QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN

Image result for PERFORMERs RIGHTS HOÀNG HOA

Quyền của người biểu diễn là loại hình quyền được hầu hết luật pháp các quốc gia, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, tại Việt Nam do tính chất phức tạp của loại hình quyền này, cũng như do nhận thức của các chủ thể có liên quan còn hạn chế nên công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn gặp nhiều khó khăn. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn, các chủ thể liên quan mà trước hết là người biểu diễn cần nắm vững các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn, cũng như lý giải được tại sao pháp luật công nhận quyền của người biểu diễn và điều kiện để buổi biểu diễn được bảo hộ.

Khái niệm người biểu diễn

Một tác phẩm có thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất. Chính vì vậy, dù các hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn không ngừng gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển. Người biểu diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu giữ và phát triển các tác phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã công nhận và bảo hộ các quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.

Quy mô và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn lớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ những người trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn[1].

Continue reading

ĐÀM PHÁN VỚI MÃ LỆNH: HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ DIỆU THẢO

Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Xung đột pháp luật – Câu đố chưa có lời giải

Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từ hợp đồng thông minh.

Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thể được xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].

Continue reading

ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU ĐỂ XÁC ĐỊNH MỨC PHÍ LI-XĂNG TRONG CÁC GIAO DỊCH CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

 HOÀNG LAN PHƯƠNG – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt: Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu) đang là phương thức được sử dụng rộng rãi bởi hiệu quả kinh tế của nó. Khác chuyển quyền sử dụng các tài sản hữu hình, khi li-xăng nhãn hiệu thì trong cùng một thời điểm nhiều chủ thể khác nhau ở các lãnh thổ khác nhau đều có thể sử dụng được loại tài sản vô hình là nhãn hiệu. Tại Việt Nam, giá của nhãn hiệu được li-xăng cũng như phương thức thanh toán phí li-xăng hiện nay rất đa dạng bởi chưa có một quy định pháp luật cụ thể nào để định hướng cho các bên xác định mức phí li-xăng trong các hợp đồng li-xăng nhãn hiệu cho phù hợp. Do là một loại giao dịch dân sự nên việc xác định mức phí li-xăng trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu phụ thuộc vào ý chí của các bên. Do đó, xuất phát thực tiễn, để các bên tham gia thoả thuận li-xăng nhãn hiệu định giá được nhãn hiệu để xác định mức phí li-xăng hợp lý thì cần đòi hỏi năng lực của các bên tham gia thoả thuận và cũng cần có một hệ thống pháp luật quy định cụ thể và rõ ràng hơn về nguyên tắc, phương pháp và tiêu chí về định giá nhãn hiệu trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu.

1. Dẫn nhập

Là một trong các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), nhãn hiệu là đối tượng được các doanh nghiệp chú trọng trong việc bảo hộ và khai thác để tạo ra lợi nhuận. Một trong những phương thức khai thác giá trị kinh tế của nhãn hiệu tỏ ra hiệu quả nhất đó chính là việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Khác với việc chuyển quyền sử dụng các tài sản hữu hình, tại một thời điểm, chủ sở hữu của tài sản hữu hình chỉ có thể chuyển quyền sử dụng tài sản hữu hình đó cho một chủ thể khác thì đối với nhãn hiệu-một đối tượng của quyền SHTT, do đặc tính vô hình của chúng mà trong cùng một thời điểm chủ sở hữu có thể chuyển quyền sử dụng cho nhiều người sử dụng. Như vậy, trong cùng một thời điểm, cả chủ sở hữu và những người được chủ sở hữu cho phép đều có thể sử dụng nhãn hiệu. Ngoài ra, những người được chủ sở hữu cho phép có thể tiếp tục chuyển giao tiếp cho một hoặc những bên thứ ba khác sử dụng nhãn hiệu.

Continue reading

VỀ QUYỀN PHOTOCOPY TÁC PHẨM TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

THS. NGUYỄN NGỌC LÂM – Đại học Luật TP. HCM

THS. LÊ THỊ NAM GIANG – Đại học Luật TP. HCM

TS. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC – Đại học Luật TP. HCM

1. Đặt vấn đề

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, pháp luật quyền tác giả nói riêng là nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội. Một trong những lĩnh vực thể hiện rất rõ chính sách của Nhà nước trong việc thực hiện nguyên tắc này là lĩnh vực sao chép tác phẩm. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của một loạt các điều ước quốc tế đa phương, song phương quan trọng về quyền tác giả như: Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bản ghi âm của họ; Công ước về sự phổ biến các chương trình mang tín hiệu truyền qua vệ tinh; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định bản quyền Việt Nam – Thụy Sỹ… Gần đây nhất, ngày 11/01/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng ta đã cam kết thực hiện ngay các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Nước ta là một nước đang phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, nhưng nhu cầu về thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi tắt là tác phẩm), nhu cầu tiếp cận với tri thức của nhân loại là rất lớn, do vậy vấn đề được đặt ra là làm sao chúng ta thực hiện một cách hài hòa nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội để có thể đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của xã hội mà vẫn bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thực hiện các cam kết quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực sao chép tác phẩm. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn làm rõ một số vấn đề trong quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền photocopy tác phẩm phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong môi trường đào tạo đại học.

2. Các quy định pháp luật về photocopy tác phẩm

Trước tiên cần khẳng định rằng quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền này được bảo hộ cả từ góc độ pháp luật quốc tế, cả từ góc độ pháp luật quốc gia.

Continue reading

THỎA THUẬN BÁN KÈM TRONG HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ DƯỚI GÓC NHÌN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

BÙI THỊ HẰNG NGA Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế – luật, ĐH Quốc gia TPHCM

1. Đặt vấn đề

Dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT), việc đặt ra các quy định về bán kèm đôi khi là quy định cần thiết để quyết định xem bên chuyển giao có chấp nhận chuyển giao hay không chuyển giao các đối tượng SHTT (sở hữu công nghiệp). Bởi lẽ, hành vi bán kèm sẽ giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm chính thông qua việc đảm bảo chất lượng của nguyên vật liệu hoặc đảm bảo chất lượng thống nhất của dây chuyền, thiết bị thông qua đảm bảo chất lượng của từng thiết bị trong dây chuyền. Bên cạnh đó, thỏa thuận bán kèm hoặc chuyển giao cả gói cũng giúp cho chủ sở hữu quyền công nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận từ chính các phát minh, sáng tạo của mình. Điều đó giúp họ có động lực tốt hơn trong hoạt động đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo.

Tuy nhiên, dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh thì hành vi bán kèm có thể được xem là hành vi gây hạn chế cạnh tranh bởi (i) nó có thể hạn chế sự lựa chọn của người mua (người nhận chuyển giao) đối với sản phẩm được bán kèm (hay nói cách khác trong trường hợp này họ không có quyền quyết định đối với giá cả và chất lượng của sản phẩm được bán kèm đó); (ii) hành vi này sẽ làm cản trở sự gia nhập thị trường cũng như có thể loại bỏ sự cạnh tranh của các chủ thể đối với thị trường sản phẩm được bán kèm. Bởi vì, lúc này các giao dịch đối với sản phẩm đó không còn được thực hiện trên cơ sở cung cầu.

Rõ ràng với cách tiếp cận khác biệt như trên thì một thỏa thuận bán kèm có thể bị xem là thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh và mặc nhiên sẽ bị ngăn cấm, nhưng đôi lúc thỏa thuận ấy lại là đương nhiên và cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và quyền lợi của người tiêu dùng nói chung dưới góc độ tiếp cận của pháp luật về SHTT. Bởi lẽ, sự hợp tác giữa các nhà kinh doanh là điều tất yếu, cần thiết cho sự ổn định và phát triển của từng doanh nghiệp. Quyền tự do kinh doanh bao hàm trong nó cả quyền được liên kết, hợp tác phát triển. Sự thỏa thuận cho dù có làm giảm cạnh tranh giữa những bên tham gia, nhưng ở giới hạn nào đó nó lại là cơ sở để hình thành những liên kết kinh tế để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, hợp lực để nâng cao sức cạnh tranh trên một thị trường rộng lớn hơn. Những lý lẽ đưa ra để bảo hộ cho các thỏa thuận chủ yếu dựa vào những tác động tích cực của thỏa thuận đối với sự phát triển và đối với thị trường, đó là:

Continue reading

NGUYÊN DO CỦA VÒNG LUẨN QUẨN

ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia Sở hữu trí tuệ, Trọng tài viên VIAC

Theo tuyên bố ngày 11 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), từ tháng 10 năm 2017 VCPMC lại tiếp tục thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc tại các khách sạn trong cả nước, sau khi đã bị Cục Bản quyền tác giả buộc tạm dừng ngay việc thu tiền từ ngày 26 tháng 5 năm 2017.

Thông tin trên phương tiện đại chúng cho thấy Hiệp hội khách sạn Việt Nam, Hội khách sạn Đà Nẵng vẫn kiên quyết phản đối, từ chối nộp tiền và dư luận lại tiếp tục bức xúc.

Nếu không có gì đột biến xảy ra trong một hai ngày tới thì ‘vòng luẩn quẩn’ của vụ tranh chấp VCPMC-Khách sạn và cũng là vòng luẩn quẩn của các cuộc tranh cãi sẽ lại bước vào một chu kỳ mới, vì theo tuyên bố của Cục Bản quyền tác giả thì Cục sẽ lại ‘tuýt còi’ khi việc thu tiền của VCPMC gây ‘bức xúc’ trong dư luận.

Điều đáng chú ý là sau hơn 4 tháng kể từ khi cơ quan nhà nước quyết định tạm dừng thu tiền thì vụ việc gần như vẫn dẫm chân tại chỗ, nếu không nói là phức tạp hơn.

Cho đến thời điểm này, câu hỏi cốt lõi nhất của vấn đề thu tiền vẫn chưa được trả lời rõ ràng, dứt khoát, đó là dựa trên cơ sở pháp luật nào mà VCPMC có thể thu tiền và khách phải trả tiền (xem VTV1 90 PHÚT ĐỂ HIỂU 24-9-2017 tại http://vtv.vn/video/90-phut-de-hieu-24-9-2017-248819.htm; bài ‘Thu phí tác quyền âm nhạc qua tivi Chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng, cụ thể’, ngày 28 tháng 9 năm 2017 trên Báo điện tử ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN, tại http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=396143).

Continue reading

VỤ TRANH CHẤP “VCPMC – KHÁCH SẠN’ TRONG ‘VÒNG LUẨN QUẨN’

  ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia sở hữu trí tuệ, Trọng tài viên VIAC

Với tuyên bố ngày 11 tháng 9 năm 2017 của VCPMC về tiếp tục thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc trên TV lắp đặt trong phòng ngủ khách sạn từ tháng 10 năm 2017, vụ tranh chấp giữa Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) và một số khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng đã quay trở lại vạch xuất phát ngày 26 tháng 4 năm 2017 và bắt đầu đi vào vòng luẩn quẩn.

Chu kỳ xoay của vòng luẩn quẩn đi qua bốn điểm mốc chính: (i) VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền, (ii) khách sạn phản đối và dư luận bức xúc, (iii) cơ quan quản lý nhà nước "tuýt còi", (iv) VCPMC tạm dừng thu tiền, xử lý sự cố để được tiếp tục thu tiền.

Vòng thứ nhất đã kết thúc

Ngày 26 tháng 4 năm 2017, VCPMC gửi công văn yêu cầu các khách sạn ở Thành phố Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, với khoản tiền được tính bằng 25.000 đồng/năm nhân với số TV lắp đặt trong phòng ngủ khách sạn.

Ngay sau đó, trên phương tiện đại chúng một số khách sạn đã công khai phản đối yêu cầu trả tiền của VCPMC và tiếp tục việc sử dụng tác phẩm.

Những ngày tiếp theo, dư luận đã bầy tỏ sự quan tâm tới chủ đề tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc tại khách sạn, trong đó rất nhiều ý kiến tỏ ra bất bình và bức xúc trước yêu cầu của VCPMC.

Continue reading

MỘT “LỖI KỸ THUẬT” CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

 ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia Sở hữu trí tuệ, Trong tài viên VIAC

Gần đây, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc. VCPMC khẳng định cơ sở pháp luật là Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ có thực sự là cơ sở pháp luật để VCPMC thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc?

Cho đến nay, vụ việc vẫn đang trong tình trạng “treo”, bởi theo VCPMC, việc tổ chức này thu tiền sử dụng tác phẩm dựa trên Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), cụ thể là quy định về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng tại điểm b) khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Còn cơ quan quản lý nhà nước cũng khẳng định việc VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có cơ sở pháp luật, nhưng đó là Điều 33 Luật SHTT.

Việc khẳng định Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền kéo theo những hệ quả pháp lý quan trọng đối với các bên có liên quan.

Để khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật, cần phải chứng minh rằng hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc của khách sạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 33 Luật SHTT.

Khoản 1 Điều  33 Luật SHTT quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng" và khoản 2 Điều 33  quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại".

Continue reading

ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRÊN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

TS. VŨ TRƯỜNG SƠN & THS. LÊ VŨ TOÀN  – Trường Quản lý KH&CN – Bộ KH&CN

Phát triển thị trường công nghệ (TTCN) là một trong những định hướng chính của hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện nay. Trong đó, việc định giá công nghệ được xem là yếu tố quan trọng để khai thác, thương mại hóa và chuyển giao công nghệ (CGCN).

Việc xác định và định giá được công nghệ là căn cứ quan trọng cho cả bên giao công nghệ[1] lẫn bên nhận công nghệ[2] thực hiện thành công giao dịch công nghệ. Mặc dù vậy, cho đến nay việc vận dụng các văn bản/quy định hiện hành để định giá công nghệ còn nhiều khó khăn và vướng mắc trong thực tế. Trong bài viết này, các tác giả tập trung phân tích hiện trạng, chỉ ra một số bất cập trong áp dụng các quy định pháp luật để định giá công nghệ, qua đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm giải quyết vấn đề.

Hiện trạng khung pháp lý cho định giá công nghệ hiện nay

Luật KH&CN[3] (Điều 3.2) cũng như Luật CGCN[4] (Điều 3.2) đều định nghĩa: công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ theo định nghĩa này bao gồm: hoặc là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo công cụ, phương tiện; hoặc giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật không kèm theo công cụ, phương tiện. Do đó công nghệ có thể là tài sản vô hình (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) hoặc là cả tài sản vô hình và tài sản hữu hình (công cụ, phương tiện)[5].

Đối với hoạt động định giá nói chung, trong đó có định giá công nghệ thì phải tuân thủ các quy định của Luật Giá[6] và các nghị định, thông tư hướng dẫn, trong đó có hệ thống 13 tiêu chuẩn định giá Việt Nam. Tại Điều 21, Khoản 2 của Luật Giá quy định về phương pháp định giá, cụ thể: a) Bộ Tài chính quy định phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ; b) Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp định giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của mình.

Continue reading

SỬ DỤNG DIỄN ĐÀN INTERNET ĐỂ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ?

 ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia SHTT, Trọng tài viên VIAC

Mở đầu

Mục đích của bài viết này là trao đổi ý kiến về một số bất cập trong xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, thông qua khảo sát một vụ việc thực tế đang được dư luận quan tâm trong thời gian gần đây.

Những bất cập nêu trong bài viết được giới hạn trong giai đoạn trước tố tụng, vì đương sự chưa yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hoặc khởi kiện ra tòa án.

Bài viết dựa trên thông tin, tư liệu công khai trên phương tiện đại chúng trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2017.    

Tóm tắt sự việc

Gần đây (tháng 4 năm 2017), đã xảy ra một vụ việc thu hút sự chú ý của dư luận, thậm chí đã được đưa ra phiên chất vấn ngày 13 tháng 6 năm 2017 tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV.

‘Sự cố" xảy ra khi Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc theo quy định tại Điều 20 Luật SHTT và Điều 23 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP (được sửa đổi theo Nghị định số 85/2009/NĐ-CP), với mức tiền tính theo số TV lắp đặt tại các phòng ngủ, nhưng một số khách sạn đã từ chối trả tiền cho VCPMC trong khi vẫn tiếp tục việc sử dụng.

Continue reading

KHÔNG ÁP DỤNG ĐIỀU 20 LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ THÌ TÁC GIẢ TRẮNG TAY

 ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia SHTT, Trọng tài viên VIAC

Mở đầu

Bài viết “Thực hư việc áp dụng Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ” đã khảo sát quy định của Điều 33 Luật SHTT và khẳng định rằng Điều 33 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp giữa Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) và một số khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng. Việc đề cập vai trò của Điều 33 Luật SHTT trong vụ tranh chấp chỉ để rộng đường dư luận nhằm đáp lại ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật, vì đương nhiên Điều 33 Luật SHTT không thể là cơ sở pháp luật.

Theo nguyên tắc quan hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan thì sự bảo hộ đối với quyền liên quan phải giữ nguyên vẹn (hoặc bảo toàn) sự bảo hộ đối với quyền tác giả và do đó không một quy định nào về quyền liên quan được giải thích hoặc áp dụng theo cách thức có thể gây tổn hại cho sự bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm.       

Tương tự như vậy, cũng để rộng đường dư luận, bài viết này đề cập vai trò của Điều 20 Luật SHTT còn thực ra Điều 20 Luật SHTT đương nhiên là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.

Điều 20 Luật SHTT đương nhiên là cơ sở pháp luật vì lý do đơn giản sau đây:

Continue reading

THỰC HƯ VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 33 LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia SHTT, Trọng tài viên VIAC

Mở đầu

Gần đây, đã xảy ra một vụ việc thu hút sự chú ý của dư luận, thậm chí đã được đưa ra phiên chất vấn ngày 13 tháng 6 năm 2017 tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV. Đó là việc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, nhưng yêu cầu đã bị một số khách sạn phản đối. Cho đến nay, vụ việc vẫn đang trong tình trạng ‘treo’, VCPMC phải tạm dừng thu tiền để hoàn tất một số công việc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

VCPMC khẳng định cơ sở pháp luật để yêu cầu khách sạn trả tiền là Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), cụ thể là quy định về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng tại điểm b) khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, với mức thu bằng 25.000 đồng/năm nhân với số TV lắp đặt trong phòng ngủ khách sạn. 

Cơ quan quản lý nhà nước cũng khẳng định việc VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có cơ sở pháp luật, đó là Điều 33 Luật SHTT.

Như vậy, hiện đang có ít nhất là hai ý kiến khác nhau về cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền, một ý kiến khẳng định đó là Điều 20 Luật SHTT và một ý kiến khẳng định đó là Điều 33 Luật SHTT.

Sự khác biệt ý kiến về cơ sở pháp luật đặt ra một vấn đề rộng hơn vấn đề cụ thể của vụ tranh chấp, đó là giải thícháp dụng một số quy định của pháp luật, cụ thể là quy định tại Điều 20 và Điều 33 Luật SHTT.

Continue reading

THỰC THI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM – MƯỜI NĂM NHÌN LẠI

 ĐỖ THỊ MINH THỦY – Thanh tra Bộ KH&CN

Đặt vấn đề:

Hơn 10 năm trước đây, ngày 01/7/2006, Luât sở hữu trí tuệ đầu tiên của Việt Nam (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005) chính thức có hiệu lực. Luật sở hữu trí tuệ 2005 với ý nghĩa là văn bản luật trong lĩnh vực hết sức chuyên biệt đã ghi nhận sự nỗ lực vượt bậc của các nhà lập pháp và các chuyên gia trong lĩnh vực, tạo môi trường pháp lý lành mạnh để bảo hộ và khai thác có hiệu quả các tài sản sở hữu trí tuệ trong điều kiện hội nhập. Mười năm nhìn lại, những thành quả và đóng góp của Luật sở hữu trí tuệ 2005 với sự phát triển của kinh tế đất nước là vô cùng to lớn và rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đời sống kinh tế xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng. Cũng như đại đa số các văn bản pháp luật khác, Luật SHTT 2005 mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh hạn chế của các quy định về thực thi và giải quyết tranh chấp quyền SHTT theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản có liên quan.

1. Khái quát chung:

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 không có quy định riêng về cơ chế giải quyết tranh chấp quyền SHTT. Theo Điều 198 Luật này, khi có cơ sở để cho rằng đối tượng SHTT được bảo hộ đang bị xâm phạm bởi một tổ chức/cá nhân nào đó, chủ sở hữu đối tượng SHTT có thể tiến hành các biện pháp thực thi quyền đối với đối tượng được bảo hộ. Cụ thể là, chủ sở hữu đối tượng SHTT có quyền: (i) áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm; (ii) yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; (iii) yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm; và (iv) khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Continue reading

TRANH CHẤP BẢO HIỂM TẠI BẢO MINH: TRANH CÃI VỀ HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG

 HÀ LINH – Đầu Tư Chứng Khoán

Liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng với Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị (bên mua bảo hiểm) cho rằng, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực vì chưa đóng phí, chưa xác nhận nợ.

Được biết, ngày 19/5/2012, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị mua gói bảo hiểm rủi ro xây dựng công trình, trị giá 124 triệu đồng với Bảo Minh. Do khách hàng không đóng phí bảo hiểm, Bảo Minh nộp đơn khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). 

Ngày 12/4/2016, VIAC ra phán quyết tuyên buộc Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho Bảo Minh số tiền 124 triệu đồng. Không đồng tình, Trường đã kháng án lên Hội đồng xét đơn – Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị hủy phán quyết trên. Bên mua bảo hiểm cho rằng, phán quyết trên vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, viện dẫn Điều 15, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi năm 2010, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị cho rằng, hợp đồng chỉ có giá trị khi đã đóng phí, trừ trường hợp thỏa thuận xác nhận nợ. Trường chưa nhận được văn bản xác nhận nợ nên hợp đồng chưa có hiệu lực. Do đó, bị đơn không thuộc các trường hợp luật đã quy định như trên nên không nợ phí bảo hiểm.

Bị đơn còn đưa ra 2 lý lẽ khác. Thứ nhất, văn bản thu phí của Bảo Minh có nội dung “hợp đồng không có hiệu lực khi không đóng đủ phí theo quy định”.

Thứ hai, trong hợp đồng có điều khoản thể hiện, phí bảo hiểm được thanh toán bằng tiền VND, đưa trực tiếp hoặc chuyển khoản cho Bảo Minh trong vòng 30 ngày kể từ ngày Trường được cấp phát vốn. Theo Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị, điều khoản này chỉ là phương thức thanh toán giữa các bên, không phải là xác nhận nợ.

Continue reading

LUẬT SỐ 729 NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 1960 CỦA VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN (Sửa đổi, bổ sung ngày 1 tháng 4 năm 2000) VỀ QUYỀN TÁC GIẢ TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT

Chương I

Đối tượng và phạm vi bảo hộ

Điều 1: Bất kỳ người nào sáng tạo ra tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, bất kể đó là:

1.Sự thể hiện mang tính hư cấu hoặc miêu tả trong bài viết hoặc bài nói;

2.Chương trình máy tính;

3.Tác phẩm âm nhạc hoặc tác phẩm kịch;

4.Tác phẩm điện ảnh;

5.Tác phẩm nhiếp ảnh hoặc các tác phẩm mỹ thuật khác;

6.Tác phẩm kiến trúc hoặc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng;

7.Tác phẩm được thể hiện dưới hình thức khác.

Bản đồ và những loại tác phẩm thiết kế mang tính mô tả khác như bản vẽ, trạm trổ, hoặc hình thức không gian ba chiều cũng được coi là tác phẩm văn học.

Những điều được quy định trong luật này liên quan đến chương trình máy tính sẽ được áp dụng với những sửa đổi thích hợp cho những tài liệu dự phòng của chương trình máy tính.

Điều 2.

Với những giới hạn được nêu dưới đây, quyền tác giả bao gồm quyền độc quyền kiểm soát việc sao chép và cung cấp bản gốc hoặc bản sửa đổi của tác phẩm tới công chúng, việc dịch và cải biên chuyển thể tác phẩm sang loại hình văn học hoặc nghệ thuật khác, hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật khác.

Continue reading

TỪ CHỐI CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

Kết quả hình ảnh cho Intellectual property rights and competition law  BÙI THỊ HẰNG NGA – Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Luật Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Quyền SHTT nói chung đã từ lâu được coi là một dạng sở hữu tư nhân. Thông qua các văn bằng bảo hộ được cấp cho các đối tượng SHTT, pháp luật công nhận cho chủ sở hữu quyền SHTT có vị trí độc quyền trong việc sử dụng đối tượng SHTT để bồi hoàn công sức, chi phí mà họ đã bỏ ra và thu lợi nhuận, kể cả hành vi từ chối chuyển giao (cấp phép) quyền SHTT. Việc từ chối chuyển giao quyền SHTT được công nhận dựa trên ba yếu tố: (i) quyền tự do lựa chọn đối tác kinh doanh và định đoạt đối với tài sản của mình; (ii) nghĩa vụ bắt buộc chuyển giao áp dụng trong mọi trường hợp sẽ làm suy yếu (phá bỏ) động cơ đầu tư và sáng tạo; (iii) Tòa án sẽ không là cơ quan thực thi pháp luật khi nghĩa vụ chuyển giao được áp đặt một cách thường xuyên.

Nói cách khác, từ chối chuyển giao quyền SHTT phải được thừa nhận như một trong những quyền cơ bản, cốt lõi của chủ sở hữu quyền SHTT. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp cụ thể, chủ thể nắm giữ quyền SHTT có thể lạm dụng điều này để tác động xấu đến môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng. Nếu điều đó xảy ra, chủ sở hữu có thể bị tước bỏ quyền này (đổi lại, họ bị bắt buộc phải chuyển giao). Bởi lẽ, trong trường hợp này, khi mục đích hành động nhằm tạo dựng vị thế độc quyền hoặc nhằm duy trì vị thế độc quyền trên thị trường liên quan, bóp méo môi trường cạnh tranh và xâm hại quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, hành vi từ chối chuyển giao quyền SHTT cho bên thứ ba có thể bị xem là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc luật chống độc quyền.

Tuy nhiên, các trường hợp nêu trên được xem là các trường hợp ngoại lệ thay vì quy định của pháp luật, do đó, nó phải được xem xét, quyết định bởi Tòa án, Cục SHTT và Cơ quan quản lý cạnh tranh. Bởi lẽ, việc xử phạt hành vi từ chối chuyển giao một cách cứng nhắc mà không tính đến các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể sẽ dẫn đến nguy cơ loại trừ động lực đầu tư, sáng tạo của các chủ thể. Điều này không chỉ gây hại cho lợi ích của người tiêu dùng mà còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh, đi ngược lại mục đích của pháp luật cạnh tranh.

Continue reading

LUẬT BẢN QUYỀN TÁC GIẢ CỦA NHẬT BẢN (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho Copyright Law of JapanPhần 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Chương 1.  Những nguyên tắc căn bản

(Mục đích)

Điều 1. Luật này qui định quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm cũng như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, phát sóng hoặc truyền đạt bằng phương tiện hữu tuyến, quan tâm chú ý đến việc sử dụng khai thác các tài sản văn hóa này một cách công bình hợp lý để có thể bảo vệ quyền lợi của tác giả.v.v…nhằm đóng góp vào sự phát triển văn hóa.

(Định nghĩa)

Điều 2. Trong Luật này, thuật ngữ sử dụng trong các điều khoản được giải thích theo các điểm sau đây.

1. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo biểu hiện tư tưởng tình cảm thuộc thể loại văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật hoặc âm nhạc.

2. Tác giả là người sáng tác ra tác phẩm.

3. Biểu diễn là thể hiện một tác phẩm trên sân khấu bằng kịch, múa, hát, diễn tấu âm nhạc, ngâm đọc hoặc bằng các phương pháp trình diễn khác (bao gồm các hành vi tương tự dù không phải là diễn xuất nhưng mang tính chất nghệ thuật giải trí).

4. Người biểu diễn là diễn viên, diễn viên múa, nghệ sĩ trình tấu âm nhạc, ca sĩ, hoặc các loại biểu diễn khác cũng như người điều khiển, đạo diễn của cuộc biểu diễn.

5. Bản ghi âm là vật thể trên đó âm thanh được định hình như đĩa, băng thu âm hoặc các dạng bản ghi khác (không bao gồm các âm thanh được ghi kèm theo các tác phẩm có mục đích sử dụng chủ yếu là hình ảnh).

6. Người sản xuất bản ghi âm là người đầu tiên định hình âm thanh trên bản ghi âm.

7. Bản ghi âm thương mại là các bản ghi âm sao chép được sản xuất với mục đích thương mại.

Continue reading

LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho THE COPYRIGHT LAW OF THE UNITED STATESChương 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ

101. Định nghĩa

102. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quy định chung

103. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm hợp tuyển và phái sinh

104. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quốc gia gốc

104A. Quyền tác giả đối với tác phẩm phục hồi bảo hộ quyền tác giả

105. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm thuộc sở hữu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

106. Các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ

106A. Các quyền của tác giả đối với việc nêu nguồn gốc và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

107. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý

108. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: tái bản bởi các viện lưu trữ và thư viện

109. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển nhượng các bản sao hoặc các bản ghi

110. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ngoại lệ đối với một số hoạt động trình diễn và trình bày

111. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp

112. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các bản ghi thử

113. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả đối với các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc

114. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm âm nhạc

115. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm nhạc kịch: giấy phép bắt buộc đối với việc phân phối và làm bản ghi

116. Giấy phép thoả thuận đối với các hoạt động biểu diễn công cộng thông qua hệ thống máy hát vận hành bằng tiền xu

117. Phạm vi các quyền độc quyền: sử dụng kết hợp với máy tính và hệ thống thông tin tương tự

118. Phạm vi các quyền độc quyền: vấn đề sử dụng một số tác phẩm trong phát sóng phi thương mại

119. Hạn chế các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp từ trạm phát trung tâm hoặc trạm chủ tới các máy thu hình cá nhân đặt tại các gia đình

120. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm kiến trúc

121. Giới hạn các quyền độc quyền: tái bản cho người mù hoặc những người tàn tật khác

Điều 101: Định nghĩa

Ngoại trừ các quy định khác

, các thuật ngữ và hình thức thể hiện khác của nó được sử dụng trong Điều luật này được hiểu như sau:

Continue reading

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG BẢO HỘ và thực thi quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam

NGUYỄN NHƯ QUỲNH– Phó Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

Ở các nước phát triển, cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) liên tục được củng cố và phát triển do nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng cũng như vai trò của NHNT trong hệ thống thương mại quốc tế, tuy nhiên vấn đề này vẫn còn khá mới ở Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả nêu những bất cập và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong bảo hộ và thực thi quyền đối với NHNT ở Việt Nam.

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc trong mọi mặt của đời sống, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, sau khi Việt Nam[H1]  thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần (năm 1986) và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1987), nhiều doanh nghiệp đa quốc gia với những NHNT bắt đầu chính thức có mặt ở Việt Nam. Coca-Cola – nhãn hiệu đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu hiện nay[H2] , với giá trị 73,102 triệu USD[1] (được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1960) chính thức thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam từ tháng 8/1995 (Coca-Cola Indochina Pte Company). Toyota – nhãn hiệu đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu hiện nay, với giá trị 53,580 triệu USD[2], chính thức thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam từ năm 1997.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập mạnh mẽ, những hàng hoá, dịch vụ gắn NHNT có mặt nhiều hơn trên thị trường Việt Nam. Apple (đứng đầu trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu với giá trị 178,119 triệu USD)[3], Google, Microsoft, IBM, Samsung, Nike, BMW, Ikea… dần trở nên quen thuộc với người tiêu dùng nước ta. Đồng thời, với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước, nhiều nhãn hiệu Việt cũng dần chứng minh được uy tín, danh tiếng, sự đảm bảo về chất lượng như Vinamilk, Vinacafe, Petrolimex…

Continue reading