22 công ty được niêm yết vào thời điểm hiện tại, quy mô của TTGDCK Việt Nam còn quá nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế.1 Tất cả các công ty niêm yết hiện đều là các công ty quy mô nhỏ với số vốn khoảng vài chục tỷ đồng, chưa đủ gây ra sức hút đối với các nhà đầu tư. Cho đến nay, chưa có DNNN lớn nào được Nhà nước cho phép bán cổ phần ra công chúng và niêm yết trên TTGDCK. Số lượng công ty tư nhân đạt tiêu chuẩn niêm yết cũng rất hạn chế. Hơn nữa, các công ty niêm yết trên thị trường hiện nay đều đã được cổ phần hóa trước khi niêm yết; chưa công ty nào được thành lập mới bằng cách huy động vốn qua TTCK (IPO). Nhiều nhà đầu tư cho rằng sự hạn chế từ phía cung này khiến thị trường không có sức hấp dẫn đối với họ.

Thiếu vắng sự tham gia tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường

Về phía cầu, những nhà đầu tư cổ phiếu trên TTGDCK Việt Nam hầu hết là cá nhân mang tính đầu cơ hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn định của thị trường. Điều này làm cho chính các doanh nghiệp ngần ngại khi quyết định huy động vốn qua TTGDCK. Những nhà đầu tư tổ chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, v.v.

Hoạt động của thị trường phi chính thức lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và không được kiểm soát thích đáng

Việc bán cổ phiếu cho công chúng ở bên ngoài TTGDCK (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát hoạt động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông từ công chúng trên thị trường không chính thức này gấp khoảng 30 lần số doanh nghiệp niêm yết chính thức.2 Trong số khoảng 1.000 DNNN đã được cổ phần hóa, chỉ có chưa tới 3% đã niêm yết, như vậy có thể cho rằng một số lượng lớn cổ phiếu của các doanh nghiệp này đang được mua bán trên thị trường không chính thức.

Ở các nền kinh tế phát triển, thị trường OTC thường cũng có quy mô lớn hơn gấp nhiều lần thị trường tập trung, song thị trường này được kiểm soát bởi các luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Các luật lệ này vẫn chưa được thiết lập ở Việt Nam. Lo lắng chung từ phía quản lý nhà nước cũng như giới doanh nghiệp là thị trường phi chính thức không được kiểm soát này có nguy cơ sụp đổ cao và có thể gián tiếp làm tổn hại cho thị trường chính thức mới manh nha phát triển.

Chiến lược phát triển thị trường vốn của Chính phủ và khuôn khổ pháp lý liên quan còn có nhiều bất cập

Mặc dù Chính phủ đã thể hiện quyết tâm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam (qua Quyết định số 163/2003/QD-TTg ra ngày 5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến lược như đưa tổng giá trị thị trường chứng khoán đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010), nhưng các quy định pháp lý hiện hành cũng như những biện pháp triển khai dường như lại không thống nhất với chiến lược này. Ví dụ như theo văn bản Nhà nước gần đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01 Chính phủ tháng 1 năm 2003), Nhà nước vẫn sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phần đối với các DNNN cổ phần hóa có vốn trên 5 tỷ đồng và sản xuất kinh doanh có lãi. Như vậy, trong số gần 2.000 DNNN nằm trong kế hoạch cổ phần hóa đến năm 2005, sẽ có rất ít trường hợp mà cổ đông tư nhân được chiếm phần đa số trong các công ty lớn.

Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của các doanh nghiệp Việt Nam

Các công ty tư nhân của Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư nhân đều ở một quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo kiểu gia đình. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví dụ, số doanh nghiệp báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này không chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm toán, kế toán… của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ đông.

****************************

SOURCE: http://www.vcci.com.vn