THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐÓNG GÓP VÀ TÁC ĐỘNG

THS. LÊ VĂN HINH – Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1- Đặt vấn đề

Sau hơn một thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam cùng với các thị trường có liên quan đã tạo nên một thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam phát triển khá đa dạng. Hiện tại, TTCK đã được coi là một cấu phần quan trọng của TTTC Việt Nam (NHNN, 2007) [1] . Qua 11 năm phát triển, TTCK Việt Nam đã từng trải qua một thời kỳ bùng nổ ấn tượng vào năm 2006 (Vũ Đình Ánh, 2007)[2] và sau đó lại rơi vào tình trạng suy giảm từ năm 2009 đến nay: giá chứng khoán giảm liên tục xuống mức rất thấp so với mệnh giá, nhiều công ty chứng khoán thua lỗ…  Trong điều kiện khó khăn hiện nay, dường như xã hội đang hoài nghi về đóng góp tích cực của TTCK đối với xã hội. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung đánh giá về đóng góp và tác động của TTCK đến TTTC hay đến nền kinh tế.

2- TTCK Việt Nam: đóng góp và tác động

2.1. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu lý thuyết chia TTTC gồm thị trường tiền tệ (gồm thị trường vốn ngắn hạn, thị trường hối đoái và thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn) và thị trường vốn (trong đó gồm TTCK, TT vốn tín dụng) (Võ Trí Thành và cộng sự, 2004 [3]; Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2010[4]). Như vậy, TTCK là một cấu phần quan trọng của TTTC và là phương tiện để mọi thành phần kinh tế – xã hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. TTCK có thể coi là kênh dẫn vốn quan trọng chuyển vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư; tăng cường tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh; góp phần tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng quản trị trong nền kinh tế (vĩ mô và vi mô) (Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2004). Rõ ràng, TTCK có vai trò quan trọng đối với sự phát triển TTTC nói chung. Thực tế thế giới cho thấy, quá trình hình thành và phát triển, TTCK đều có thể có những đóng góp hay có tác động tiêu cực đến TTTC hay đến nền kinh tế nói chung. Sự phát triển của TTCK Việt Nam, trải qua 11 năm chắc chắn cũng không ngoài quy luật phát triển đó.

2.2. Đóng góp và tác động của TTCK Việt Nam đối với TTTC và nền kinh tế

Các con số qua 11 năm phát triển của TTCK Việt Nam là căn cứ, cơ sở và cũng là dấu hiệu để chúng ta ta đánh giá đóng góp (bao gồm cả tác động tích cực) và chỉ ra những tác động tiêu cực của nó đến TTTC hay rộng hơn là đến nền kinh tế Việt Nam.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, MUA BÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HIỆN NAY

LS.THS. PHAN DIÊN VỸ

Nhằm đối phó với nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu khi thị trường tài chính thế giới đang diễn biến xấu nghiêm trọng do khủng hoảng nợ từ khu vực đồng euro cộng thêm chỉ số tín dụng Mỹ rớt hạng, ngày 4/8/2011, Ngân hàng trung ương châu Âu đã tuyên bố sẽ mua lại nợ của các nước châu Âu

Từ 2008 đến nay, việc hàng loạt ngân hàng hàng đầu của Mỹ bị phá sản đã làm cho nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng trầm trọng. Nhằm đối phó với nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu khi thị trường tài chính thế giới đang diễn biến xấu nghiêm trọng do khủng hoảng nợ từ khu vực đồng euro cộng thêm chỉ số tín dụng Mỹ rớt hạng, ngày 4/8/2011, Ngân hàng trung ương châu Âu đã tuyên bố sẽ mua lại nợ của các nước châu Âu. Tuy nhiên, tuyên bố này chưa thể dập tắt đám cháy khủng hoảng và khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư. Lãi suất cho vay vẫn tăng liên tục ở Tây Ban Nha đến 6,3%, Ý là 6,2% dù lãi suất chính thức là 2,2%. Sau Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha, nhiều nhà đầu tư lo ngại nguy cơ vỡ nợ từ Ý và Tây Ban Nha sẽ dẫn đến hiệu ứng dây chuyền khủng hoảng; Trong khi đó, Nhật Bản và Trung Quốc đã phát đi thông điệp kêu gọi hợp tác quốc tế để ngăn chặn khủng hoảng toàn cầu.

Trong bối cảnh quốc tế như trên, việc bắt buộc tuân thủ các lộ trình mở của ngành ngân hàng, áp dụng các chuẩn mực quốc tế, tạo nên một môi trường cạnh tranh  đầy đủ và  thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân hàng thương mại là yêu cầu cấp thiết của hệ thống ngân hàng Việt nam.

Trong thời gian vừa qua, việc sáp nhập hợp nhất (SN-HN) ngân hàng  tại Việt Nam chủ yếu là thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ tối thiểu theo quy định tại nghị định 141/2006 NĐ-CP, thể hiện trên một số mặt sau:

– Các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) bị sáp nhập hợp nhất trở thành chi nhánh của ngân hàng TMCP được sáp nhập. Điển hình như ngân hàng TMCP Đại Nam sáp nhập vào ngân hàng TMCP Phương Nam, ngân hàng TMCP Quảng Ninh sáp nhập vào ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, ngân hàng TMCP Đông Á mua lại ngân hàng TMCP Tứ giác Long Xuyên.

Continue reading

MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT

BÙI TRINH

Trong nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8.2011 vừa qua, Chính phủ đã yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên nhân lạm phát ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản ứng phó có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 9.

Trước đó, trong quá trình thẩm tra báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội sáu tháng đầu năm 2011 của Chính phủ, chuẩn bị nội dung cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII vào cuối tháng 7, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ lý giải nguyên nhân lạm phát cao chưa thuyết phục.

Từ đó đến nay, những thảo luận xung quanh câu chuyện này vẫn đang được tiếp tục. Xin giới thiệu tổng hợp, phân tích và góc nhìn của tác giả Bùi Trinh về vấn đề này.

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Bản chất của lạm phát về cơ bản là quan hệ tiền hàng. Tiền (M1, M2,…) nhiều hơn lượng hàng hoá (vật chất và dịch vụ) được tạo ra trong nền kinh tế.

Hiện có hai luồng ý kiến về vấn đề lạm phát của Việt Nam. Luồng ý kiến của đa số những người quản lý, giám sát và một số chuyên gia khá nổi tiếng cho rằng lạm phát của Việt Nam hiện nay đến từ phía cầu và mối quan hệ giữa tổng cầu và lượng cung tiền (M2). Đa số các chuyên gia coi C + I (tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ tài sản) là tổng cầu bắt nguồn từ chữ aggregate demand.

Còn theo hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), tổng cầu bao gồm cầu cho sản xuất và nhu cầu cuối cùng. Nhu cầu cuối cùng bao gồm nhu cầu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (C), chi tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ (G – khoản này theo định nghĩa của SNA chỉ là các khoản chi tiêu thường xuyên của Chính phủ), tích luỹ gộp tài sản cố định (I) và xuất khẩu thuần.

Việc sử dụng thuật ngữ đôi khi cũng dẫn đến những ngộ nhận, và đôi khi cũng dẫn đến những nhân định sai lệch về tình hình kinh tế nói chung và vấn đề lạm phát nói riêng.

Continue reading

BÀN VỀ CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN VÀ PHI SẢN XUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN ĐẮC HƯNG

Trong thời gian gần đây, quy định về giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại (NHTM), khái niệm bất động sản trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng và giải pháp tín dụng ngân hàng để cứu thị trường bất động sản… được đề cập đến khá nhiều trên một số diễn đàn, thu hút sự quan tâm không nhỏ của dư luận. Vậy, những nội dung trên cần được hiểu ra sao và liệu tín dụng ngân hàng có giúp phục hồi được thị trường bất động động sản hay không? Bài viết xin nêu một số suy nghĩ về những khía cạnh như đã đề cập.

Trước hết, cần nhận thức bất động sản là gì và phi sản xuất được hiểu ra sao? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Bất động sản” là: “Tài sản không chuyển rời đi được, như đất cát, nhà cửa,…”. Cũng theo cuốn từ điển này, từ “phi” có nghĩa là “trái với, không phải”. Trên cơ sở đó, nếu lắp ghép với từ sản xuất thì chúng ta có “phi sản xuất” có nghĩa là: không phải sản xuất, trái với sản xuất, hay không phải lĩnh vực sản xuất.

Một sự liên hệ khác, đó là Bộ luật Dân sự. Tại Chương 2, Điều 181, của Bộ luật này có quy định, “Bất động sản” đó là “Tài sản không di, dời được bao gồm:

1- Đất đai.

2- Nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó.

3- Các tài sản khác gắn liền với đất đai.

4- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”

Như vậy, tại Bộ luật Dân sự, danh từ “Bất động sản” được giải thích cụ thể hơn, chi tiết hơn.

Một số nghiên cứu khác cho rằng, việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã. Theo đó, bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.

Trong tiếng Anh, cụm từ Real Estate được dịch là bất động sản hay tài sản bất động. Trong tiếng Pháp, từ Immobilié cũng được dịch là Bất động sản. Tại Trung Quốc, người ta sử dụng thuật ngữ địa sản, tức là tài sản gắn liền với đất đai…

Qua nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau có thể thấy, hầu hết các nước đều coi Bất động sản là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất. Nội dung này được thể hiện tại Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp; tại Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; tại Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga và tại Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…Song trong Luật của CHLB Nga thì lại quy định cụ thể hơn, bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự.

Continue reading

NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TOÀN CẦU VÀ NHÌN LẠI NỢ

PHẠM THỊ THU HẰNG – Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Trong tháng 7 vừa qua, thị trường tài chính quốc tế trở nên nhạy cảm với những thông tin liên quan đến vấn đề nợ nần của các nước châu Âu và Mỹ. Phải chăng kinh tế thế giới đang bắt đầu đi vào khủng hoảng nợ công toàn cầu? Theo phân tích, do lo ngại về nợ khu vực đồng Euro và việc bế tắc trong thoả thuận giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà về nâng trần nợ công trước thời hạn 2/8 khiến vàng thế giới liên tục tăng mạnh và lập kỷ lục mới 1.638USD/1ounce vàng vào 29/7 vừa qua.

Từ khi bắt đầu nổ ra cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu, các nhà hoạch định chính sách Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã lo ngại rằng cơn hỗn loạn tài chính bắt đầu từ Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha rồi sẽ nhấn chìm những nền kinh tế lớn khác trong khu vực.

Hy Lạp đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai. Theo số liệu nghiên cứu, nợ trong hạn của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đôla Mỹ, lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ lên tới mức kỷ lục, trên 9% đối với các khoản vay có kỳ hạn.

Hy Lạp đã chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các quốc gia thành viên Eurozone. Bộ trưởng Tài chính các nước Eurozone đã quyết định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ 110 tỷ Euro với lãi suất ưu đãi là 5%. Sau khi nhận được khoản hỗ trợ 110 tỷ Euro, Hy Lạp vẫn tiếp tục ở trong nguy cơ vỡ nợ. Gần đây, IMF ước tính nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lên đến 172% GDP (so với mức khoảng 120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ) trong khi thâm hụt ngân sách của nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản hỗ trợ mới.

Sau cuộc họp khẩn cấp ngày 21/07/2011, lãnh đạo 17 nước thuộc Eurozone và IMF đã đồng ý cấp cho Hy Lạp 159 tỷ Euro (229 tỷ USD), với lãi suất 3,5%, thời gian đáo hạn có thể lên tới 30 năm, và có thể gia hạn 10 năm nữa. Ngoài ra, Eurozone cũng đưa ra một số loại hình bảo lãnh đối với trái phiếu chính phủ Hy Lạp để các ngân hàng Hy Lạp có thể tiếp tục được Ngân hàng Trung ương châu Âu hỗ trợ thanh khoản.

Tại Ireland, dấu hiệu đầu tiên cho cuộc khủng hoảng nợ công tại quốc gia này là một thị trường bất động sản bong bóng. Trong một thập niên tính đến năm 2007, giá nhà tại Ireland tăng gần gấp 4 lần, thậm chí còn đắt hơn cả những thành phố vẫn được mệnh danh là đắt đỏ trên thế giới như Los Angeles. Khi bong bóng bất động sản vỡ tung đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Và khi chính phủ ra tay cứu trợ ngân hàng – nợ công trở thành gánh nặng cho ngân khố quốc gia.

Continue reading

MỘT SỐ TỒN TẠI CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG HIỆN NAY – NHỮNG KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

TS. NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG – Ngân hàng nhà nước & THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT ÁNH – Viện Kinh tế Tài chính – Học viện Tài chính

Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng đã tạo cơ hội cho phát triển kinh tế trong những năm vừa qua, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của quá trình hồi phục hay suy giảm của kinh tế thế giới. Từ năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng có những diễn biến phức tạp; sau những khó khăn về kinh tế năm 2008, 2009, bước sang năm 2010 nền kinh tế có dấu hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổi lên, đòi hỏi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu giải quyết như: tỷ lệ lạm phát gia tăng; lãi suất cao; tiền Việt Nam mất giá so với đô la Mỹ; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao; hiệu quả của đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có xu hướng chậm lại…

Trước bối cảnh sức ép tăng lạm phát từ nhiều phía và rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn xã hội, nền kinh tế và đặc biệt là các doanh nghiệp, Chính phủ đã xácđịnh kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 (Nghị quyết 11) về các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2011. Bám sát Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, chặt chẽ và thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, phù hợp với các điều kiện vĩ mô; đồng thời tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất… Kết quả bước đầu là tích cực và đã được khẳng định, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm lại và có chiều hướng giảm dần, tổng sản phẩm trong nước 06 tháng đầu năm 2011 tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên, một số tác động thiếu tích cực của chính sách cũng bộc lộ và nền kinh tế, nhất là các doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn, nghiêm trọng… này nhằm phân tích nguyên nhân các mặt hạn chế của cơ chế, chính sách về hoạt động tiền tệ ngân hàng trong mối quan hệ với các chính sách kinh tế khác và kiến nghị một số giải pháp của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Từ năm 2007 đến nay, nhìn chung tình hình kinh tế Việt Nam không được ổn định, gặp nhiều khó khăn (xem bảng 1, biểu đồ 1), trong đó lạm phát từ năm 2004 đến nay luôn ở mức cao.

           Bảng 1: Một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế Việt Nam

Biểu đồ 1: Diễn biến nhập siêu và bội chi Ngân sách Nhà nước, 2003-6T/2011

Continue reading

XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MẶT BẰNG LÃI SUẤT

PGS.TS TÔ KIM NGỌC – Học viện Ngân hàng

Trong một bài viết trước đây, tác giả đã phân tích tầm quan trọng của đường cong lãi suất thông qua nghiên cứu nội dung thông tin của đường cong lãi suất. Theo đó, đường cong lãi suất cho phép dự báo xu hướng biến động lãi suất thị trường như là kết quả của kỳ vọng thị trường về biến động cung cầu vốn. Đến lượt nó, sự biến động này phản ánh dự báo của các chủ thể tham gia thị trường đối với những ảnh hưởng của các chính sách can thiệp cũng như những phản ứng của các đối tượng chịu tác động. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc xây dựng một đường cong lãi suất ngân hàng (với những giới hạn về thời hạn) hoặc một đường cong lãi suất kết hợp giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất trái phiếu chính phủ, có thể là lựa chọn trước mắt, bởi đặc điểm thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam chưa cho phép cấu trúc một đường cong lãi suất chuẩn theo thông lệ quốc tế.

Tuy vậy, những can thiệp hành chính được sử dụng phổ biến trong thời gian vừa qua, đối với mặt bằng lãi suất bán lẻ đã gây ra những diễn biến phức tạp cho đường cong lãi suất ngân hàng, bóp méo thông tin của đường cong lãi suất khi không tính đầy đủ đến những yếu tố ảnh hưởng tới mặt bằng lãi suất liên quan đến mức độ căng thẳng cung cầu vốn, mức độ lạm phát kỳ vọng cũng như mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Bài viết này nhằm phân tích những khía cạnh ảnh hưởng của các yếu tố trên tới diễn biến của đường cong lãi suất ngân hàng và trao đổi những khuyến nghị chính sách cần thiết trong thời gian tới nhằm đảm bảo nội dung thông tin của đường cong lãi suất ngân hàng.

Bằng quan sát trực quan có thể nhận thấy, trong thực tế, tồn tại sự chênh lệch giữa đường cong lãi suất do các ngân hàng thông báo và đường cong lãi suất mà thị trường chấp nhận trong điều kiện mức lãi suất luôn có xu hướng tăng lên (từ năm 2008 đến nay). Ứng với các thời điểm Hiệp hội Ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kêu gọi đồng thuận và ra quyết định khống chế lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức 11% (tháng 7/2010), 12% (tháng 11/2010), 14% (tháng 12/2010) và cuối cùng là chế tài hóa đồng thuận theo Thông tư số 02/NHNN/2011 ngày 3/3/2011, các ngân hàng thông báo mức lãi suất trong giới hạn của đồng thuận song song với việc áp dụng một mức lãi suất thực chênh lệch khoảng 2 – 3% cho khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, các ngân hàng áp dụng cùng một mức lãi suất cho các kỳ hạn khác nhau, đặc biệt, cho kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống, cá biệt, có thể áp dụng cho cả kỳ hạn 12 tháng làm cho đường cong lãi suất trở nên nằm ngang. Nếu loại bỏ phần bù rủi ro tính lỏng ứng với kỳ hạn thì thực chấtđường cong lãi suất ngân hàng luôn có xu hướng dốc xuống từ năm 2009 đến nay, đặc biệt từ đầu năm 2010 tới nay (Hình 1). Trong thực tế, với những kỳ vọng về lạm phát, mức độ căng thẳng thanh khoản và nhu cầu vốn cho phục hồi và tăng trưởng thì đường cong lãi suất của Việt Nam không thể có xu hướng này trong thời gian qua. Nếu nhìn mức độ dịch chuyển vị trí của đường cong lãi suất từ năm 2009 đến năm 2011 có thể thấy rõ xu hướng này (Bảng 1&2).

Continue reading

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN KÊNH CHUYỂN KIỀU HỐI – KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨU ĐẾN MỘT SỐ NƯỚC VÀ CỦA VIỆT NAM

THS. ĐĂNG THU HẰNG, THS. VŨ THANH HÀ, THS.PHAN HOÀNG YẾN & THS. NGUYỄN THÙY DƯƠNG – Học viện Ngân Hàng

I- Những vấn đề cơ bản về kiều hối

Trong những năm gần đây, kiều hối đã trở thành một hiện tượng được giới tài chính quốc tế quan tâm. Mặc dù, trên thực tế trong nhiều thập kỉ qua, những người di cư thuộc các nước đang phát triển vẫn gửi tiền về gia đình, nhưng số lượng tiền gửi về đã và đang gia tăng nhanh chóng. Và đây chính là vấn đề khiến nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu. Những khoản tiền này được chuyển về nước như thế nào và tới tay ai? Những nguồn tài chính từ bên ngoài này có vai trò như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận? Những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của lượng kiều hối đối với các thị trường đang nổi là gì?… Bài viết đi vào nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới kênh chuyển kiều hối, dựa theo kinh nghiệm nghiên cứu của một số nước trên thế giới và tại Việt Nam.

Trước khi đi vào trả lời câu hỏi trên, một số vấn đề cơ bản liên quan tới kiều hối sẽ được nêu lên trong phần dưới đây.

1. Kiều hối là gì?

Về cơ bản, kiều hối là một lượng tiền hoặc tương đương tiền của người lao động ở nước ngoài gửi về nước (Puri, 1999). Ví dụ, người Trung Đông sống ở châu Âu, người Mỹ Latin sống ở Mỹ, người Việt Nam sống ở Mỹ hoặc Úc gửi tiền về trong nước.

IMF đã đưa ra một định nghĩa rộng về kiều hối bao gồm 3 khía cạnh:

(i) là lượng tiền hoặc tương đương tiền được người lao động chuyển về gia đình họ hàng của mình ở trong nước; (ii) khoản tiền bồi thường cho người lao động hoặc lương thưởng dưới dạng tiền hoặc tương đương trả cho cá nhân làm việc ở nước ngoài; và (iii) là lượng tài sản tài chính do người cư trú tạm thời mang theo khi họ di chuyển từ một nước tới nước khác và sống tại nước đó nhiều hơn 1 năm.

Lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kì đưa ra nhận định rằng “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo…“.

Continue reading

CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: SAO LẠI “PHÙ THỦNG” TÙY NGHI?

LƯ QUANG VINH

Sau hai năm áp dụng, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Chính phủ và các bộ, ngành chưa tìm ra giải pháp hoàn thiện trong việc áp dụng luật thuế này. Từ tiêu chí “thu”, rồi “giãn”, “giảm”, “hoãn” đến nay lại quay về điểm xuất phát là “miễn” thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với đối tượng bậc 1 cho đến hết 31/12/2011.

Loay hoay với bài toán thuế TNCN, Bộ Tài chính dự thảo kiến nghị Quốc hội điều chỉnh về thuế TNCN, trong đó có ba nội dung:

– Thứ nhất, miễn 5% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu tư chứng khoán (trừ cổ tức ngân hàng, tổ chức tín dụng);

– Thứ hai, miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân (20% trên thu nhập hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng) do thị trường chứng khoán đang rất khó khăn, nhà đầu tư không có thu nhập;

– Thứ ba, miễn thuế đối với những người ở bậc 1 tương đương 9 triệu đồng, độc thân. Đây là nhóm người khó khăn nhất trong những người phải nộp thuế, và số thuế được giãn trong 1 tháng tối đa 250.000 đồng/người.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất không tính thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với suất ăn giữa ca trong trường hợp doanh nghiệp tự nấu cho người lao động, kể cả trường hợp doanh nghiệp khác nấu suất ăn giữa ca bán cho công nhân tại địa điểm nhà máy, trụ sở doanh nghiệp. Doanh nghiệp được khấu trừ VAT đầu vào trong trường hợp tự nấu hoặc mua suất ăn của doanh nghiệp cung ứng. Đây là đề xuất chặt chẽ, chi tiết đến lòng vòng khó hiểu.

Cái vòng lẫn quẩn nêu trên cho thấy các nhà hoạch định chính sách còn khá lúng túng trong việc giải quyết quốc kế dân sinh. Một chính sách có định hướng bao giờ cũng mang tính ổn định và ngược lại chứ không thể “phù thủng” tùy nghi. Điều này đặt trọng trách rất nặng lên các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan giám sát dân cử. Điểm lại quá trình xây dựng và áp dụng từ năm 2007 đến nay cho thấy, sự ra đời của luật thuế TNCN trong thời gian qua là chưa thật sự chín muồi bởi hai lý do:

Continue reading

NỢ CÔNG VIỆT NAM–NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BÀN THÊM

TS. LÊ PHAN DIỆU THẢO & NGUYỄN THẢO PHƯƠNG – Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), nợ công và khủng hoảng nợ công đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong các bản tin kinh tế nói chung và tài chính nói riêng. Trong thời gian gần đây, nợ công không chỉ là nỗi lo lắng của chính phủ mà còn là sự quan tâm của cả cộng đồng. Thật vậy, Zimbabwe – quốc gia có tỷ lệ lạm phát khủng khiếp cũng chính là nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới. Mối liên kết giữa các thành viên trong EU đang bị đe đe dọa bởi khủng hoảng nợ công. Tháng 4/2011, nội các của Chính phủ Mỹ bất đồng vì nợ công. Tại Việt Nam, theo World Factbook của CIA (Central Intelligence Agency), tỷ lệ nợ công so với GDP năm 2009 là 52,30% và Việt Nam hiện đang xếp thứ 44 trong 129 quốc gia về nợ công (bảng 1).

THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM

Về quy mô nợ công

Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2010 của Việt Nam là 50,935 tỷ USD tương đương 51,6% GDP. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 50%/GDP) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và với thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (26,5%).

Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2010 là 580,91 USD. Nếu so sánh với 713,6 USD (Trung Quốc), 743 USD (Indonesia), 4.184 USD (Malaysia), 1.071 USD (Philippines), 2.064 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao. Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 5 lần. Với thực trạng tỷ lệ tiết kiệm nội địa khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42% GDP tại Việt Nam hiện nay, thì chắc chắn con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

Về cơ cấu nợ công

Trước hết về hình thức vay nợ:

Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Với cách tính này, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam. Cụ thể, tỷ lệ nợ công năm 2009 Việt Nam là 52,6%/GDP, nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%, nợ chính quyền địa phương là 0,8%. Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56,6%, 44,3%, 11,36% và 0,94% (biểu đồ 1).

Continue reading

HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình

1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.

Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.

Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay, dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI HỐI HIỆN NAY

THS. NGUYỄN THÙY TRANG -  Tổng công ty Công nghiệp hóa chất mỏ – Vinacomi

Thực hiện Nghị quyết số 02/2011/NQ-CP ngày 9/1/2011, Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 01/3/2011 của Chính phủ, Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 1/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, năm 2011, các hoạt động giao dịch, niêm yết, thanh toán, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam đã, đang và sẽ được siết chặt quản lý theo đúng các quy định về quản lý ngoại hối của Nhà nước. Nhưng, quản lý như thế nào, xử lý ra làm sao vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Chấn chỉnh việc sử dụng đồng tiền Việt Nam, ngăn chặn tình trạng đô la hóa nên được xem xét từ gốc, đó là các quy định của pháp luật, sau đó là việc thực thi và vận dụng các quy định đó trên thực tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường mở cửa, giao dịch thông thương giữa các quốc gia ngày càng mở rộng, đồng tiền Việt Nam đang chịu sức ép nặng nề của vấn đề lạm phát và mất giá, để đối phó với các quy định pháp luật về ngoại hối, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn những phương thức khá “linh hoạt” nhằm bảo toàn giá trị nguồn tiền của mình trong các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai.

1. Các quy định pháp luật hiện hành

Từ các quy định của Pháp lệnh và Nghị định về quản lý ngoại hối… Điều 22, Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ quốc hội (sau đây gọi tắt là PL số 28)

“Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép”.

Điều 29, Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/006 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Ngoại hối quy định “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối trừ các trường hợp sau: …”. Tiếp sau đó, là 12 trường hợp được phép giao dịch bằng ngoại hối. Nếu tổ chức, cá nhân không thuộc 12 trường hợp đã được liệt kê sẽ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngoại hối.

Continue reading

VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP CỦA VIỆC THẾ CHẤP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Luật Đất đai ra đời có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý đất đai, khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai; bảo vệ các quyền của người sử dụng đất.

Sau gần 7 năm triển khai thực hiện, nhìn chung, các quy định của Luật Đất đai đã đi vào cuộc sống, nhiều quy định của Luật Đất đai 2003 đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ. Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình đối với đất đai, trong đó có quyền được thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng. Tuy nhiên, qua gần 07 năm thực hiện, các quy định của Luật Đất đai 2003, đặc biệt các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất cũng đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân liên quan. Để góp phần làm rõ thực trạng của việc thi hành Luật Đất đai 2003, bài viết dưới đây xin được đề cập (i) Các vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất của Luật Đất đai; và (ii) Đề xuất một số kiến nghị hoàn chỉnh các quy định này trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai 2003.

I. Những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2003

Qua gần 7 năm thực hiện, các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc, không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, do các giao dịch liên quan đến đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp hơn; một số quy định chưa rõ ràng dẫn đến cách hiểu không thống nhất và khó thực hiện; một số quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh về bất động sản chưa có sự thống nhất; một số quy định chưa tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các quyền của người sử dụng đất…, cụ thể như sau:

1. Về việc nhận thế chấp quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp cho hộ gia đình. Theo quy định của Luật Đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể được Nhà nước cấp cho cá nhân, vợ chồng hoặc hộ gia đình. Trên thực tế, việc nhận thế chấp quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình của các TCTD gặp nhiều khó khăn vì pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể xác định các thành viên của hộ gia đình dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau trên thực tiễn, ảnh hưởng đến quyền lợi của tổ chức tín dụng nhận thế chấp loại đất này.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP VÀ YÊU CẦU CẢI CÁCH

TS. PHẠM HUY HÙNG – Chủ tịch HĐQT VietinBank

1.Thị trường vàng (TTV) thế giới thời gian qua và xu hướng phát triển
1.1. TTV thế giới thời gian qua
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, các hình thái tiền tệ khác nhau đã ra đời và không ngừng phát triển nhằm đáp ứng, mở đường cho sự phát triển của các nền kinh tế, thúc đẩy khu vực hoá, toàn cầu hoá. Các công cụ đầu tư cũng gia tăng mạnh, với sự bùng phát của thị trường tài chính, thị trường hàng hoá cả về qui mô và tốc độ luân chuyển.
Tuy nhiên, bất ổn và rủi ro cũng có xu hướng gia tăng. Một mặt, tiền dấu hiệu (giấy bạc ngân hàng, tiền đúc lẻ, tiền điện tử…) thiếu cơ sở ổn định vững chắc và thực tế luôn chịu các áp lực giảm giá (do thâm hụt ngân sách của các Chính phủ và các vấn đề chính trị, xã hội, tiêu cực,…). Tốc độ lưu chuyển tiền tệ ngoài ngân hàng nhanh, cộng với sự tinh vi, phức tạp của các sản phẩm đầu tư đi kèm với các rủi ro tiềm ẩn, khó lường. Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998 và gần đây hơn là khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 là các minh chứng cụ thể. Trong bối cảnh như vậy, vai trò của vàng với tư cách của một công cụ tiền tệ, một công cụ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ.
Trước hết: phải kể đến việc cất trữ, bảo toàn giá trị tài sản trước các rủi ro tiền tệ của các chế độ tiền danh nghĩa.
Trước các áp lực mất giá của tiền ngân hàng, đặc biệt là sự mất giá của USD trong thời qua và sự leo thang của lạm phát hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007, Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước đã điều chỉnh dự trữ ngoại hối quốc gia, chuyển qua mua ròng vàng sau 2 thập kỷ đóng vai trò nguồn cung ổn định cho thị trường. Năm 2009, NHTW Trung Quốc mua vào 450 tấn vàng, Ấn Độ mua 200 tấn, Nga mua 71 tấn,… Hiện nay, Mỹ là quốc gia dẫn đầu về dự trữ vàng thế giới với 8.133 tấn chiếm 78,9% dự trữ ngoại hối quốc gia, tiếp đó là Đức (3.412 tấn, 71,5%), Ý (2.702,6 tấn, 66,5%), Pháp (2.987 tấn, 72%)(i)
Động thái cất trữ vàng của khu vực tư nhân cũng tăng mạnh, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỷ 21. Ngoài áp lực mất giá của các đồng nội tệ, sự bùng phát cất trữ vàng khu vực tư nhân còn gắn liền với việc nới lỏng quyền sở hữu vàng cá nhân của một số quốc gia, trong đó phải kể đến Trung quốc, Ấn độ.

Thứ hai: Vàng và các sản phẩm đầu tư vàng trở thành các công cụ đầu tư hấp dẫn trong nền kinh tế

Continue reading

LẠM PHÁT SAU 4 THÁNG ĐẦU NĂM 2011: VẤN ĐỀ NỔI CỘM, CĂN NGUYÊN VÀ ĐỐI PHÓ

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tốc độ lạm phát của Việt Nam sau 4 tháng đầu năm 2011 ở mức đáng báo động (9,64%) – gần như cao nhất so với các nước trong khu vực cùng có những nhân tố ngoại cảnh giống nước ta trong môi trường kinh tế mở. Những phân tích và đề xuất trong bài này là sự tiếp nối quan điểm đổi mới cơ chế và thái độ chống lạm phát phải mang tính chiến lược. 

Lạm phát vẫn là vấn đề đang nổi cộm

Hình ảnh lạm phát của 6 tháng đầu năm 2008 lại hiện hình trong 4 tháng đầu năm 2011 này. Để cảm nhận được tính chất nổi cộm của lạm phát tưởng cũng cần nhìn lại lịch sử gần nhất để suy ngẫm: Cách đây gần tròn 3 năm, đến hết tháng 6-2008, lạm phát ở nước ta là 18,44% so với 31-12-2007 (sau 4 tháng là 11,9%) – mức cao nhất trong 15 năm kể từ năm 1993. Sau 4 tháng đầu năm 2011 lạm phát cũng đã ở mức 9,64% so với 31-12- 2010 (sau khi đã tăng tới 19,98% vào năm 2008; 6,88% năm 2009 và 11,75% năm 2010, tức là, nếu tính dồn tích 3 năm lạm phát lên tới 43,3%).

Nếu “đọc” theo cách so với tháng 4 – 2010, tức cùng kỳ năm trước, thì CPI đến hết tháng 4-2011 là 17,51%, bình quân tăng 1,46%/tháng, trong khi đó, lãi suất tiết kiệm bình quân cũng thời gian trên chỉ khoảng 1,18%/tháng, như vậy lãi suất thực âm so với lạm phát. Do đó nguy cơ rủi ro thanh khoản là rất đáng báo động!

Lạm phát với nội hàm cố hữu của nó luôn gây những cú sốc tấn công vào mọi mặt của đời sống kinh tế – chính trị – xã hội của quốc gia, buộc Chính phủ phải ra tay đối phó. Thông thường phải dùng đến các “bài thuốc” đắt giá như phản ứng mạnh bằng chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá.  Đương nhiên các vấn đề nổi cộm sẽ xuất hiện qua các hiện tượng mang tính qui luật như: thanh khoản trong các ngân hàng bị thắt chặt, lãi suất phải dâng cao, các kỳ vọng về tăng trưởng xấu đi, giá cả vốn đã cao lại bị khuyếch đại bởi các yếu tố tâm lý, tiền trong lưu thông luôn có xu hướng tìm nơi trú ẩn vào các vật mang giá trị có tính truyền thống là vàng, bạc, ngoại tệ, bất động sản, nguyên, nhiên vật liệu quí… làm cho khắp các nẻo hàng hoá, dịch vụ đều tăng giá. Nghĩa là chỉ có sức mua của đồng nội tệ bị xuống giá.

Continue reading

BÀN VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN DO NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN KÝ TÊN VÀ ĐÓNG DẤU CHI NHÁNH

LS. ĐỖ HỒNG THÁI – Văn phòng Đại diện VietinBank tại TP.HCM

Từ một thực tế về cách hiểu luật

Tháng 5/2010, Chi nhánh A (thuộc Ngân hàng X có trụ sở chính tại Hà Nội) lập thông báo địa điểm kinh doanh (mở phòng giao dịch) gửi Phòng Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM. Hồ sơ đầy đủ, nhưng Phòng ĐKKD đã trả lại bởi lý do: “Giám đốc Chi nhánh A ký tên thừa ủy quyền của người đại diện theo pháp luật Ngân hàng X trên văn bản thông báo, nhưng không được đóng dấu của Chi nhánh A mà phải đóng dấu của Ngân hàng X mới bảo đảm tư cách pháp nhân, mới phù hợp tư cách nhân danh bên ủy quyền”. Cho dù, sau đó Ngân hàng X đã lập giấy ủy quyền ghi rõ rằng: “khi thực hiện công việc được ủy quyền, giám đốc Chi nhánh A được dùng con dấu của chi nhánh đóng trên văn bản đã ký thừa ủy quyền”, nhưng vẫn không được chấp thuận. Ngân hàng X không thể dùng dấu của trụ sở chính đóng trên văn bản do chi nhánh ký, thế là, kể từ đó, sự ủy quyền của Ngân hàng X về vấn đề này chỉ còn tồn tại trên giấy với biết bao phiền toái phát sinh: mọi giấy tờ liên quan của Ngân hàng X khi gửi

Phòng ĐKKD TP. HCM đều nhất nhất phải do chính người đại diện theo pháp luật ký tên và đóng dấu Ngân hàng X. Vấn đề “ký tên và đóng dấu” tưởng chừng đơn giản, dễ hiểu, song, gắn với vấn đề ủy quyền lại dường như trở nên phức tạp, ít nhất là dưới cách nhìn của một cơ quan công quyền. Trên thực tế, có vô số hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau mà một chi nhánh của doanh nghiệp vẫn đã và đang phải đảm đương các nhiệm vụ được doanh nghiệp giao nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Đáng lưu ý là, con dấu của chi nhánh trên các văn bản ấy chưa từng bị bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào từ chối giao dịch vì lý do không thừa nhận tư cách của chi nhánh. Phải chăng, Phòng ĐKKD TP. HCM đã vô hiệu hóa tư cách của chi nhánh doanh nghiệp hay chính sự thừa nhận của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mới là trái luật? 2

Nhìn lại quy định của pháp luật

Pháp luật Việt Nam ghi nhận giá trị pháp lý của con dấu của doanh nghiệp (và cả con dấu của chi nhánh trực thuộc doanh nghiệp) là một yếu tố cấu thành thể thức văn bản bên cạnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản đó 2. Hay nói cách khác, khi đã được người có thẩm quyền ký và được đóng dấu thì chính chữ ký và con dấu đã thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với chính văn bản đó.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG CỦA UCP 600 NHÂN SỰ KIỆN ĐỘNG ĐẤT VÀ SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN

NGUYỄN HỮU ĐỨC – VIETCOMBANK Đà Nẵng

Ngày 11/3/2011, một trận động đất dữ dội, có cường độ 8,9 độ richte, đã xảy ra ngoài khơi Đông Bắc Nhật Bản, gây nên một cơn sóng thần cao đến 10 mét cuốn trôi nhà cửa, xe cộ, máy bay, tàu thuyền… Một số thành phố gần như bị xóa sổ, với hàng chục ngàn người chết và mất tích. Hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng, ở những khu vực bị ảnh hưởng hầu như bị ngưng trệ hoàn toàn trong thời gian xảy ra động đất và sóng thần và tình trạng này sẽ vẫn còn tiếp tục kéo dài cho đến khi các doanh nghiệp này có thể khắc phục hậu quả và hoạt động trở lại.

Việc bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do động đất và sóng thần là sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của các ngân hàng, do vậy, được xem là sự kiện bất khả kháng. Vậy, các ngân hàng bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do ảnh hưởng của động đất và sóng thần có được miễn trách nhiệm thanh toán đối với L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian bị gián đoạn này hay không? Trong bài viết nhân sự kiện kinh hoàng này, người viết xin bàn về điều kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 36 của UCP 600. Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như thế nào?

Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như sau:

“Ngân hàng không chịu trách nhiệm hoặc có nghĩa vụ đối với các hậu quả phát sinh từ việc hoạt động kinh doanh của mình bị gián đoạn do thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố, hoặc do đình công hoặc đóng cửa doanh nghiệp hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác vượt quá sự kiểm soát của ngân hàng. Khi bắt đầu hoạt động trở lại, ngân hàng sẽ không thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian ngân hàng bị gián đoạn kinh doanh”. (A bank assumes no liability or responsibility for the consequences arising out of the interuption of its business by Acts of God, riots, civil commonitions, insurrections, wars, acts of terrorism, or by any strikes or lockouts or any other causes beyond its control. A bank will not, upon resumption of its business, honour or negotiate under a credit that expired during such interuption of its business).

Trong bối cảnh giả định nhiều ngân hàng Nhật Bản ngừng hoạt động do bị ảnh hưởng bởi động đất và sóng thần, rõ ràng với quy định như trên, người thụ hưởng L/C có lý do chính đáng để lo lắng rằng ngân hàng có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối thanh toán L/C nếu như thời hạn hiệu lực L/C rơi vào thời điểm ngân hàng ngừng hoạt động và người thụ hưởng không thể xuất trình chứng từ đến được ngân hàng trong thời hạn hiệu lực quy định. Tương tự, ngân hàng được chỉ định đã thanh toán hoặc chiết khấu L/C cũng có lý do để lo lắng về việc ngân hàng phát hành có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối hoàn trả tiền. Điều 36 UCP 600 có luôn luôn đúng trong mọi tình huống? Câu trả lời ngay là không. Ngân hàng có thể được miễn trừ trách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết hiệu lực trong thời gian ngân hàng đó bị gián đoạn kinh doanh theo Điều 36 UCP 600 hay không còn tùy thuộc quy định của L/C. Người viết bài này xin đưa ra một số tình huống giả định khác nhau và phân tích để thấy rằng không phải trường hợp nào ngân hàng cũng được miễn trừ trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán hoặc chiết khấu L/C khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó bị gián đoạn do bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng như thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố…

Continue reading

XỬ LÝ BÀI TOÁN LÃI SUẤT, THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN CHO DOANH NGHIỆP

THS. CHU THỊ MINH TRÍ – Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải & THS. NGUYỄN THỊ THÚY – Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á

Thời gian qua diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ tiếp tục thu hút sự quan tâm lớn của dư luận nói chung, của người vay vốn, doanh nghiệp nói riêng. Hầu hết các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã huy động vốn vượt trần lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất cho vay lên tới 24% – 25%/năm, người sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không có khả năng chịu đựng được mức lãi suất đó. Vậy, nguyên nhân của tình trạng đó là gì và giải bài toán đó như thế nào trong điều kiện hiện nay để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11 của Chính phủ.

Theo quy định, trần lãi suất huy động của NHNN là không quá 14%/năm đối với nội tệ, song lãi suất thực trả cho người gửi tiền lên tới 17-20%/năm nhưng vốn vẫn khó huy động. Số liệu NHNN đã công bố rộng rãi cho thấy, tính đến cuối tháng 5-2011, tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) trong cả nước tăng có 1,48% so với cuối năm 2010. Đây là mức tăng thấp nhất trong so với cùng kỳ nhiều năm gầy đây. Đáng chú ý là lãi suất huy động vốn, thu hút tiền gửi của các NHTM tăng lên tới 18 – 20%/năm, cao nhất trong nhiều năm qua, tương đương mức lãi suất cuối năm 2008, nhưng vẫn không thu hút được tiền gửi vào hệ thống ngân hàng. Điều này cũng chứng tỏ lý thuyết truyền thống tăng cao lãi suất để thu hút bớt tiền từ lưu thông về ngân hàng không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả và không phù hợp trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Đặc biệt là vốn huy động nội tệ lại giảm tới 2,75%, mặc dù lãi suất huy động vốn tăng rất cao, còn vốn huy động ngoại tệ tăng 18,84%. Điều này cho thấy những tháng đầu năm 2011, với lo ngại đồng tiền Việt Nam mất giá, lạm phát tăng cao, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên tới 5,0 – 5,5%/năm, nên người dân đã lựa chọn USD để gửi ngân hàng thương mại. Trong đó có một lượng đáng kể ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về nước dưới dạng kiều hối để gửi tiết kiệm vì lãi suất tiền gửi USD cao hơn nhiều so với lãi suất tại Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới. Đây là xu hướng tích cực nhìn từ góc độ Việt Nam thiếu vốn, phải đi vay vốn nước ngoài, thì nguồn vốn từ kiều hối chuyển về gửi các NHTM trong nước bổ sung nguồn vốn để cho vay là khá quan trọng. Từ giữa tháng 4-2011, lãi suất tiền gửi USD của dân cư theo quy định của NHNN giảm xuống tối đa chỉ còn 3%/năm, nhưng với số tiền USD gửi trước đó được giữ nguyên lãi suất thời điểm gửi và người dân không rút ra, còn lượng tiền gửi USD mới không sụt giảm, làm cho tiền gửi USD trong hệ thống NHTM vẫn tăng cao, mặc dù tiền gửi USD của doanh nghiệp biến động.

Continue reading

NHỮNG “GÓC KHUẤT” TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM

NGỌC LAN

Vài năm gần đây và những tháng đầu năm 2011, dù nền kinh tế gặp không ít vấn đề gây khó khăn cho hoạt động của các DN, đặc biệt là các đơn vị hoạt động trong ngành tài chính, nhưng các DN bảo hiểm vẫn có kết quả hoạt động tương đối khả quan. Điều này chứng tỏ tiềm năng thị trường bảo hiểm vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, đằng sau bức tranh sáng màu này là những vấn đề tồn đọng sau hơn 10 năm phát triển ngành bảo hiểm.

Tại buổi "Tọa đàm hỗ trợ pháp lý, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho DN bảo hiểm" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức giữa tháng 5/2011, một loạt khó khăn, vướng mắc đã được các DN bảo hiểm phản ánh. Trong đó có không ít khúc mắc về luật và các văn bản liên quan đến bảo hiểm như: thời gian để góp ý cho các dự thảo quá ngắn, không đủ để các DN nghiên cứu, trao đổi; trong khi đó, có những ý kiến đã đóng góp nhưng không được tiếp thu nên khi thực hiện tiếp tục phát sinh vướng mắc.
Đại diện một công ty bảo hiểm lớn phàn nàn, thủ tục xin thay đổi địa chỉ văn phòng đại diện còn quá mất thì giờ vì phải được Bộ Tài chính phê duyệt mới được chuyển sang địa chỉ mới; các DN bảo hiểm cũng khá khó khăn trong việc tiếp cận các văn bản pháp luật; hay như vấn đề trục lợi bảo hiểm đã tồn tại rất lâu trên thị trường nhưng không có biện pháp ngăn chặn, nên nhiều DN bảo hiểm đành phải chấp nhận bồi thường chỉ để tỏ thiện chí, thể hiện tính nhân đạo và cũng để giữ chân khách hàng…
Đặc biệt, hiện tượng trục lợi bảo hiểm đối với các sản phẩm bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn con người… đang diễn ra hết sức phổ biến. Tuy DN đã rất nhiều lần phản ánh với các cơ quan chức năng về những khó khăn trong việc tiếp cận hồ sơ của bệnh viện vì lý do bí mật hồ sơ bệnh nhân, nhưng đến nay kiến nghị này vẫn chưa được giải quyết. Bởi câu trả lời của Bộ Tài chính chỉ là, chưa thể thay đổi ngay mà phải làm từ từ khi sửa các luật liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Ông Carlos Vanegas, Tổng giám đốc Công ty bảo hiểm Liberty từng chia sẻ, việc thiếu các số liệu thống kê cũng là một thử thách với các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Bởi ở các nước khác, mọi số liệu về khách hàng đều được thống kê đầy đủ, ví dụ lịch sử lái xe, số lần va quệt, các loại xe, đời xe khách hàng đã sở hữu… Trong khi tại Việt Nam, công ty bảo hiểm không thể tìm ra cơ sở dữ liệu này để có thể tính phí bảo hiểm một cách chính xác nhất.

Continue reading