KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC VỀ TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU

 TS. ĐÀO MINH TÚ – Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Là một nước phát triển và có mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng, cũng như nhiều nước phát triển khác, Hàn Quốc đã chịu tác động sâu sắc từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu và trong nước, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và bị tổn thương nặng nề nhất.

Để vực dậy nền kinh tế và hệ thống tài chính, ngân hàng sau các cuộc khủng hoảng, từ năm 1996 đến nay, Hàn Quốc đã buộc phải tiến hành nhiều đợt tái cơ cấu hệ thống tài chính nói chung và tái cơ cấu, xử lý nợ xấu hệ thống ngân hàng nói riêng bằng một hệ thống các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và kịp thời với sự đồng thuận và quyết tâm cao trong nhận thức cũng như trong hành động từ Quốc hội, Chính phủ đến các chủ thể trong hệ thống tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp, người dân về sự cần thiết, quan điểm và cách thức tái cơ cấu, xử lý nợ xấu. Nhờ đó, các đợt tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu của Hàn Quốc sau khủng hoảng đều đạt hiệu quả cao với mức chi phí tối thiểu.

Ủy ban Dịch vụ tài chính Hàn Quốc (FSC), Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc (KDIC), Cơ quan Dịch vụ tài chính Hàn Quốc (FSS), Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) và một số ngân hàng Hàn Quốc (Woori Bank…) đã chia sẻ kinh nghiệm thực thi quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu như sau:

1. Về hành lang pháp lý

Thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời được xem là điều kiện tiên quyết, đảm bảo cho các biện pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu được thực thi nghiêm túc, nhanh chóng và công khai, minh bạch, hiệu quả, giảm thiểu tối đa các tranh chấp, xung đột lợi ích và những tác động bất lợi từ khủng hoảng.

Continue reading

PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TIÊU DÙNG: CẦN NỖ LỰC TỔNG THỂ

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

Trong tương lai, đầu tư tài chính cho tiêu dùng sẽ tiếp tục phát triển mạnh góp phần giảm cho vay nặng lãi, tín dụng đen. Theo đó cần có nhìn nhận đúng về vai trò của các công ty tài chính cũng từ chính những người tiêu dùng cũng như cơ quan quản lý.

Vai trò của các công ty tài chính tiêu dùng

Hiện tại, do dịch vụ cho vay cầm đồ chủ yếu là cho vay nóng và luôn phải yêu cầu khách hàng cầm cố tài sản, còn các ngân hàng ít cho vay tiêu dùng, nên các công ty tài chính có vai trò quan trọng trong việc phát triển tín dụng và tiêu dùng.

Tín dụng đen phát triển mạnh do vấn đề cung cầu. Thứ nhất, nhu cầu vay vốn rất lớn, đa dạng. Thứ hai, ngân hàng cũng hạn chế cho vay tiêu dùng nhỏ lẻ vì nhiều lý do như năng lực, quan điểm kinh doanh và các nguyên tắc hoạt động của ngân hàng đòi hỏi yêu cầu cao nên khó cho vay tiêu dùng. công ty tài chính khi tham gia lĩnh vực cho vay tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu cho vay nhanh, dịch vụ cung cấp phù hợp thị trường nhưng lãi suất thường cao gấp đôi, gấp ba so với ngân hàng. Tuy nhiên, lãi vay tiêu dùng của công ty tài chính so với tín dụng đen thấp hơn và ít rủi ro hơn. Việc cho vay hợp pháp này nếu phát triển được sẽ đáp ứng nhu cầu xã hội, hạn chế được tín dụng đen.

Có thể nói gần như chưa có sự cạnh tranh giữa các công ty tài chính vì trên thực tế mới chỉ có gần một chục công ty tài chính cho vay tiêu dùng, trong đó một số chỉ cho vay chuyên biệt trong một lĩnh vực như mua ô tô, xe máy hoặc chỉ hoạt động trong một tỉnh và chỉ có 2 – 3 công ty tài chính hoạt động trên phạm vi rộng ít nhiều có sự cạnh tranh. Nhiều người phải đi vay tại các tiệm cầm đồ, thậm chí tìm đến cả tín dụng đen với lãi suất rất cao. Trong khi đó, hiện thị trường với 90 triệu dân nhưng chỉ có vài công ty công ty tài chính cho vay thôi và độ phủ sóng, mạng lưới, sản phẩm… còn hạn chế.

Continue reading

BITCOIN: TIN TỐT VÀ XẤU VỀ TIỀN ẢO

NEAL KOBLITZ (Hảo Linh dịch)

Đầu tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định rằng: “việc phát hành, cung ứng, sử dụng bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm tại Việt Nam” do những rủi ro không thể lường trước.

Theo các chuyên gia, đúng là bitcoin có ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng cũng đầy tiềm năng để thúc đẩy sự tự do, đổi mới sáng tạo của xã hội. Bài viết dưới đây của giáo sư Neal Koblitz, một trong hai tác giả độc lập sáng tạo ra Hệ mật đường cong Elliptic vào năm 1985, nền tảng cho công nghệ chữ kí số của Bitcoin nhằm phân tích về ảnh hưởng của đồng tiền này và cách tiếp cận nó

Bitcoin là gì và nó hoạt động như thế nào?

Tiền mặt là phương thức thanh toán chủ yếu cho đến gần đây. Ở nhiều nơi trên thế giới, giờ đây thanh toán bằng tiền mặt đã được thay thế bằng thanh toán điện tử, chủ yếu là thẻ tín dụng. Các hệ thống thanh toán này được kiểm soát bởi các ngân hàng lớn và sử dụng những đồng tiền chính phủ như USD, đồng Euro hay Yên Nhật.

Bitcoin là một loại tiền tệ mới, ra đời năm 2009, không cần một trung tâm kiểm soát như ngân hàng hay chính phủ, mà hoàn toàn do cộng đồng người dùng quản lý. Việc vận hành chính xác của nó được đảm bảo nhờ các tính chất toán học của một số công cụ mật mã.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG TIỀN ẢO: HAI LUỒNG QUAN ĐIỂM TRÁI CHIỀU

XUÂN THANH (Tổng hợp từ BIS tháng 9/2017; CNBC; Coindesk; FT, IMF, Reuters)

Còn quá sớm để khẳng định, các NHTW có nên phát hành tiền ảo hay không, trong bối cảnh rất khó đánh giá đầy đủ những rủi ro liên quan đến tiền ảo và công nghệ hỗ trợ tiền ảo vẫn chưa được sáng tỏ. Dưới đây là tổng hợp một số thông tin về vấn đề này.

Sau khi giảm xuống mức giá thấp nhất 2.951 USD vào giữa tháng 9/2017, ngày 18/9/2017, tiền ảo Bitcoin bắt đầu tăng giá trở lại, chấm dứt chuỗi ngày giảm giá kéo dài khoảng hai tuần lễ, khi chính phủ Trung Quốc rầm rộ triển khai kế hoạch đóng cửa các sàn giao dịch tiền ảo của Trung Quốc. Trong những ngày đầu tháng 10/2017, đồng tiền ảo này đang dao động quanh mức giá 4.500 USD, tăng trên 300% so với đầu năm, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân, nhất là các chuyên gia công nghệ và tầng lớp giàu có trong xã hội.

Yếu tố cơ bản dẫn đến xu hướng phục hồi này bắt nguồn từ những đồn đoán của các thành viên tham gia giao dịch tiền ảo với nhận định chung cho rằng, các sàn giao dịch tại Trung Quốc không còn khả năng chi phối thị trường tiền điện tử, những thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư do thể chế và tính thanh khoản cao.

Theo ghi nhận của thị trường, sau khi các sàn giao dịch Bitcoin Trung Quốc đóng cửa, nhiều nhà đầu tư đã nhanh chóng chuyển sang thị trường Nhật Bản, khiến khối lượng giao dịch tại thị trường này tăng mạnh trong ngắn hạn. Thậm chí, tỷ phú Tim Draper (nhà đầu tư mạo hiểm người Mỹ) còn đưa ra nhận định đầy lạc quan khi cho rằng, đây là tín hiệu tốt lành, tiền điện tử sẽ không bị thêm bất cứ quốc gia nào nữa khai tử. Theo trang tin Cointelegraph, thị phần giao dịch Bitcoin tại Nhật Bản đang dẫn đầu thế giới với tỷ trọng 50,75%.

Continue reading

BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI: TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TIỄN

 KHUÊ NGUYỄN

Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 42 ngân hàng thương mại đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai cho khách hàng theo quy định tại Thông tư 13/2017/TT-NHNN. Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao. Song từ quy định tới thực tiễn triển khai đâu đó vẫn còn có những bất cập và vướng mắc cần tháo gỡ.

Tìm hiểu trên thị trường, cũng không hiếm các dự án bất động sản được ngân hàng cam kết bảo lãnh. Ngay từ năm 2015, BIDV và VietinBank ký kết hợp tác bảo lãnh dự án của Tập đoàn Đất Xanh, VPBank và SeABank ký kết bảo lãnh tại các dự án do Novaland triển khai. Năm 2016, TPBank cũng cam kết bảo lãnh cho người mua nhà tại dự án của Tập đoàn Nam Cường, PVcomBank bảo lãnh cho dự án Tabudec Plaza. SHB cũng cam kết bảo lãnh tiến độ siêu dự án Cocobay, cam kết bảo lãnh tài chính cho dự án Tara Residence…

Nhưng nếu so với con số 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai thì số dự án được ngân hàng bảo lãnh vẫn còn tương đối khiêm tốn. Điều này sẽ thay đổi trong thời gian tới. Bởi, nếu trước kia, các chủ đầu tư rao bán dự án nhà ở chỉ thông báo có ngân hàng đứng sau bảo lãnh thì nay cụ thể và rõ ràng hơn.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2020

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN– Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, với nhiều biến động. Cùng với sự phát triển của thị trường, thể chế thị trường chứng khoán cũng từng bước được hoàn thiện về các mặt như thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, thể chế về sản phẩm trên thị trường, thể chế về tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường, và thể chế về hệ thống giám sát giao dịch. Nhờ đó, trong 20 năm qua, thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô, sản phẩm phát triển đa dạng, cơ chế quản lý, giám sát ngày càng được hoàn thiện.

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được chú trọng trong quá trình phát triển TTCK như: TTCK phát triển thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường quốc tế, quy mô còn nhỏ so với các nước trong khu vực trong khi sản phẩm trên thị trường chưa đa dạng, chưa có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp; đặc biệt khung khổ pháp lý vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục để đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bài viết phân tích quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam, đánh giá những tác động tích cực và nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với TTCK. Trên cơ sở đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện thể chế và phát triển bền vững TTCK Việt Nam đến năm 2020.

1. Quá trình hoàn thiện thể chế thị trường chứng khoán Việt Nam

Quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam tập trung vào 4 trọng tâm chính bao gồm: (i) Thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán; (ii) Thể chế về sản phẩm trên thị trường chứng khoán; (iii) Thể chế về tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán; và (iv) Thể chế về quản lý, giám sát.

Continue reading

VƯỚNG MẮC VỀ LÃI SUẤT, PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

 NGỌC TRÂM

Trong thời gian qua, do chưa có sự nhận thức thống nhất về các quy định pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng, dẫn đến tình trạng trong thực tiễn xét xử, cùng loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thỏa thuận về lãi suất, thỏa thuận phạt vi phạm nhưng có Tòa án xử chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm; có Tòa án xử chỉ chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn mà không chấp nhận phạt vi phạm vì cho rằng tính lãi suất quá hạn đồng thời phạt vi phạm là “lãi chồng lãi”, “phạt chồng phạt”.

I. Một số hạn chế, vướng mắc

Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng trong thời gian qua có một số hạn chế, vướng mắc sau: Hợp đồng tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc do các bên thỏa thuận. Theo nguyên tắc này thì lãi suất, lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận; phạt vi phạm cũng do các bên thỏa thuận.

Lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm được quy định trong các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.

1. Về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng

Có thể thấy, lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm đều được quy định trong các bộ luật dân sự:

– BLDS năm 1995 (Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 313); phạt vi phạm (Điều 377); mức phạt vi phạm (Điều 378); quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (Điều 379); nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Điều 471); lãi suất Điều 473).

Continue reading

ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng)

ĐIỀU LỆ MẪU

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

ĐIỀU LỆ

CÔNG TY CỔ PHẦN

(Tên Công ty)

…, Ngày … tháng … năm 20 …

PHẦN MỞ ĐẦU

Điều lệ này được thông qua theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại đại hội tổ chức vào ngày … tháng … năm …

I. ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ TRONG ĐIỀU LỆ

Điều 1. Giải thích thuật ngữ

1. Trong Điều lệ này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a. "Vốn điều lệ" là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp và quy định tại Điều 6 Điều lệ này;

b. "Luật doanh nghiệp" là Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

c. "Luật chứng khoán" là Luật chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Continue reading

CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN VIỆT NAM – TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN

TS. ĐỖ THỊ HÀ THƯƠNG – Đại học Ngân hàng TP.HCM

THS. TRẦN NGUYỄN CẨM LAI – Đại học Công nghệ Sài Gòn

1. Đặt vấn đề

Hoạt động theo nguyên tắc chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai minh bạch trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu, Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) được thành lập ngày 18 tháng 5 năm 2013 với nhiệm vụ xử lý nợ xấu và giúp các tổ chức tín dụng (TCTD) khơi thông nguồn vốn ứ đọng nợ xấu để tiếp tục phát triển góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Bài viết nghiên cứu thực trạng hoạt động của VAMC trong thời gian qua; đồng thời, đề xuất một vài khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động của VAMC trong thời gian tới.

2. Nội dung

Khi kinh tế toàn cầu suy thoái dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam trì trệ, kém hiệu quả. Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa, tồn kho lớn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, dẫn đến gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, hệ quả là nợ xấu của các doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng lên nhanh chóng. Để hạn chế tình trạng suy giảm trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề nợ xấu, Chính phủ đã công bố cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Theo đó, Chính phủ đã lần lượt ban hành các quyết định. Cụ thể:

Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 với những định hướng chính: Đẩy mạnh việc cổ phần hóa DNNN (ngoại trừ DNNN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ); Chấm dứt việc đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm và thực hiện thoái vốn đối với các khoản đầu tư “ngoài ngành”.

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO PHÁP LÝ KHI CHO VAY VÀ NHẬN THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Đại học Paris 2, Cộng hòa Pháp

Trong thực tế cấp tín dụng hiện nay, việc tài trợ vốn có bảo đảm bằng bất động sản cho các dự án trong các khu công nghiệp ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, do khuôn khổ pháp lý về thuê đất khu công nghiệp khá phức tạp và còn có những hạn chế nhất định, cho nên việc tài trợ vốn này còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro đối với các tổ chức tín dụng.

Các hình thức có đất thực hiện dự án của chủ đầu tư

Khoản 3, Điều 90, Luật đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật đất đai 2003) quy định “Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc thu tiền thuê đất hàng năm đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp”.

Theo quy định tại khoản 2,Điều 149, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 (Luật đất đai 2013), “Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp […]”.

Như vậy, có thể thấy, nếu như theo Luật đất đai 2003, doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp (chủ đầu tư) có thể được giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thì đến Luật đất đai 2013, thuê đất là hình thức pháp lý duy nhất để chủ đầu tư có đất thực hiện loại dự án kinh doanh này.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI NHẬN BẢO ĐẢM NGAY TÌNH

PHẠM TUẤN ANH – Ban Kiểm tra và Giám sát, BIDV

Tài sản bảo đảm là một trong những công cụ quan trọng giúp cho các tổ chức tín dụng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nhưng thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, mặc dù đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhưng các tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận bảo đảm (1) vẫn không thể tránh khỏi nguy cơ bị mất quyền xử lý tài sản bảo đảm do trước khi mang đi thế chấp hoặc cầm cố, các tài sản này đã được chuyển giao cho bên bảo đảm (2) bằng một giao dịch không có hiệu lực pháp luật. Thông thường, dưới góc độ pháp luật, các trường hợp nhận tài sản bảo đảm này được gọi là nhận tài sản bảo đảm ngay tình, các tổ chức tín dụng khi đó được xác định là bên nhận bảo đảm ngay tình.

Người nhận bảo đảm ngay tình là một vấn đề không mới ở nhiều hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề này bắt đầu được đề cập trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm với việc đưa ra định nghĩa về “bên nhận bảo đảm ngay tình”. Cho đến nay, bên nhận bảo đảm ngay tình vẫn đang được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quyền lợi như là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 về giao dịch bảo đảm (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), đang có một số quan điểm trái chiều liên quan đến vấn đề nhận bảo đảm ngay tình, trong đó có cả những quan điểm cho rằng bên nhận bảo đảm ngay tình không phải là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Để làm rõ hơn vấn đề trên, bài viết sẽ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật liên quan đến bên nhận bảo đảm ngay tình, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của loại chủ thể đặc biệt này.

1. Khái niệm về người nhận bảo đảm ngay tình

1.1. Khái niệm về người thứ ba ngay tình

Continue reading

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THU THỦY – Đại học Thương mại

Đặt vấn đề

Thị trường chứng khoán phái sinh chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) cơ sở. Sau 16 năm hoạt động, với hai sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) như hiện tại và các công cụ đầu tư cơ bản như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… TTCK Việt Nam đã đến lúc cần phát triển lên một tầm cao hơn với các công cụ đa dạng hơn như các sản phẩm phái sinh. Trước đòi hỏi khách quan của nền kinh tế và cũng nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, phát triển TTCK phái sinh ở Việt Nam đã trở thành mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Phát triển TTCK phái sinh sẽ không chỉ làm tăng tính thanh khoản của thị trường và cung cấp các phương tiện để phòng ngừa rủi ro cho những nhà đầu tư, mà còn giúp thị trường trở nên hiệu quả hơn thông qua các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá liên thị trường. Với dữ liệu phân tích tổng hợp, bài viết đã chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam, đề xuất một số gợi ý về chính sách nhằm phát triển TTCK phái sinh Việt Nam trong thời gian tới.

Theo kinh nghiệm thế giới về phát triển TTCK phái sinh, để xây dựng và phát triển bền vững TTCK phái sinh cần dựa trên 05 tiền đề cơ bản, đó là: (i) Quy mô của TTCK cơ sở, sự biến động giá; (ii) nhu cầu về phòng ngừa rủi ro và đầu cơ; (iii) hiệu quả của TTCK và mức độ tự do hóa của hoạt động thị trường tài chính; (iv) hệ thống quy định pháp lý; (v) năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, SGDCK, các định chế trung gian. Ngoài ra, công chúng đầu tư cũng cần phải được đào tạo để nâng cao nhận thức về thị trường này. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, theo chúng tôi, TTCK phái sinh trong giai đoạn sắp tới sẽ có thuận lợi và thách thức trong phát triển như sau:

1. Thuận lợi trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam

Thứ nhất, quy mô của TTCK cơ sở liên tục gia tăng

Sự gia tăng về quy mô của TTCK cơ sở được thể hiện rõ nét thông qua sự gia tăng về giá trị vốn huy động, số lượng chứng khoán niêm yết và nhà đầu tư tham gia thị trường. Nếu như vào năm 2000 trên TTCK cơ sở có 2 mã cổ phiếu niêm yết thì đến năm 2016, số lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu niêm yết đã tăng lên rõ rệt. Tính đến cuối tháng 12/2016, thị trường đã có 695 công ty niêm yết trên 2 SGDCK và trên 400 công ty đăng ký giao dịch trên UPCoM.

Continue reading

Tại sao bội chi ngân sách quá lớn VÀ KÉO DÀI NHIỀU NĂM Ở VIỆT NAM?

VŨ QUANG VIỆT

Giới thiệu và tóm lược

Một câu hỏi lớn nổi lên trong nhiều năm qua là tại sao Việt Nam để xảy ra bội chi ngân sách vô cùng lớn và trong thời gian rất dài, bình quân ở mức 6% GDP, gấp đôi ngưỡng an toàn theo thông lệ quốc tế (3%). Rõ ràng tình hình chi tiêu ngân sách như vậy là không thể chấp nhận được. Chi ngân sách cao và liên tục tăng trong khi thu ngân sách giảm vì tăng trưởng GDP sụt giảm từ năm 2007 đến nay. Tại sao như vậy? Chi vào đâu? Liệu có thể cắt giảm được không? Có hai câu hỏi lớn cần được giải đáp. Một: Có phải lương công chức và viên chức Việt Nam quá thấp nên cần tăng lương để nâng cao năng suất? Hai: Tính khả thi của các biện pháp, nghị quyết tinh giản biên chế, cụ thể: cắt giảm ai, khu vực nào?

Các phân tích của bài này cho thấy lương công chức không phải thấp nếu so với năng suất lao động, nguồn tạo ra của cải để chi trả lương thể hiện bằng GDP bình quân đầu người trong cùng đơn vị thời gian. GDP đã thấp lại có tốc độ tăng trưởng sụt giảm liên tục từ 2007. Số lượng người hoạt động trong khu vực hành chính nhà nước là 530 ngàn, không phải là cao nếu so với số dân, nếu cộng thêm biên chế hoạt động đảng và đoàn thế, số nhân sự mang tính hành chính này ước lên đến 661 ngàn. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu, có thể cắt giảm biên chế ở một số lĩnh vực, đồng thời nghiên cứu tăng lương ở các khu vực cần thiết. Mặc dù lương công chức nói chung không thấp, nhưng lương cơ bản khởi điểm của nhóm công chức cấp chuyên viên có bằng đại học (loại A0) lại quá thấp, sau khi được tăng vào tháng 7 năm 2017 chỉ có 3.7 triệu/tháng bằng lương tối thiểu cho lao động không chuyên trong khu vực doanh nghiệp, còn lương công chức ngạch cán sự (không phải chuyên viên) lại còn thấp hơn nữa, chỉ có 1.7 triệu/ tháng, thấp hơn nhiều so với lương tối thiểu trong doanh nghiệp.

Các giải pháp tăng lương vừa qua là tăng lương đại trà cho mọi công chức thay vì theo chọn lọc có trọng điểm. Lương tăng 5.2% kể từ tháng 5 năm 2016 (từ lương cơ sở 1.15 triệu/tháng lên 1.21 triệu) và thêm 7.4% kể từ tháng 7 năm 2017 (lên mức 1.3 triệu/tháng).1 Như vậy trong vòng một năm 2 tháng, lương tăng đại trà 13%. Nếu tính suốt từ năm 2013 đến nay, lạm phát là 11% trong khi tăng lương là 13%. Như thế lương công chức bình quân (không kể phụ cấp) năm 2015 là 5.1 triệu/tháng, đã là 6 triệu/tháng kể từ tháng 7 năm 2017. Việc tăng lương tập trung vào một thời điểm ngắn có khả năng đẩy mạnh lạm phát nếu không có chính sách tiền tệ phù hợp, nhưng chắc chắn là tăng chi, và tăng vay mượn.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 14/2017/TT-NHNN QUY ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP TÍNH LÃI TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI, CẤP TÍN DỤNG GIỮA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG

Điều. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về phương pháp tính lãi phát sinh trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với khách hàng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tín dụng, chí nhánh ngân hàng nước ngoài nhận tiền gửi của khách hàng, cấp tín dụng cho khách hàng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng).

2. Khách hàng gửi tiền, nhận cấp tín dụng tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là khách hàng).

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Số tiền lãi: là khoản tiền tổ chức tín dụng phải trả cho khách hàng gửi tiền hoặc khách hàng nhận cấp tín dụng phải trả cho tổ chức tín dụng về việc sử dụng khoản tiền đã nhận.

2. Thời hạn tính lãi: là toàn bộ khoảng thời gian do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận để tính số lãi của khoản tiền gửi, cấp tín dụng phù hợp với quy định của Thông tư này.

3. Kỳ tính lãi: là khoảng thời gian trong thời hạn tính lãi mà tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dùng để tính số tiền lãi.

Kỳ tính lãi có thể xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật.

TRA CỨU TOÀN VĂN THÔNG TƯ TẠI ĐÂY

QUYẾT ĐỊNH SỐ 1255/QĐ-TTg NGÀY 21 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tại văn bản số 24/TTr-BTP ngày 05 tháng 6 năm 2017,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo (sau đây viết tắt là Đề án) với những nội dung sau:

I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Quan điểm

Việc xây dựng Đề án dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

a) Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản nhằm giải quyết thực tiễn tất yếu đang tồn tại và sẽ diễn ra;

b) Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong và ngoài nước tại Việt Nam; hạn chế, ngăn chặn và kiểm soát có hiệu quả các rủi ro, lạm dụng liên quan; cụ thể hóa các chế định về quyền tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 trong lĩnh vực tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo;

c) Nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo để nhận diện, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý liên quan theo nguyên tắc đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và có thể dự báo trước của hệ thống pháp luật, phù hợp thông lệ quốc tế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3022/TCTHADS-NV1 NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

                                                                                                                                                                      Kính gửi: Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Nghị quyết số 42/2017/QH14) và Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14. Để thống nhất nguyên tắc áp dụng các quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14, trên cơ sở trao đổi ý kiến với Vụ 11 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Vụ Chính sách Thuế – Bộ Tài chính, Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS) hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng) như sau:

1. Nguyên tắc áp dụng

Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có hiệu lực. Do đó, từ ngày 15/8/2017 đến khi Nghị quyết này hết hiệu lực, cơ quan THADS áp dụng quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 để thực hiện việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Đối với những việc thi hành án liên quan đến xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng đã được cơ quan THADS tổ chức thi hành xong một phần hoặc chưa thi hành xong trước ngày 15/8/2017 nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trình tự, thủ tục và kết quả thi hành án được công nhận. Các thủ tục thi hành án tiếp theo mà Nghị quyết số 42/2017/QH14 điều chỉnh thì được thực hiện theo Nghị quyết này.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 1191/QĐ-TTg NGÀY 14 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU GIAI ĐOẠN 2017 – 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:

1. Quan điểm phát triển:

a) Xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế, đồng bộ với các cấu phần khác của thị trường tài chính, trong đó có thị trường cổ phiếu và thị trường tiền tệ – tín dụng ngân hàng.

b) Phát triển thị trường trái phiếu cả về chiều rộng và chiều sâu, đảm bảo an toàn hệ thống, từng bước tiếp cận với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và hiện đại hóa hạ tầng thị trường, đưa thị trường trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế với chi phí vốn hợp lý.

c) Tiếp tục tập trung phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ làm nền tảng cho sự phát triển của thị trường trái phiếu; đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, góp phần tăng cường quản trị và công khai thông tin doanh nghiệp.

d) Tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường.

2. Mục tiêu:

a) Mục tiêu tổng quát

Continue reading

TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012–2016 TỪ KHÍA CẠNH XỬ LÝ CÁC NGÂN HÀNG YẾU KÉM

 PGS.TS. NGUYỄN HỒNG SƠN, PGS.TS. TRẦN THỊ THANH TÚ & TS. NGUYỄN THỊ NHUNG – Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức. Nhu cầu tái cơ cấu trở nên cấp bách khi hiện trạng của các tổ chức đang gặp nhiều vấn đề trong cơ cấu, khiến tổ chức hoạt động không hiệu quả, thậm chí trì trệ, đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản. Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã trở nên khá phổ biến ở nhiều nước, nhất là sau mỗi giai đoạn khủng hoảng kinh tế – tài chính. Tại Việt Nam, trong vòng 15 năm trở lại đây, chúng ta đã 3 lần tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Đó là các giai đoạn sau khủng hoảng tài chính Châu Á (1998- 2003), giai đoạn Việt Nam bắt đầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (2005-2008) và giai đoạn cơ cấu lại nền kinh tế (2011-2015). Trong tái cơ cấu lần 3, ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án 254 “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015”. Đề án thể hiện quá trình tái cơ cấu các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2012-2015 được tập trung vào nhiệm vụ giữ ổn định hệ thống, từng bước tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính, xử lý nợ xấu, bảo đảm khả năng thanh toán, xử lý tình trạng sở hữu chéo và minh bạch hóa hoạt động tín dụng của hệ thống và từng TCTD, đặc biệt là nhiệm vụ xử lý các ngân hàng yếu kém.

Cho tới nay, quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém đã trải qua giai đoạn 1 và đang bước sang giai đoạn 2 (2016 – 2020). Đây là thời điểm thích hợp để các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo ngân hàng và nhà nghiên cứu đánh giá một cách hệ thống giai đoạn 1 của quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém, tổng kết lại những kết quả đạt được ban đầu, đồng thời chỉ rõ những vấn đề còn tiếp tục phải xử lý, dưới góc nhìn khách quan.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM

 TS. NGUYỄN THẮNG & THS. LẠI VĂN MẠNH – Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Sử dụng các chính sách tài chính để tăng cường quản lý và điều tiết hoạt động xuât khẩu khoáng sản được xem là một trong những biện pháp quan trọng mà các chính phủ thường sử dụng. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay khi nhiều loại tài nguyên khoáng sản đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt thì việc sử dụng các công cụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia. Để ứng phó với những thách thức đang đặt ra và để đảm bảo mục tiêu đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu thô cho các hoạt động kinh tế xã hội ở trong nước, trong những năm vừa qua Việt Nam đã có nhiều điều chỉnh các chính sách về tài nguyên khoáng sản nói chung và chính sách tài chính nói riêng để đạt được mục tiêu này.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã cho thấy vai trò của các chính sách này còn khá hạn chế. Để phát huy được vai trò của các chính sách quan trọng này thì cần phải thực hiện một số biện pháp như sau: (i) tăng cường năng lực quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản và xuất khẩu khoáng sản; (ii) theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường thế giới về khoáng sản để có những dự báo chính xác, kịp thời nhằm điều chỉnh các chính sách tài chính cho phù hợp; (iii) cần sớm ban hành cơ chế, chính sách về dự trữ khoáng sản phục vụ cho các lợi ích lâu dài của quốc gia.

1. Mở đầu

Khoáng sản là nguồn tài nguyên không tái tạo và có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Do đó, đòi hỏi các quốc gia cần phải có chiến lược sử dụng nguồn tài nguyên quý hiếm này một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Trong những năm vừa qua thế giới đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên khan hiếm này, nhiều loại khoáng sản được dự báo là có sẽ bị cạn kiệt trong thời gian gần [6] như: đồng, bạc, chì, vàng, niken, crom… Để ứng phó với những thách thức đang đặt ra về nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên này, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra các biện pháp như: tăng cường nhập khẩu và áp dụng các biện pháp hạn chế việc xuất khẩu các nguồn khoáng sản thô nhằm tăng cường dự trữ các nguồn lực này để phục vụ cho nhu cầu sản xuất ở cả hiện tại và tương lai. Trong đó, việc sử dụng các chính sách tài chính quan trọng như: thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu và các biện pháp khác để đạt được mục tiêu này [7].

Continue reading