QUANH VỤ DOANH NGHIỆP KÊU MẤT HƠN 26 TỶ ĐỒNG

Kết quả hình ảnh cho SAFETY CREDIT ĐỨC NGHIÊM

Theo VPBank, vụ việc của Công ty Quang Huân như sau: Ngày 19/10/2015, VPBank đã nhận được đơn tố cáo của cá nhân bà Trần Thị Thanh Xuân liên quan đến các vấn đề mở, sử dụng tài khoản của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân). Nội dung tố cáo của bà Xuân cho rằng, ông Phạm Văn Trinh (kế toán Công ty Quang Huân) và một số cán bộ, nhân viên của VPBank câu kết, thông đồng làm thiệt hại của Công ty Quang Huân số tiền là 11.300.000.000 đồng.

Sau một số thông tin về việc chủ thẻ bị mất tiền thì việc Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân – trụ sở ở Củ Chi, chuyên mua bán nông sản) kêu mất hơn 26 tỷ đồng gửi trong tài khoản VPBank khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Chiều ngày 24/8, VPBank đã có văn bản chính thức về việc này.

Theo VPBank, vụ việc của Công ty Quang Huân như sau: Ngày 19/10/2015, VPBank đã nhận được đơn tố cáo của cá nhân bà Trần Thị Thanh Xuân liên quan đến các vấn đề mở, sử dụng tài khoản của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân). Nội dung tố cáo của bà Xuân cho rằng, ông Phạm Văn Trinh (kế toán Công ty Quang Huân) và một số cán bộ, nhân viên của VPBank câu kết, thông đồng làm thiệt hại của Công ty Quang Huân số tiền là 11.300.000.000 đồng.

Nhận thấy vụ việc bà Xuân phản ánh là nghiêm trọng, VPBank đã ngay lập tức kiểm tra hồ sơ mở tài khoản, làm việc với các cá nhân có liên quan, ông Phạm Văn Trinh (và luật sư đại diện của ông Phạm Văn Trinh). NH cũng đã trao đổi, làm việc trực tiếp với bà Xuân vào ngày 30/10/2015. Qua quá trình làm việc, xác minh các cá nhân liên quan đều phủ nhận nội dung tố cáo của bà Xuân và yêu cầu đối chất với bà Xuân để làm rõ. VPBank đã chủ động trao đổi, mời bà Xuân làm việc nhằm tạo cơ hội cho các bên đối chất, làm rõ sự việc nhưng bà Xuân không phối hợp và trả lời đã gửi đơn cho các cơ quan công an điều tra, làm rõ (có ghi âm cuộc gọi).

Continue reading

ĐẶC TRƯNG CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

 PHÙNG ĐẮC LỘC Giám đốc Quỹ “Vì cuộc sống tươi đẹp” Dai-ichi Life Việt Nam

Bảo hiểm nhân thọ là cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đáp ứng nhu cầu một khoản tài chính (số tiền chi trả) trong tương lai của người tham gia bảo hiểm đã lựa chọn để sử dụng khi xảy ra các rủi ro, sự cố bất ngờ hoặc các sự kiện được bảo hiểm đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm, đồng thời người tham gia bảo hiểm cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như hợp đồng bảo hiểm đã quy định.

Các rủi ro được bảo hiểm có thể bao gồm: thiên tai, tai nạn bất ngờ, ốm đau, thương tật, tử vong.

Các sự cố bất ngờ được bảo hiểm bao gồm những sự cố nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính (tiền bạc) của người tham gia bảo hiểm khi bị giảm sút hoặc mất thu nhập (nghĩa vụ chu cấp tài chính cho gia đình và người thân như trước khi xảy ra sự cố được bảo hiểm).

Các sự kiện được bảo hiểm bao gồm những sự kiện lường trước được, chắc chắn xảy ra và khi xảy ra cần có nguồn tài chính từ chi trả quyền lợi bảo hiểm theo quy định của hợp đồng bảo hiểm để triển khai thực hiện sự kiện đó. Có thể bao gồm cả trường hợp người tham gia bảo hiểm đã bị tử vong, thương tật toàn bộ vĩnh viễn trước khi xảy ra sự kiện (với hợp đồng có điều khoản miễn đóng phí với trường hợp trên) như: cho con theo học phổ thông trung học, đại học, học nghề, dựng vợ gả chồng, tậu nhà, mua xe hơi, nghỉ hưu…

Từ khái niệm trên về bảo hiểm nhân thọ, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có những đặc trưng sau đây:

1. Đặc trưng thứ nhất: vừa bảo vệ trước những rủi ro vừa tích lũy tiết kiệm

– Bảo vệ người được bảo hiểm trước những rủi ro là đặc tính không thể thiếu được của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, mất đi đặc tính này thì không còn được gọi là bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khỏe (đau ốm, bệnh tật, mất khả năng lao động) có tính dài hạn (5 năm, 10 năm,… suốt đời). Ngoài bù đắp chi phí điều trị ốm đau thương tật, bảo hiểm nhân thọ có thể chi trả các khoản tài chính để bù đắp chi phí: thuê người chăm sóc khi điều trị, giảm sút thu nhập trong thời gian điều trị (tiền lương), giảm sút thu nhập sau thời gian điều trị (không đảm nhận được các công việc trước đây), chi phí nuôi dưỡng thân nhân hoặc nghĩa vụ trả các khoản nợ đang vay của người được bảo hiểm khi họ bị tử vong…

Continue reading

ĐẶC TRƯNG của bảo hiểm nhân thọ

PHÙNG ĐẮC LỘCGiám đốc Quỹ “Vì cuộc sống tươi đẹp” Dai-ichi Life Việt Nam

Bảo hiểm nhân thọ là cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm rủi ro đáp ứng nhu cầu một tài khoản chính (số tiền chi trả) trong tương lai của người tham gia bảo hiểm rủi ro đã chọn để sử dụng khi xảy ra rủi ro, sự cố bất ngờ hoặc các sự kiện được bảo đảm nguy hiểm đã được xác định trong đồng bảo hiểm hiểm, đồng thời người tham gia bảo hiểm cam kết đóng đủ phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như hợp đồng đồng bảo hiểm đã định nghĩa.

Các rủi ro có thể xảy ra bao gồm: thiên tai, tai nạn bất ngờ, đau đớn, tật tật, tử vong.

Sự cố bất ngờ được bảo hiểm rủi ro bao gồm những sự cố nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính (tiền bạc) của người tham gia bảo hiểm khi bị giảm tốc hoặc mất thu nhập (nghĩa là chu cấp tài chính cho gia đình và người thân trước đó như xảy ra sự cố được bảo hiểm).

Sự kiện được bảo hiểm bao gồm những sự kiện xảy ra trước đó, chắc chắn xảy ra và khi xảy ra cần có nguồn tài chính chính từ chi trả quyền lợi bảo hiểm theo quy định của đồng bảo hiểm để phát triển khai thực sự kiện đó. Có thể bao gồm cả trường hợp người tham gia bảo hiểm nguy hiểm đã chết vong, thương tật toàn bộ vĩnh viễn trước khi xảy ra sự kiện (với hợp đồng có điều khoản miễn phí với trường hợp hợp trên) như: cho con theo học phổ thông trung học, đại học, học nghề, xây vợ gả chồng, tậu nhà, mua xe hơi, nghỉ hưu…

Từ khái niệm về bảo hiểm nhân thọ, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có những đặc điểm sau đây:

1. Đặc trưng thứ nhất: vừa bảo vệ trước những nguy cơ tích lũy tiết kiệm

– Bảo vệ người được bảo hiểm trước những rủi ro rủi ro là đặc tính không thể thiếu của sản phẩm bảo mật nguy hiểm thông số kỹ thuật, mất đặc tính này thì không còn được gọi là bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ rủi ro rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khỏe (đau ốm, bệnh tật, mất khả năng lao động) có thời hạn (5 năm, 10 năm,… suốt đời). Ngoài ra bù đắp chi trị bệnh đau đớn tật nguyền, bảo hiểm nhân thọ có thể chi trả các tài khoản chính để bồi đắp chi phí: người chăm sóc khi điều trị, giảm nhẹ thu nhập trong thời gian điều trị (tiền lương), giảm nhẹ thu nhập sau thời gian trị trị (không chắc chắn nhận được các công việc trước đây), chi phí chăm sóc nhân nhân hoặc nghĩa vụ trả các khoản nợ đang vay của người được bảo hiểm khi họ tử vong…

Continue reading

QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VÀ NGUY CƠ GIA TĂNG NỢ XẤU

Kết quả hình ảnh cho STATUTETS. BÙI ĐỨC GIANG -Giảng viên Công ty TNHH tư vấn và đào tạo BankPro

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể này mất quyền khởi kiện. Đối với các ngân hàng, do việc xử lý nợ thông qua khởi kiện là một kênh quan trọng để đòi vốn và lãi, nên những thay đổi về thời hiệu khởi kiện sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của hoạt động này.

Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng được nâng từ 2 năm theo Bộ luật dân sự 2005 lên thành 3 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429). Cần lưu ý Điều 184, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nêu rõ thời hiệu khởi kiện sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 20151.

Hạn chế dễ thấy của Bộ luật dân sự 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2017) nằm ở chỗ bộ luật này chưa có các quy định cụ thể giúp xác định ngày mà quyền và lợi ích hợp pháp của bên khởi kiện bị xâm phạm trong quan hệ hợp đồng, đặc biệt khi hành vi xâm phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau hay đối với nghĩa vụ mà các bên không thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực hiện. Điều này, sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật trừ khi ngành Tòa án có các hướng dẫn chi tiết về vấn đề này.

Thời hiệu khởi kiện hợp đồng tín dụng

Như nêu ở trên, theo quy định mới, thời hiệu để ngân hàng khởi kiện đòi lãi đối với khoản vay sẽ là 3 năm. Như vậy, ngân hàng sẽ có thêm thời gian để quyết định khởi kiện và đây là một tín hiệu tốt. Tuy nhiên, Điều 155, Bộ luật dân sự 2015 nêu 4 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện, bao gồm (i) yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản, (ii) yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, (iii) tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và (iv) trường hợp khác do luật quy định. Trong các trường hợp này có thể khởi kiện vào bất cứ thời điểm nào tính từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể liên quan bị xâm phạm, chứ không bị hạn chế bởi thời hiệu 3 năm nêu ở trên. Dễ thấy trong danh sách này không có tranh chấp về đòi lại tài sản được quy định tại Điều 159, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 – vốn là cơ sở pháp lý mà ngân hàng dựa vào để yêu cầu Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đòi nợ gốc của các khoản tín dụng đã cấp. Điều đó, có nghĩa là theo quy định mới, thời hiệu để ngân hàng khởi kiện đối với nợ gốc (thường được hiểu là bao gồm cả việc xử lý tài sản bảo đảm) về nguyên tắc dường như chỉ còn là 3 năm, trừ trường hợp Luật các tổ chức tín dụng có quy định khác2! Nói cách khác, dường như sẽ không còn có sự khác biệt về thời hiệu khởi kiện giữa việc đòi nợ gốc và đòi nợ lãi như hiện nay nữa!

Continue reading

QUYỀN CHỦ SỞ HỮU VÀ CÔNG KHAI TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho state enterprises  PHẠM DUY KHÁNH

Tình hình thực hiện quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước đang có những chuyển biến tích cực cả về khuôn khổ pháp lý và  triển khai thực hiện. Tuy nhiên, để doanh nghiệp có vốn nhà nước hoạt động hiệu quả, công khai đầy đủ, kịp thời tình hình tài chính và công tác giám sát tài chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp này đi vào thực chất cần tiếp tục hoàn thiện 2 vấn đề cốt lõi đó là: Lựa chọn mô hình tổ chức thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và công khai thông tin tài chính.

Thực trạng quyền chủ sở hữu và công khai tài sản tại doanh nghiệp có vốn nhà nước

Có thể kể đến quy định về quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các văn bản pháp quy hiện hành như: Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (DN) (số 69/2014/QH13) được Quốc hội thông qua năm 2014, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2015;

Nghị định số 87/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/10/2015 về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào DN, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính DNNN và DN có vốn nhà nước; Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố thông tin của DNNN…. đến các báo cáo của Chính phủ, các Bộ, các Ủy ban giám sát của Quốc hội trình bày tại các kỳ họp Quốc hội.

Mặc dù đã rất nỗ lực cải cách và hoàn thiện, tuy nhiên, đến nay số lượng các DNNN vẫn còn lớn, nguồn lực tài chính chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn lực của nền kinh tế, nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh lại chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực hiện có khả năng sinh lời thấp…

Có hai nguyên nhân căn bản làm cho hoạt động kinh doanh của các DNNN hiệu quả thấp là tình trạng “vô chủ” và công tác công khai, minh bạch thông tin chưa đầy đủ, kịp thời:

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Kết quả hình ảnh cho future contractsTỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (Civillawinfor St.)

  I. Khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của Hợp đồng tương lai

  1. Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng tương lai, bên mua và bên bán đều được biết trước về:

+ Loại hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là gì;

+ Khối lượng hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là bao nhiêu;

+ Thời điểm diễn ra giao dịch đó;

+ Giá giao dịch.

2. Đặc điểm của hợp đồng tương lai

a) Tính chuẩn hóa

Hợp đồng tương lai là một công cụ được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Vì vậy, các điều khoản của hợp đồng đều được chuẩn hóa. Cụ thể, sở giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai sẽ quy định cụ thể các nội dung chi tiết của một hợp đồng, như: loại và chất lượng tài sản cơ sở, quy mô của hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở giao dịch tương ứng với một hợp đồng), cách thức giao – nhận cũng như thanh toán giữa hai bên khi hợp đồng đáo hạn…

b) Tính chất cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Tập đoàn Rent-A-Port Vietnam

Trong hoạt động ngân hàng và thương mại quốc tế, việc ngân hàng Việt Nam phát hành bảo lãnh cho bên thụ hưởng là tổ chức hay cá nhân nước ngoài đã trở nên khá phổ biến trong thực tế. Cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng công nhận quyền của các bên trong quan hệ bảo lãnh được lựa chọn luật áp dụng và tòa án giải quyết tranh chấp cũng như có những quy định điều chỉnh các khía cạnh khác trong mối quan hệ bảo lãnh đặc biệt này.

Quan hệ hợp đồng

Cam kết bảo lãnh quốc tế có thể được phát hành cho bên thụ hưởng nước ngoài trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam hoặc bởi một ngân hàng tại nước có trụ sở hoặc nơi ở của bên thụ hưởng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam cấp bảo lãnh đối ứng. Có thể minh họa quan hệ bảo lãnh này thông qua bảo lãnh hoàn trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ như sau:

Bảo lãnh ngân hàng phát hành trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng nước ngoài và các mối quan hệ hợp đồng phát sinh

Bên mua (M) tại London ký hợp đồng để mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ bên bán (B) tại Hà Nội. Hợp đồng mua bán quy định phải có bảo lãnh do một ngân hàng Việt Nam trực tiếp phát hành để bảo đảm việc hoàn trả cho M số tiền mà M trả cho B. Trong trường hợp này có ba mối quan hệ hợp đồng như sau:

(1) Hợp đồng mua bán giữa M và B.

(2) Thỏa thuận cấp bảo lãnh giữa B và ngân hàng Việt Nam trong đó có thỏa thuận về bắt buộc nhận nợ trả thay.

(3) Cam kết bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng là M.

Continue reading

CHỨNG KHOÁN HÓA KHOẢN VAY CÓ THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN NHẬN LỢI ÍCH VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

TS. ĐẶNG VĂN DÂN – Đại học Ngân hàng TP.HCM

Giới thiệu

Việc xây dựng và phát triển thị trường tài chính (TTTC) hiện đại luôn được xem là một nhân tố quan trọng và không thể thiếu trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Trong phát triển TTTC thì việc tạo lập và đa dạng hóa các công cụ trên thị trường cũng là một yêu cầu hết sức cần thiết. Các công cụ tài chính thường đa dạng từ cách thức thực hiện, đến chức năng và cả mức độ tác động đến sự phát triển TTTC và các thị trường có liên quan. Trên thế giới, có một công cụ có khả năng liên kết các thị trường với nhau, cụ thể là là thị trường bất động sản (BĐS), thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán (TTCK) – công cụ chứng khoán hoá (CKH) cho vay thế chấp BĐS. Có thể nói tính toàn diện mà công cụ này mang lại thì khó có loại sản phẩm tài chính nào sánh kịp, nó tạo ra cơ chế tuần hoàn và chu chuyển vốn năng động, linh hoạt hơn rất nhiều cho TTTC, cũng như kết nối hiệu quả giữa các bộ phận thị trường có vị thế đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế như vừa nêu. Bài viết sẽ tiếp cận công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS dựa trên những lợi ích mà nó mang lại cho Việt Nam trên các mặt kinh tế – xã hội, qua đó đưa ra nhận định về tính cần thiết để đưa vào vận hành trên thị trường loại công cụ đặc biệt này. Sau đó, để đánh giá về khả năng hình thành và áp dụng thành công công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS ở Việt Nam, bài viết cũng xin nêu ra các điều kiện hiện tại, cả thuận lợi và khó khăn nhằm tạo cơ sở vững chắc hơn cho nhận định của tác giả.

Cơ sở lý luận

Nhìn chung, CKH có thể hiểu là một quá trình cơ cấu lại các tài sản tài chính mà theo đó, các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói bởi một tổ chức chuyên trách(SPV – Special Purpose Vehicle), sau đó, thông qua công tác định giá rủi ro của các tổ chức định mức tín nhiệm, những tài sản đó được làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu qua kênh của tổ chức bảo lãnh phát hành với mức giá và lãi suất hợp lý. Tương ứng tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến những trung gian tài chính (thường là các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính…) để những trung gian này lắp vào các khoản cho vay thế chấp trước đó. Các loại tài sản có thể đem CKH chủ yếu như các khoản cho vay thế chấp BĐS, các khoản phải thu trong hợp đồng kinh tế, hay các hợp đồng thuê mua một số tài sản thực khác,… đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật và phải đạt được mức độ tương đồng nhất định trong cùng một nhóm tài sản mang đi đóng gói.

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI HIỆU QUẢ

 LÊ HOÀNG

Sự thay đổi của hệ thống tài chính và vai trò của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải cập nhật Bộ các nguyên tắc cơ bản theo hướng đảm bảo sự độc lập của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong quá trình hoạt động, cung cấp thêm các công cụ cần thiết để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, đồng thời thể hiện vai trò tích cực hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia.

Những thay đổi cơ bản

Bộ các nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện chương trình FSAP tại Việt Nam, IMF và WB cũng đã áp dụng Bộ các nguyên tắc cơ bản như một tài liệu tham khảo để đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống bảo hiểm tiền gửi.

Năm 2012, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng đã tiến hành tự đánh giá hệ thống bảo hiểm tiền gửi qua đề tài nghiên cứu ứng dụng “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” từ đó đưa ra những đề xuất cải tiến hệ thống BHTG. Bộ nguyên tắc cơ bản cũng đã được các cơ quan Chính phủ và Quốc hội tham khảo trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.

Bộ tài liệu mới đã được cơ cấu lại một cách hợp lý hơn trên cơ sở thực hiện những thay đổi cơ bản sau:

Thứ nhất: Củng cố một số nguyên tắc liên quan tới quản trị, trả tiền bảo hiểm, hạn mức BHTG, cấp vốn và tăng cường đảm bảo an toàn sử dụng vốn, trả tiền bảo hiểm, nhận thức của công chúng, hạn mức, rủi ro đạo đức, các vấn đề xuyên quốc gia…

Continue reading

NỢ XẤU NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH KHÁNH HÒA VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT NỢ XẤU

  THÁI NINH – Khoa Kế toán – Tài Chính, Đại học Nha Trang

I. Tóm tắt

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt giai đoạn từ cuối 2007 đến đầu năm 2013, hàng loạt ngân hàng trên thế giới công bố thua lỗ về kết quả hoạt động kinh doanh, mất khả năng thanh toán, nợ xấu vượt mức cho phép dẫn đến tình trạng các hàng loạt các ngân hàng bị mua lại và phá sản.

Chính phủ các quốc gia trên thế giới cũng như Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đưa nhiều giải pháp nhằm giải cứu ngành ngân hàng khỏi phá sản. Trong bối cảnh này các ngân hàng thương mại Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu cao nhất khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Ngân hàng phát triển chi nhánh Khánh Hòa cũng lâm vào tình trạng này. Tỷ lệ nợ xấu những năm qua tăng cao do tín dụng được bơm bừa bãi để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bối cảnh u ám của kinh tế toàn cầu cũng như trong nước trong những năm gần đây đã hạn chế đáng kể khả năng giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh Hòa. Vào 09/2012, hãng xếp hạng tín dụng Moody’s hạ bậc tín nhiệm đối với Việt Nam xuống mức thấp nhất từ trước đến giờ với lý do hệ thống ngân hàng cần "sự hỗ trợ đáng kể".

Để giải quyết nợ xấu ngân hàng, có nhiều phương thức như thay đổi về chính sách quản trị, thay đổi về kết cấu tài chính, bán nợ xấu…Tác giả chọn đề tài bán nợ xấu tại NHPT chi nhánh Khánh Hòa nhằm mục đích phân tích, đưa ra cái nhìn tổng quan về biện pháp giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh Hòa trong bối cảnh hiện nay nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định.

II. Quá trình nghiên cứu và các kết quả

1. Cơ sở lý luận về nợ xấu ngân hàng và mua bán nợ xấu

1.1. Nợ xấu:

Continue reading

MỘT SỐ RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG KHI PHÁT HÀNH BẢO LÃNH

TS. BÙI ĐỨC GIANG Công ty Luật Audier and Partners vietnam LLC

Phát hành bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ cấp tín dụng chứa đựng rủi ro, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Ngoài các rủi ro gắn với việc truy đòi số tiền đã trả thay cho bên được bảo lãnh như trong trường hợp thu hồi khoản vay thông thường, ngân hàng phát hành bảo lãnh còn phải đối mặt với những rủi ro pháp lý khác gắn liền với cam kết bảo lãnh của mình.

1. Thanh toán số tiền bảo lãnh khi không có vi phạm

Theo khoản 18, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/ QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 và khoản 1, Điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015 về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư 07), ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.

Như vậy, pháp luật ngân hàng đã loại trừ khả năng các bên có thể thỏa thuận về việc ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng (tài chính) thực hiện nghĩa vụ của mình vốn được quy định tại Điều 361, Bộ luật Dân sự, áp dụng đối với bảo lãnh thông thường. Đây là một nét khác biệt giữa bảo lãnh ngân hàng và bảo lãnh thông thường theo quy định chung về giao dịch bảo đảm.

Tuy vậy, bảo lãnh ngân hàng không phải là một loại cam kết độc lập, tách bạch hoàn toàn với nghĩa vụ được bảo lãnh, bởi vì:

– Định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng nêu trên cho thấy ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnhkhi bên này vi phạm (không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ) nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh. Nói cách khác, nếu không có vi phạm từ phía bên được bảo lãnh thì ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh. Thông thường, trong cam kết bảo lãnh, thường đặt ra yêu cầu bên nhận bảo lãnh cung cấp bằng chứng về việc bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ khi bên nhận bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Chẳng hạn trong trường hợp bảo lãnh thanh toán, bên nhận bảo lãnh phải cung cấp cho ngân hàng hóa đơn bán hàng chưa được thanh toán, biên bản xác nhận công nợ được ký bởi bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hay biên bản nghiệm thu, hoặc thanh lý hợp đồng có chữ ký của hai bên này.

Continue reading

ĐẢM BẢO BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

NGUYỄN THỊ KIM THOA – Giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân hàng TPHCM

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

“Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng

1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

“Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

6. Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”.

“Điều 565. Nghĩa vụ của bên được ủy quyền

4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền”

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Đặt vấn đề

Xã hội ngày càng phát triển, các yêu cầu được đảm bảo bí mật thông tin của con người ngày càng được coi trọng, đặc biệt trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Theo số liệu thống kê về vấn đề bảo mật thông tin của Tổ chức chứng nhận TÜVRheinland Việt Nam (trong đó, có những số liệu liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin của các tổ chức hoạt động ngân hàng) cho biết, mỗi năm có trên 30.000 mật khẩu của các tài khoản internet bị công bố trên mạng và 30.0000 số tài khoản tín dụng cá nhân bị trộm, một số bị công bố trên Web…1, bảo mật thông tin của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên cấp thiết. Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng cần cụ thể, phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn. Để có thể hình dung về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng, bài viết sẽ tập trung làm rõ khía cạnh pháp lý của các quy định về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng; đồng thời, sẽ phân tích một số hạn chế của pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và có một số đề xuất liên quan đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng.

1. Khái quát về thông tin trong hoạt động ngân hàng liên quan đến khách hàng

Theo Từ điển Tiếng Việt, thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó2.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY HIỆN NAY

TS. NGUYỄN TIẾN ĐÔNG – Vụ trưởng Vụ Tín dụng CNKT, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Có thể khẳng định tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế. Đối với hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm (TSBĐ) được xem như “phao cứu sinh” nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi khi khách hàng không trả được nợ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác xử lý TSBĐ tại các tổ chức tín dụng (TCTD) còn tồn tại nhiều bất cập. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật liên quan đến TSBĐ và xử lý TSBĐ đang ở trong tình trạng vừa chồng chéo vừa thiếu hụt. Đây đang là vấn đề nổi cộm trong hoạt động của các TCTD, cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả xử lý TSBĐ, thu hồi nợ xấu.

Phạm vi bài viết sẽ nêu ra một số khó khăn, vướng mắc chủ yếu, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp trong xử lý TSBĐ trong hoạt động tín dụng của các TCTD hiện nay.

1. Những vướng mắc trong hoạt động xử lý TSBĐ nói chung tại các TCTD

Khó khăn trong định giá TSBĐ khi tiến hành xử lý

Hiện nay, việc định giá tài sản khi thực hiện xử lý TSBĐ được các TCTD thực hiện như một khâu độc lập với quá trình định giá khi ký kết hợp đồng bảo đảm hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo đảm.

Khi phải tiến hành xử lý TSBĐ, một số TCTD đã tự xác định giá trị tài sản hoặc căn cứ giá trị định giá ban đầu để xử lý nhằm thu hồi khoản nợ một cách nhanh chóng. Việc không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được với bên bảo đảm hoặc thuê một tổ chức có chức năng định giá chuyên nghiệp và độc lập để định giá TSBĐ cần xử lý có thể làm phát sinh tranh chấp giữa ngân hàng và bên bảo đảm khi pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc chủ thể nào có quyền lựa chọn cơ quan thẩm định giá. Vướng mắc này phần nào đã được tháo gỡ khi Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về hướng dẫn một số vấn đề xử lý TSBĐ được ban hành, hiệu lực từ 22/7/2014. Theo đó, nếu bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không thỏa thuận được giá bán TSBĐ thì ngay cả trong trường hợp bên bảo đảm bất hợp tác, phía TCTD cũng có thể chỉ định tổ chức thẩm định giá để xác định giá bán tài sản (Điều 10 của Thông tư này).

Continue reading

THỰC TRẠNG CHO VAY LÃI SUẤT TIÊU DÙNG CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

THS. NGUYỄN ĐỨC LONG – Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong những năm qua, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam phát triển khá mạnh, với sự tham gia tích cực của nhiều tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là các công ty tài chính (CTTC). Dù còn ở mức khiêm tốn nhưng tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng và tỷ trọng tín dụng tiêu dùng so với tổng tín dụng đối với nền kinh tế tăng mạnh trong những năm qua. Hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD về cơ bản đã đáp ứng tốt nhu cầu của người dân, làm tăng khả năng tiếp cận tài chính, góp phần kích thích tiêu dùng từ đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo quy luật, khi kinh tế phát triển, tiêu dùng tăng thì hoạt động đi vay để phục vụ tiêu dùng của người dân cũng tăng phù hợp với xu thế chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào chi tiêu chính phủ và đầu tư sang dựa vào tiêu dùng tư nhân. Ở Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng có rất nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng tốt, dân số trẻ. Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng hóa hoạt động theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó, cho vay tiêu dùng trở thành một hoạt động cơ bản, trọng yếu để đáp ứng nhu cầu của người dân, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, do phát triển chưa lâu, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ một số vấn đề cần phải được điều chỉnh, khắc phục nhất là vấn đề lãi suất cho vay cao của một số CTTC.

1. Thực trạng lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC

Cho vay tiêu dùng là hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân hàng ngày hoặc mua sắm hàng hóa, vật dụng gia đình. Họat động này có rủi ro tín dụng cao hơn các loại hình cho vay khác vì đối tượng khách hàng chủ yếu là người thu nhập trung bình trở xuống, độ tín nhiệm thấp, khó tiếp cận được vốn ngân hàng, hầu hết lại vay tín chấp (nếu có tài sản bảo đảm thì giá trị thấp, mất giá nhanh). Tuy nhiên, chi phí hoạt động cho vay tiêu dùng lại khá cao do các khoản vay thường có thời hạn rất ngắn (từ vài ngày đến 1 tháng), giá trị nhỏ (nhiều khoản vay chỉ vài triệu đồng), nhưng yêu cầu chung là phải làm thủ tục xét duyệt đơn giản, nhanh chóng, nhân viên tín dụng thường phải đến làm việc tận nơi với khách hàng với từng khoản vay nhỏ lẻ, vô hình chung làm tăng chi phí quản lý. Với đặc thù như trên, lãi suất cho vay tiêu dùng của các TCTD cao hơn các loại hình cho vay khác. Đối với CTTC, lãi suất cho vay tiêu dùng còn cao hơn các ngân hàng thương mại (NHTM) vì có chi phí vốn cao hơn: Theo quy định tại Luật Các TCTD, CTTC không được huy động từ thị trường bán lẻ là dân cư mà chỉ được huy động từ thị trường bán buôn có lãi suất cao là các tổ chức kinh tế, nhưng trên thực tế kênh huy động này cũng rất hạn chế, do đó, các CTTC phải sử dụng vốn tự có, vay vốn nước ngoài hoặc vay liên ngân hàng và từ tổ chức tài chính khác để kinh doanh. Vì vậy, hiện nay hầu hết các NHTM cho vay tiêu dùng với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh nhưng cũng chỉ khoảng 10 – 13%/năm, trong khi đó, lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC (cả CTTC trong nước và nước ngoài) phổ biến khoảng 20% – 30%/năm, thậm chí cao hơn. Về vấn đề này, thời gian qua, các địa phương, một số cơ quan xét xử và báo chí cũng đã phản ánh tình trạng người dân phải vay tiêu dùng với lãi suất quá cao gây khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ, trong khi một số CTTC tiêu dùng có lợi nhuận cao do cho vay lãi suất cao… gây nên tình trạng khiếu kiện, dư luận xã hội không tốt.

Continue reading

XỬ LÝ NỢ XẤU BẰNG BIỆN PHÁP CHUYỂN NỢ THÀNH VỐN GÓP TẠI VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Ths. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank) –Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

Continue reading

NGƯỜI GỬI TIỀN, VIETINBANK, HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ VÀ 4.000 TỶ

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Huỳnh Thị Huyền Như kêu gọi khách hàng gửi tiền về Vietinbank, bằng hình thức ủy thác, gửi tiền trực tiếp… Sau khi khách hàng gửi tiền vào Vietinbank, Huyền Như có hai thủ đoạn chính để rút tiền. Một là, dùng chứng từ giả để rút ra, giả chữ ký của chủ tài khoản. Hai là, dùng chứng từ giả, giả chữ ký và thế chấp khoản tiền đó để vay Vietinbank, chiếm đoạt tiền vay; sau đó bị bắt, Vietinbank trích tiền gửi của khách hàng để bù đắp cho việc cho vay này, mặc dù hợp đồng thế chấp là giả. Tóm lại là người gửi tiền đã chuyển vào tài khoản hợp pháp của ngân hàng Vietinbank, sau đó Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối để lấy tiền ra.

Vụ án phức tạp, thời gian xét xử dự kiến kéo dài từ ngày 6/1/2014 đến 25/1/2014. Trong những ngày qua trên các báo phản ánh câu chuyện phức tạp, nóng bỏng là Huyền Như chiếm đoạt tiền của ai, Vietinbank có phải đền tiền cho khách hàng hay không? Để bạn đọc tiện theo dõi và bình luận tôi xin tổng hợp các tin bài từ trang website: Cafef.vn và VnEconomy.vn, như sau.

QUAN ĐIỂM VIỆN KIỂM SÁT

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát cho rằng trong vụ án này, Huỳnh Thị Huyền Như phạm tội lừa đảo, Vietinbank không bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm về dân sự đối với các khoản tiền mà các đơn vị, cá nhân gửi vào ngân hàng. Theo đó Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng gần 4.000 tỷ đồng.

QUAN ĐIỂM BẢO VỆ VIETINBANK

Trả lời Hội đồng xét xử các câu hỏi của luật sư liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của VietinBank, ông Nguyễn Mạnh Toàn, chuyên viên phòng Pháp chế ngân hàng VietinBank đã khẳng định rằng, các bộ luật, nghị định, quyết định hoặc các văn bản dưới luật khác không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, tài khoản của khách hàng được mở tại ngân hàng cũng như quản lý số dư trên các tài khoản này tại ngân hàng. Mấu chốt nhất trong nội dung trả lời là không có định nghĩa về “quản lý tài khoản” nên không có “trách nhiệm quản lý tài khoản”; số dư tài khoản thuộc quyền sở hữu và định đoạt của khách hàng.

Continue reading

GIAO DỊCH CÓ ĐỐI TƯỢNG QUYỀN ĐÒI NỢ

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Cong ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam tồn tại một số khái niệm có nội hàm tương tự nhau và có thể ít nhiều khó phân biệt như quyền yêu cầu, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền đòi nợ, khoản phải thu. Việc nhận diện các quyền tài sản (tài sản vô hình) này có ý naghĩa quan trọng khi thực hiện giao dịch có đối tượng là các tài sản này. Bài viết sẽ phân tích quyền đòi nợ dưới góc nhìn của pháp luật dân sự trong tương quan với các quyền tài sản nói trên cũng như các giao dịch về quyền đòi nợ được pháp luật thừa nhận, trong đó có một số giao dịch còn chưa được khai thác thường xuyên trong hoạt động thương mại, nhất là trong việc cấp tín dụng.

1. Bản chất của quyền đòi nợ

Tính chất hỗn hợp

Quyền đòi nợ (debt claim, money claim, debt) có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản.

Dưới góc độ của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, quyền đòi nợ (khoản nợ, quyền yêu cầu thanh toán) là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc1 quy định tại Ðiều 291 của Bộ luật dân sự (BLDS), cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Thời điểm thỏa thuận này có thể là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng quyền đòi nợ có thể được thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu việc thanh toán này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ mà thôi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ.

Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản (khoản 1 Ðiều 322, BLDS) và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện hành (Ðiều 163, BLDS). Như vậy, có thể hiểu quyền đòi nợ tự thân nó là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời điểm nhất định.

Continue reading

QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM TỪ PHẢN ỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013

TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG – Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Cùng với xu thế biến động của thế giới, thời gian gần đây, thị trường vàng Việt Nam chứng kiến một số biến động bất thường về giá cả, cơ cấu và hoạt động thị trường. Hiện tượng “vàng hóa” quay trở lại từ năm 2008 và lượng vàng dự trữ trong dân vẫn chưa thể được xác định một cách chính xác. Các cơ quan quản lý phải đối diện với nhiều thách thức khi đưa ra các chính sách và biện pháp can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, nhiều quan điểm cho rằng vẫn tồn tại mối quan hệ khá phức tạp giữa thị trường vàng trong nước và thế giới cũng như thị trường vàng với thị trường ngoại tệ. Trước tình hình trên, bài nghiên cứu này tập trung vào nội dung “Phân tích và đo lường các tác động của các chính sách quản lý thị trường vàng giai đoạn 2011-2015 đối với thị trường vàng Việt Nam cũng như việc đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của cơ quan quản lý vĩ mô”.

Xét dọc theo chiều dài lịch sử, giai đoạn 2011 – 2013 có thể coi như mốc thời gian quan trọng nhất đối với hoàn chỉnh các chính sách về quản lý thị trường vàng của Việt Nam. Cụ thể, năm 2011, NHNN chính thức ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN (về việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD) với mục tiêu loại trừ vàng khỏi hệ thống tín dụng và không cho phép sử dụng nó làm phương tiện dẫn vốn. Theo đó, kể từ 01/05/2011, các TCTD không được thực hiện cho vay, huy động vốn bằng vàng, mà chỉ được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả theo yêu cầu của khách hàng và hoạt động này cũng sẽ chấm dứt vào 01/05/2012. Tiếp đó, Nghị định 95/2011/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NÐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng được ban hành (theo đó, tăng tất cả các mức phạt đối với các vi phạm về hoạt động kinh doanh vàng). Năm 2012, Nghị định số 24/2012/NÐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24 đã được ban hành với mục tiêu đảm bảo sự ổn định và minh bạch của thị trường cũng như việc quản lý thị trường vàng đi kèm với quản lý các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá và lạm phát. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 16/2013/QÐ-TTg, NHNN ban hành Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QÐ-NHNN nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc mua bán vàng miếng, là tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước thông qua việc bình ổn cung cầu.

Vậy, thị trường đã phản ứng như thế nào khi các văn bản pháp quy trên đã thực sự có hiệu lực?

1. Thị trường vàng trong nước dần hướng tới sự ổn định mặc dù giá vàng thế giới biến động mạnh

Ngày 29/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN, TCTD không được thực hiện huy động và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và TCTD. Ðây là một bước đi quan trọng trong việc hạn chế tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế trước khi chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua bán. Giải pháp trên đã phát huy tác dụng đáng kể khi tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng trước những đợt tăng giá vàng trong và ngoài nước được hạn chế dần. Do vậy, biến động giá vàng trong nước trong thời kỳ này tương đối ổn định trước những đợt tăng mạnh của giá vàng thế giới (chi tiết có thể thấy khá rõ qua biểu đồ 1a).

Continue reading

THEO TOÀ VÔ GIÁ TRỊ, THEO BỘ VÔ HIỆU LỰC (!?)

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ nhiệm CLB Pháp chế Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của người khác đang bị đẩy vào một cuộc tranh chấp pháp lý đặc biệt nguy hiểm: Làm đúng mọi yêu cầu pháp lý mà vẫn bị coi là trái pháp luật, phù hợp với luật định mà vẫn bị Toà án tuyên vô hiệu.

Thực trạng hết sức nguy hiểm

Hợp đồng thế chấp tài sản nói chung, quyền sử dụng đất nói riêng, để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho người khác là một việc làm khá phổ biến và hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, một số Toà án do hiểu sai pháp luật, cho rằng quan hệ này phải được gọi là hợp đồng bảo lãnh, nên đã máy móc tuyên huỷ hợp đồng thế chấp. Hàng vạn hợp đồng thế chấp nhà đất, với hàng nghìn tỷ đồng dư nợ của ngành Ngân hàng đã và đang đứng trước nguy cơ bị thất thoát do phán quyết của Toà án biến các khoản vay từ có thành không có tài sản bảo đảm.

Một số ngân hàng như Vietcombank, Eximbank, MB,… đã bị tuyên huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, mà theo Bản án là chỉ vì lý do dùng “nhầm” giữa từ bảo lãnh và thế chấp. Ví dụ như các Bản án sơ thẩm số 26/2011/KT-ST ngày 05-8-2011, ngày 22-9-2011 của TAND tỉnh Quảng Ngãi, số 49/2012/KDTM-ST ngày 24-9-2012 của TAND huyện Củ Chi; Bản án phúc thẩm số 105/2013/KDTM-PT ngày 18-01-2013 của TAND TP HCM. Một số Bản án khác của TAND cấp tỉnh cũng như TAND tối cao, tuy không huỷ hợp đồng, nhưng vẫn nhận định việc tên gọi hợp đồng thế chấp là sai pháp luật.

Bác bỏ thực tế hợp lý

Hợp đồng thế chấp hay bảo lãnh được coi là một hợp đồng phụ của các hợp đồng chính về dân sự, kinh doanh, thương mại, nhưng lại có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong hoạt động cấp tín dụng. Nó cũng được quy định khác biệt so với các loại hợp đồng phụ khác ở chỗ: Dù hợp đồng chính là tín dụng vô hiệu nhưng hợp đồng phụ là thế chấp vẫn có hiệu lực (khoản 2, Điều 410 về “Hợp đồng dân sự vô hiệu”, Bộ luật Dân sự năm 2005).

Continue reading