HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

 LÊ THỊ HƯƠNG GIANG – BSH

PHẠM THỊ THÚY HẰNG – PTI

Trong Hợp đồng bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng thường có điều khoản loại trừ bảo hiểm. Bài viết dưới đây xin được nêu lên một số ý kiến về thực tiễn áp dụng, một số bất cập trong quy định pháp luật và các tranh chấp thường xảy ra liên quan đến điều khoản loại trừ bảo hiểm. Đồng thời cũng xin đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ. Continue reading

TRANH CHẤP BẢO HIỂM NHÂN THỌ: Gian dối trục lợi bảo hiểm, “tiền mất, tật mang”

TÂM LỤA – Báo Tuổi trẻ

Tháng 5/2020, vụ một bí thư xã ở huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông giết người đốt xác rồi mượn xác ngụy tạo cái chết giả để vợ con được hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ đã gây chấn động dư luận.

Thời gian qua, có hàng loạt vụ việc gian dối khi mua bảo hiểm nhân thọ để trục lợi như cố tình che giấu bệnh tật, không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ các thông tin sức khỏe… Nghiêm trọng hơn là những trường hợp chết do bệnh nhưng ngụy tạo hiện trường tai nạn, cố ý gây thương tích để được bồi thường. Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁP

 FABRICE BAUMGARTNER – Văn phòng Cleary Gottlieb, Paris, Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Pháp

Cho tới năm 1980, Thị trường chứng khoán Paris được quản lý bởi Hiệp hội môi giới chứng khoán là một thiết chế nắm độc quyền về niêm yết chứng khoán. Ngay từ đầu những năm 1980 và sau khi có sự phục hồi cạnh tranh giữa các thị trường giao dịch chứng khoán quốc tế, đặt ra vấn đề hiện đại hóa Thị trường chứng khoán Paris mà cho tới thời điểm đó vẫn hoạt động theo phương thức khớp lệnh bằng lời. Việc quản lý thị trường chứng khoán được giao cho Công ty chứng khoán Pháp (SBF). Sau này Công ty chứng khoán Pháp có tên là ParisBourse S.A. Hệ thống CAC (Khớp lệnh tập trung) được từng bước đưa vào sử dụng vào những năm 1986-1989 đã cho phép áp dụng phương thức khớp lệnh tập trung và giúp thị trường chứng khoán Paris có thể tồn tại trước sự de dọa của Thị trường chứng khoán Luân Đôn. Kể từ năm 1989, việc khớp lệnh đã được thực hiện hoàn toàn trên máy tính. Tiếp theo đợt tin học hóa này, nhiều cải cách liên quan tới các thiết chế đã được tiến hành như việc thay đổi địa vị của các nhân viên môi giới chứng khoán với việc thay thế họ bằng các công ty chứng khoán.

Continue reading

MỘT SỐ THUẬT NGỮ BẢO HIỂM HÀNG HẢI QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT HÀNG HẢI VIỆT NAM 2015 CẦN ĐƯỢC HƯỚNG DẪN HIỂU THỐNG NHẤT

  LS. NGUYỄN ĐỨC THẮNG – Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu

I. Một số khái niệm bảo hiểm hàng hải cần hướng dẫn hiểu thống nhất

1. Đoan kết “tàu đủ khả năng đi biển” (seaworthiness)

Tàu đủ khả năng đi biển là một đoan kết mặc nhiên của chủ tàu khi tham gia bảo hiểm. Điều 325.1a của Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh khi tàu biển không đủ khả năng an toàn đi biển. Vậy tiêu chí nào xác định tàu đủ khả năng đi biển?.

Tham khảo Luật Bảo hiểm hàng hải Anh quốc 1906: Điều 39.4 quy định “Tàu được coi là đủ khả năng đi biển khi nó thích ứng hợp lý về mọi phương diện để chịu đựng những hiểm hỏa biển cả thông thường của phiêu trình được bảo hiểm” (A ship is deemed to be seaworthy when she is reasonably fit in all respects to encounter the ordinary perils of the seas of the adventure insured).

Tính chất “thông thường” (ordinary) của hiểm họa biển cả không được ấn định một cách cụ thể cho mọi trường hợp. Tùy thuộc vào vùng biển để xác định hiểm họa nào là thông thường. Chẳng hạn, những vùng biển thường có bão tố, lốc xoáy, thời tiết xấu,… thì tàu nào đi vào vùng biển đó phải có thiết kế phù hợp để chịu đựng được các điều kiện thiên nhiên này. Như vậy, bão tố, lốc xoáy, thời tiết xấu cũng có thể là hiểm họa biển cả thông thường trong một số vùng biển nào đó. Hệ thống Common Law đo lường mức độ thích ứng hợp lý của tàu dựa trên việc liệu một chủ tàu cẩn trọng có đưa tàu ra biển với tình trạng tàu như thế hay không? Các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đi biển của tàu:

Continue reading

TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN – CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM VÀ KHUYẾN NGHỊ

 VŨ MAI CHI & TRẦN ANH QUÝ

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới.

1. Tổng quan về nợ xấu và kết quả xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam qua các giai đoạn

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới. Thuật ngữ “nợ xấu” đã trở thành chủ đề được đề cập đến tại nhiều nghiên ở các nước phát triển và các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến việc đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn rủi ro do nợ xấu mang lại, cũng như biện pháp hạn chế tỷ lệ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng – tài chính thông qua đề xuất… “Nợ xấu được hiểu là khoản nợ mà quá thời hạn thanh toán một số ngày nhất định mà người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng cho vay”, đây là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Nợ xấu vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, và tính hoàn trả đầy đủ, sau nữa, nó gây nên sự mất lòng tin của người cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng. Việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là vấn đề mà tất cả các NHTM trên thế giới phải đối mặt, nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng, sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do đó, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một công tác hết sức quan trọng tại các NHTM.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Mt s hn chế, vướng mc thường gp trong gii quyết tranh chp liên quan hp đồng tín dng

Qua thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp liên quan hợp đồng tín dụng, các Tòa án thường gặp một một số hạn chế, vướng mắc như sau:

Nhng hn chế, vướng mc do quy định ca pháp lut

V đánh giá giá tr ca tài sn hình thành trong tương lai

Theo quy định tại khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản hình thành trong tương lai bao gồm (1) tài sản chưa hình thành và (2) tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Việc pháp luật quy định cho phép thế chấp tài sản hình thành trong tương lai đã mở ra cơ hội cho thị trường giao dịch dân sự phát triển sôi động, tuy nhiên cũng dẫn tới hệ lụy khi giải quyết tranh chấp. Theo đó, hiện nay, trừ quyền sử dụng đất, nhà ở và các bất động sản khác, tuy đã hiện hữu từ nhiều năm nhưng vẫn có thể được xác định là tài sản hình thành trong tương lai do chưa hoàn thành giao dịch liên quan hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Tuy nhiên, đối với tài sản chưa hình thành trên thực tế vẫn được coi là tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thì Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc định giá, đánh giá giá trị tài sản, thậm chí có những tài sản khó có thể xác định được khi nào sẽ hình thành xong.

V xác định lut áp dng đối vi hp đồng thế chp liên quan tài sn hình thành trong tương lai

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÍN DỤNG VÀ CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÁC TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI TAND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THS. HOÀNG NGỌC THÀNH – Chánh tòa Tòa Kinh tế, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại về Hợp đồng tín dụng và các tranh chấp khác liên quan đến Ngân hàng tại TAND thành phố Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra có một số vấn đề trao đổi kinh nghiệm như sau:

I. V tranh chp Hp đồng tín dng

1. V Hp đồng tín dng (sau đây viết tt là HĐTD) có đầy đủ nhng đặc đim vn có ca mt hp đồng dân s nói chung. Tuy nhiên, vi bn cht đặc thù ca HĐTD, nên nó mang mt s đặc trưng riêng bit có th khái quát chung mà trong thc tin gii quyết các v án này chúng tôi xin lưu ý như sau:

a. Phân bit loi tranh chp dân s hay kinh doanh thương mi, do chủ thể một bên tham gia HĐTD luôn luôn là Ngân hàng hoặc các Tổ chức tài chính được phép kinh doanh tiền tệ (sau đây gọi chung là Tổ chức tín dụng và viết tắt là TCTD) và bên kia có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Do đó, phải có sự phân biệt về thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi thụ lý vụ án về kinh doanh thương mại hay vụ án dân sự. Sự phân biệt về thẩm quyền ở đây là về chủ thể và mục đích vay vốn. Nếu chủ thể vay vốn là cá nhân có đăng ký kinh doanh hoặc tổ chức có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án kinh doanh thương mại. Đối với những trường hợp cá nhân không có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn không có mục đích lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Về luật áp dụng đối với các tranh chấp HĐTD là như nhau. Tuy nhiên, trước đây TAND thành phố Hà Nội và VKSND tối cao có hai ý kiến khác nhau về việc giải quyết loại án này liên quan đến lãi suất khi giải quyết vụ tranh chấp dân sự về HĐTD.

Continue reading

Thực tiễn xét xử các vụ án kinh doanh thương mại VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI ĐÀ NẴNG

 LÊ TỰ – Chánh Tòa kinh tê, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

1. Nhng vướng mc và bt cp

a. V áp dng th tc t tng

Th nht, thủ tục, thời hạn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ở cấp tỉnh là kéo dài, gây khó khăn cho việc giải quyết, xử lý tài sản thế chấp nhằm thu hồi vốn vay. Xuất phát từ đặc thù thẩm quyền giải quyết các loại vụ việc có yếu tố nước ngoài bao gồm chủ yếu là đương sự ở nước ngoài, tài sản bảo đảm ở nước ngoài, quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án phải thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài và ấn định thời hạn tiến hành phiên họp hòa giải, phiên tòa phải theo qui định tại Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn cử, thời hạn ấn định phiên tòa không được sớm hơn 9 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Mặc dù Tòa án đã tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ phục vụ cho công tác giải quyết vụ án, nhưng phải chờ đến hạn luật định mới có thể tiến hành hòa giải hoặc xét xử. Việc giải quyết vụ án vì thế mà kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ đến tương quan giữa giá trị nợ gốc, lãi vay và giá trị tài sản bảo đảm vào thời điểm giải quyết bằng bản án, quyết định. Chưa kể, việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhằm tống đạt văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ hiện nay, đối với loại tranh chấp này, gần như không có kết quả, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án được toàn diện, bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Th hai, đương sự, chủ yếu là bên vay, người bảo lãnh, hoặc chủ sở hữu tài sản thế chấp thiếu hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, cố tình vắng mặt, trì hoãn các phiên họp hòa giải, phiên tòa cũng như các phiên làm việc theo triệu tập hợp lệ của Tòa án; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về tình trạng quản lý, sử dụng tài sản thế chấp; có người thứ ba liên quan. Trên thực tiễn, đương sự là cá nhân bỏ đi nơi khác sinh sống, có dấu hiệu trốn nợ, tổ chức thường xuyên thay đổi địa chỉ trụ sở, địa chỉ nơi cư trú không thể xác định được địa chỉ cụ thể.

Continue reading

Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. LÊ THANH PHONG – Chánh án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

I. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực ngân hàng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trong 6 tháng đầu năm 2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý (sơ thẩm, phúc thẩm) 3.110 vụ án dân sự[1] (bao gồm án cũ chuyển qua), trong đó án kinh doanh thương mại là 677 vụ. Trong năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý (sơ thẩm, phúc) 2.042 vụ án dân sự, trong đó án kinh doanh thương mại là 376 vụ. Trong tổng số các vụ án dân sự và kinh doanh thương mại mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết thì án có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng chiếm hơn 25% tổng số vụ việc.

Theo số liệu tham khảo tại trang web Wikipedia thì hiện nay trên cả nước có khoảng 102 ngân hàng, quỹ tín dụng; trong đó có đến 31 ngân hàng thương mại cổ phần, và 61 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và văn phòng đại diện.

Với những số liệu nêu trên cho thấy, các giao dịch về tín dụng và giao dịch liên quan đến lĩnh vực ngân hàng là rất đa dạng và phức tạp cả về chủ thể tham gia lẫn nội dung giao dịch. Do đó, tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực ngân hàng ngày gia tăng với nhiều nội dung khác nhau.

1. Một số loại tranh chấp hợp đồng tín dụng điển hình tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Continue reading

Một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

THS. NGUYỄN TUẤN VŨ – Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về tranh chấp bảo hiểm nhân thọ tại Tòa án như sau, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần đặc biệt lưu ý như sau:

1. Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện

Hình thức và nội dung đơn khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự. Một số Tòa án hiện nay thường không nắm vững tinh thần quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thường yêu cầu đương sự bổ sung nhiều giấy tờ không đúng như văn bản xác minh địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đúng.

V các tài liu np kèm theo đơn khi kin

– Đối với cá nhân: Phải có bản sao hợp lệ chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu; Sổ hộ khẩu gia đình hoặc xác nhận đăng ký tạm trú của công an phường, xã nơi đăng ký tạm trú.

– Đối với pháp nhân: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại thời điểm nộp đơn khởi kiện; Quyết định bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật; Điều lệ tổ chức và hoạt động; Giấy phép hoạt động (Đối với các ngành nghề kinh doanh có giấy phép riêng); Văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật cho người được ủy quyền; CMND hoặc hộ chiếu của người ủy quyền và người được ủy quyền.

– Đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh: Quyết định thành lập chi nhánh; Đăng ký kinh doanh chi nhánh; Quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh; Quy chế hoạt động của chi nhánh.

– Giấy chứng nhận bảo hiểm;

– Biên lai thu phí bảo hiểm; – Hồ sơ sự kiện bảo hiểm;

– Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng (nếu có);

– Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ (nếu có);

– Các công văn đòi nợ; Các công văn khất nợ, giãn nợ (nếu có);

– Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu phạt vi phạm, đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (nếu có).

Lưu ý: Khi thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nhiều Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự vì quá thời hiệu 03 năm quy định tại Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm “kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp” là không đúng với quy định tại Điều 184 và Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đề nghị tại Hội thảo ngày hôm nay, Tòa án nhân dân tối cao nên có Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất công tác xét xử các vụ án tranh chấp về bảo hiểm trong đó có quy định về thời hiệu.


TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY


SOURCE: Hội thảo “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ”, Tòa án nhân dân tối cao, Ngày 25/5/2018. Phú Quốc, Kiên Giang

MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

PHAN NGUYỄN DIỆP LAN – Trưởng Ban pháp lý BHNT Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Giám đốc pháp lý & tuân thủ Công ty BHNT Manulife

I. Các quy định đặc thù về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

1. Hp đồng bo him nhân th

1.1. Các quy định ca pháp lut

Bộ luật Dân sự năm 2005 có Chương XVIII về các hợp đồng dân sự thông dụng, Mục 11 về hợp đồng bảo hiểm bao gồm 19 điều. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 kể từ 01/01/2017 và không còn chương quy định riêng về hợp đồng bảo hiểm.

Luật Kinh doanh Bảo hiểm có Chương 2 quy định về hợp đồng bảo hiểm, bao gồm 19 điều quy định chung (từ Điều 12 đến Điều 30) và 9 điều quy định riêng cho hợp đồng bảo hiểm con người, trong đó có bảo hiểm nhân thọ (từ Điều 31 đến Điều 39).

Nghị Định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Kinh doanh Bảo hiểm.

Quyết định 35/2015/QĐ-TTg ban hành danh mục bổ sung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng mẫu.

Continue reading

NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ VƯỚNG MẮC CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÁC TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

NGUYỄN THÀNH LONG – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Căn cứ phản ánh của các Tổ chức tín dụng (TCTD) hội viên, Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng – Hiệp hội Ngân hàng xin báo cáo những khó khăn, vướng mắc của các TCTD trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án và kiến nghị, đề xuất như sau:

<p align="justify"><span style="color: rgb(128, 0, 0);"><b>Ph</b><b>ầ</b><b>n 1: Khó khăn, vư</b><b>ớ</b><b>ng m</b><b>ắ</b><b>c trong vi</b><b>ệ</b><b>c th</b><b>ự</b><b>c hi</b><b>ệ</b><b>n th</b><b>ủ</b><b> tục t</b><b>ố</b><b> tụng, gi</b><b>ả</b><b>i quy</b><b>ế</b><b>t tranh ch</b><b>ấ</b><b>p trong hoạt đ</b><b>ộ</b><b>ng ngân hàng và đ</b><b>ề</b><b> xu</b><b>ấ</b><b>t, ki</b><b>ế</b><b>n nghị</b></span></p>    <p align="justify"><b>I. Vư</b><b>ớ</b><b>ng m</b><b>ắ</b><b>c, b</b><b>ấ</b><b>t c</b><b>ậ</b><b>p c</b><b>ủ</b><b>a pháp lu</b><b>ậ</b><b>t </b></p>    <p align="justify"><b><i>1. </i></b><b><i>V</i></b><b><i>ề</i></b><b><i> vi</i></b><b><i>ệ</i></b><b><i>c gi</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>i quy</i></b><b><i>ế</i></b><b><i>t tranh ch</i></b><b><i>ấ</i></b><b><i>p v</i></b><b><i>ề</i></b><b><i> t</i></b><b><i>à</i></b><b><i>i s</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>n b</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>o </i></b><b><i>đ</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>m theo th</i></b><b><i>ủ</i></b><b><i> t</i></b><b><i>ụ</i></b><b><i>c rút gọn </i></b><i></i></p>    <p align="justify">Sau gần 01 năm kể từ ngày Nghị quyết 42/NQ-QH có hiệu lực thi hành, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn. Mặc dù vậy, đến nay tại các TCTD hầu như chưa có vụ việc nào được Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn. Thực trạng nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:</p><!--more--><p align="justify">(i) Nghị quyết 42/NQ-QH (Nghị quyết 42) cũng như nội dung hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 chỉ quy định, điều chỉnh về <i>(i) t</i><i>ranh ch</i><i>ấ</i><i>p v</i><i>ề</i><i> ngh</i><i>ĩ</i><i>a vụ giao tài s</i><i>ả</i><i>n b</i><i>ả</i><i>o đ</i><i>ả</i><i>m c</i><i>ủ</i><i>a kho</i><i>ả</i><i>n n</i><i>ợ</i><i> x</i><i>ấ</i><i>u</i><i>; và (ii) t</i><i>ranh ch</i><i>ấ</i><i>p v</i><i>ề</i><i> quy</i><i>ề</i><i>n x</i><i>ử</i><i> lý tài s</i><i>ả</i><i>n b</i><i>ả</i><i>o đ</i><i>ả</i><i>m c</i><i>ủ</i><i>a kho</i><i>ả</i><i>n n</i><i>ợ</i><i> x</i><i>ấ</i><i>u</i>. Trong khi đó quan hệ cho vay – quan hệ bảo đảm có sự liên quan mật thiết, thống nhất trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, thông thường khi xảy ra tranh chấp cần được giải quyết đồng thời. Vì vậy, trường hợp phải giải quyết tranh chấp về quan hệ tín dụng thì tranh chấp này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 42 và Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP;</p>    <p align="justify">(ii) Khoản 2, Điều 8 Nghị quyết 42 quy định <i>“Vi</i><i>ệ</i><i>c gi</i><i>ả</i><i>i quy</i><i>ế</i><i>t tranh ch</i><i>ấ</i><i>p quy định tại kho</i><i>ả</i><i>n 1 Đi</i><i>ề</i><i>u này đư</i><i>ợ</i><i>c th</i><i>ự</i><i>c hi</i><i>ệ</i><i>n theo th</i><i>ủ</i><i> tục rút gọn quy định tại B</i><i>ộ</i><i> lu</i><i>ậ</i><i>t T</i><i>ố</i><i> tụng dân s</i><i>ự</i><i>”</i>. Tuy nhiên, hiện nay các trường hợp loại trừ áp dụng thủ tục rút gọn tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (quy định cụ thể tại Điều 317) là rất rộng.</p>    <p align="justify">Từ các yếu tố pháp lý nêu trên dẫn đến việc: Khách hàng vay, bên bảo đảm đưa ra ý kiến không thống nhất/từ chối nghĩa vụ nợ, nghĩa vụ được bảo đảm, giá trị định giá TSBĐ, hoặc cố tình vắng mặt khỏi nơi cư trú... nhằm tạo ra các điều kiện không đáp ứng việc áp dụng thủ tục rút gọn để trốn tránh, trì hoãn thực hiện nghĩa vụ với TCTD. Đối với những trường hợp này, Thẩm phán được phân công giải quyết tranh chấp sẽ lựa chọn giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường để tránh phát sinh trách nhiệm liên quan.</p>    <p align="justify"><span style="font-size: xx-small;">… </span></p>        <hr />        <p align="justify"><strong><span style="color: rgb(255, 0, 0);">TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ <a title="Click để tra cứu tài liệu" href="https://phapluatdansu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/07/1f3f6-nguyen-thanh-long.pdf"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">TẠI ĐÂY</span></a> </span></strong></p>        <hr />        <p><b>SOURCE: HỘI THẢO “THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤ[ LIẾN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN”, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM, NGÀY 04/10/2019. HỘI AN, QUẢNG NAM.</b></p></b>

NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI TÒA ÁN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

clip_image002THS. LS. PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Phó ban pháp lý BHNT Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Trưởng phòng Pháp chế & tuân thủ Bảo Việt Nhân thọ

I. Nhng vưng mc trong gii quyết tranh chp v bo him nhân thọ

1. Trưng hp khách hàng vi phạm nghĩa vụ cung cp thông tin khi tham gia bo him

Như được đề cập trong nội dung Chuyên đề 1 “Những quy định đặc thù của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm”, việc kê khai thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực của Bên mua bảo hiểm đóng vai trò vô cùng quan trọng – là điều kiện tiên quyết để Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) chấp nhận bảo hiểm và cấp Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng. Theo đó, nếu khách hàng thực hiện đúng nghĩa vụ này, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, DNBH có nghĩa vụ chi trả quyền lợi bảo hiểm đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm. Ngược lại, nếu khách hàng che giấu thông tin, kê khai thông tin không đúng, không đầy đủ về tình trạng sức khỏe hay nghề nghiệp của người được bảo hiểm, sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định thẩm định, chấp nhận phát hành hợp đồng bảo hiểm (“HĐBH”), thì sau đó cho dù rủi ro xảy ra với khách hàng vì nguyên nhân gì, DNBH cũng không chi trả quyền lợi bảo hiểm như Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định.

Continue reading

KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA từ thực tiễn các vụ án có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm

 HOÀNG ANH – Giám đốc Ban Pháp chế & Kiểm tra nội bộ, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt

1. Bn án s 100/2016/KDTM-ST ngày 10/11/2016 ca TAND Qun 7 TP. HCM và Bn án s 204/2017/KDTM-PT ngày 02/3/2017 ca TAND TP. HCM

+ Tóm tt vụ án

– Bảo Việt ký Hợp đồng bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt với Công ty TNHH Master Chemical Việt Nam với số tiền bảo hiểm 165.500 USD cho hàng hóa của Master Chemical ký gửi tại 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM, thời hạn bảo hiểm từ 21/7/2012 đến 21/7/2013.

– Kho hàng tại 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM được ký gửi vào kho của Tiếp Vận Xanh theo Hợp đồng ký gửi hàng hóa vào kho bãi số 079/HĐ/TVX-12 ngày 17/4/2012.

– Ngày 28/11/2012 tại Kho 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM đã xảy ra vụ cháy hàng hóa của Master Chemical.

– Ngày 04/05/2013, Sở Cảnh sát phòng cháy chữa cháy TP. HCM đã ra Thông báo kết quả điều tra vụ cháy số 170/TB-PCCC-P11, trong đó đã kết luận nguyên nhân cháy: Continue reading

TÁCH BẠCH QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ QUAN HỆ CỔ ĐÔNG – BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG, QUYỀN TỰ DO KINH DOANH, QUYỀN TÀI SẢN

TS. VÕ TRÍ HẢO – Trọng tài viên VIAC, Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM

Các cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu công ty sẽ là cộng đồng cùng sở hữu thì toàn bộ khối “sản nghiệp” theo mô hình hình thức sở hữu chung theo phần. Điều này là không thể phủ nhận, bởi trong điều lệ, sổ cổ đông của mỗi công ty đều ghi rất rõ về tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ cổ phần và nguyên tắc định biểu quyết quan hệ sở hữu chung theo phần này.

1. Nghênh đón mô hình kinh doanh mới bằng tinh thần “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu” và học thuyết

Cách đây khoảng 5 thế kỷ, cư dân thành Venice đã nghĩ ra mô hình công ty cổ phần từ thế kỷ 14 và chính sáng kiến này đã biến Venice trở thành thương cảng giàu có nhất thế giới trong suốt hai trăm năm sau đó [1]. Cốt lõi của mô hình công ty cổ phần, TNHH, hợp danh… là sự tưởng tượng, sáng tạo ra khái niệm “pháp nhân” và gán cho tổ chức này quyền năng như thể một con người độc lập. Chính sự “độc lập” về tài sản và trách nhiệm này đã tạo ra một bức tường ngăn bảo vệ khối tài sản tiêu dùng của doanh nhân khỏi sự lây lan rủi ro từ hoạt động kinh doanh của thương nhân; mọi rủi ro kinh doanh chỉ giới hạn lại trong phạm phần vốn đã chuyển vào công ty. Công ty đóng vai trò như “hộp cát”, như “lưới an toàn” cho các thương nhân đầu tư vào các dự án mạo hiểm bên cạnh vô vàn các lợi thế khác của mô hình này mà tác giả không có dịp phân tích ở đây.

Cách đây 2 thế kỷ, người phương Đông vẫn chìm đắm mô hình “cá nhân” kinh doanh trộn lẫn với mô hình hukou kiểu Lã Bất Vi – mô hình mà rủi ro kinh doanh có thể phải bán vợ, đợ con và đi đến “khánh kiệt”. Sự chậm trễ đổi mới thể chế này góp phần biến Trung Quốc rộng lớn thời nhà Thanh lại bị khuất phục bởi sức mạnh kinh tế quân sự của những tiểu quốc (xét về phương diện dân số, diện tích) từ phương tây; Nga Sa Hoàng thua trận trước Nhật Bản vào 1903.

Continue reading

VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

VỤ PHÁP CHẾ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. V thế chp đ bo đm nghĩa vụ ca bên th ba

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Nội dung này trước đây khi Bộ luật Dân sự 2015 chưa ban hành, có hiệu lực, trên cơ sở thực tiễn một số bản án của TAND các cấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[1], Bộ Tư pháp[2] và Hiệp hội ngân hàng[3] cũng đã có ý kiến chính thức, phản ánh gửi đến TAND tối cao. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện tổng kết quy định của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận được phản ánh của một số TCTD [4]liên quan đến vấn đề này.

Theo đó, quy định về thế chấp tài sản tại Điều 317 Bộ luật dân sự 2015, Ðiều 342 Bộ luật Dân sự 2005 đã xác định bên thế chấp có quyền dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không hạn chế đó là nghĩa vụ của mình hay của người khác. Đồng thời, theo quy định tại Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015, bên bảo lãnh có thể sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình giải quyết tranh chấp của ngành Tòa án chưa có quan điểm thống nhất chấp nhận giao dịch bảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác (bên thứ ba); không chấp nhận giao dịch bảo đảm thế chấp, cầm cố mà coi là bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh. Thực tế thời gian qua một số Tòa án địa phương [5]đã có quan điểm Hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản của bên thứ ba là không đúng quy định của Bộ luật dân sự và tuyên hợp đồng này vô hiệu. Việc tòa án ra quyết định tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp là không phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp bằng QSDÐ của bên thứ ba và gây nên sự xáo trộn rất lớn trong đời sống xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, đồng thời có thể tạo ra một hoặc nhiều hệ quả pháp lý không mong muốn như sau:

Continue reading

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM – NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN –  Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm thì các vụ án tranh chấp về bảo hiểm ngày càng tăng về số lượng và mức độ phức tạp đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết các tranh chấp này. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án cho thấy pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nói chung cũng như quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm nói riêng cũng còn một số hạn chế, bất cập. Trong phạm vi bài tham luận này, tôi sẽ đưa ra một số vướng mắc điển hình trong quá trình giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm tại Tòa án và nêu một vài kiến nghị để trao đổi tại buổi Hội thảo này như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Để bảo đảm yêu cầu như đã đề cập ở trên, đối với pháp luật về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm hiện hành phải xem xét một số quy định cụ thể mà trong đó cần có sự quan tâm đặc biệt đến những quy định tồn tại mang tính bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động thương mại đặc biệt này. Những quy định này mang tính cá biệt hoá nội dung pháp luật kinh doanh bảo hiểm so với nội dung pháp luật về các hoạt động thương mại khác. Nguyên tắc bình đẳng-tự do-tự nguyện cam kết, thoả thuận được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì nội dung của hợp đồng là hoàn toàn do các bên quyết định và phụ thuộc vào ý chí của các bên, các quy định về nội dung hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự chỉ mang tính chất khuyến nghị các bên trong quan hệ hợp đồng thoả thuận để hạn chế được phần nào những tranh chấp, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 13 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) có quy định: …Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm…” là bắt buộc, không thể thiếu, buộc các phải ghi nhận trong hợp đồng.

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

LS. TRẦN THỊ CHI LAN –  Giám đốc Pháp lý Tổng công ty cổ phần Bảo Minh

Cùng với sự phát triển của ngành bảo hiểm ở nước ta trong những năm gần đây, các tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng có sự gia tăng đáng kể cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp. Kéo theo đó là sự tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập đối với các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh này. Điều này tất yếu dẫn đến sự áp dụng pháp luật không hiệu quả từ các chủ thể áp dụng pháp luật, chủ thể áp dụng các quy định pháp luật này thường xuyên trong quá trình giải quyết tranh chấp có thể kể đến là các cơ quan tài phán có thẩm quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực trạng trên gây ra nhiều khó khăn cho các chủ thể bị áp dụng pháp luật như doanh nghiệp bảo hiểm, các tổ chức/cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Một số tranh chấp phổ biến phải kể đến việc áp dụng và giải thích các quy định liên quan đến điều khoản, điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm (HĐBH)…

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đưa ra một số trường hợp điển hình để Hội thảo có cái nhìn toàn diện và có ý kiến đóng góp, với hy vọng Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) sẽ phân tích, đánh giá, tổng hợp để đưa ra đường lối xét xử đúng đắn và thống nhất trên cả nước đối với những vụ việc có tính chất tương tự.

Continue reading

BẢN TỔNG HỢP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ LĨNH VỰC BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tại Tòa án và nội dung các bài tham luận tại hội thảo, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (Tòa án nhân dân tối cao) tổng hợp một số nội dung vướng mắc, bất cập như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được hiểu là “các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền hoặc không phải bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra”. Quy định về điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” là quy định bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm (khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm) nhưng thực tế còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc, cụ thể như sau:

– Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ đề cập đến khái niệm, nguyên tắc và trường hợp ngoại lệ của điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” mà không quy định giới hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm khi xác định những trường hợp được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của mình. Điều này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng quy định về các trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” như một trong các công cụ để né tránh nghĩa vụ chi trả khoản tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về hậu quả pháp lý đối với những hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Do Luật này không quy định hậu quả pháp lý nên gây lúng túng cho các chủ thể trong hợp đồng và gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi không thoả thuận về điều khoản loại trừ. Thực tế hiện nay tồn tại hai quan điểm khác nhau về việc xác định hậu quả pháp lý khi hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: Continue reading