DOANH NGHIỆP VÀ THƯƠNG HIỆU

RICHARD MOORE ASSOCIATES

1. Thương hiệu là gì?

Tại Mỹ, thuật ngữ “thương hiệu” được dùng hiện nay có nguồn gốc từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong khoảng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, từ “thương” trong “thương hiệu” được biết đến rộng rãi với ý nghĩa liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, theo Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, nguồn gốc tiếng Hán của từ này có nghĩa là “san sẻ, bàn tính, đắn đo cùng nhau”, một nét nghĩa có lẽ phù hợp hơn với giá trị của thương hiệu đối với doanh nghiệp.
Giá trị hơn vẫn là cách thức mà một thương hiệu mạnh liên hệ về mặt cảm xúc với khách hàng thông qua các mối liên tưởng khác nhau.
Để giải thích về thương hiệu, hãy thử nghĩ tới bạn bè xung quanh và những mối quan hệ công việc mà bạn có. Nếu họ có chút gì đó giống với các mối quan hệ quen biết của tôi, thì bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng, tất cả họ đều khác nhau, mỗi người có những nét tính cách riêng, đó là chưa kể đến đặc điểm khác biệt về ngoại hình. Và cũng như tôi, có lẽ bạn cũng đã tạo dựng mối quan hệ với từng người trong số đó theo những cách thức khác nhau.
Thương hiệu cũng rất giống với những người quen mà bạn vừa nghĩ đến. Đằng sau mỗi logo là một thói quen hành xử mà bạn thấy có thể chấp nhận được hay thậm chí bạn rất ưa thích. Giống như các mối quan hệ, thương hiệu thường trở nên đáng ưa trong mắt bạn chỉ khi chúng phù hợp tương ứng với nhu cầu trong cuộc sống của bạn và giữ được điều đó nhất quán cùng với thời gian.
Tôi nhận thấy, việc nghĩ về thương hiệu như thể đó là một con người sẽ rất hiệu quả, bởi điều này giúp chúng ta hiểu rõ cách thức hoạt động của thương hiệu. Thậm chí, ngay cả sau khi đã trải qua hơn 30 năm giúp các doanh nghiệp phát triển thương hiệu, tôi vẫn nhận thấy có những điểm tương đồng mới giữa thương hiệu và con người. Giống như con người, thương hiệu được hỗ trợ bởi một tính cách được phối hợp tổng hòa, bởi đặc tính hoạt động tin cậy và hiển thị rõ nhất là nhờ có diện mạo đẹp. Hơn nữa, cũng giống như con người, lý do mạnh mẽ nhất khiến chúng ta xây dựng các mối quan hệ lâu dài với thương hiệu chính là yếu tố cảm xúc.
Câu nói “Hãy cho tôi biết bạn bè của bạn, tôi sẽ cho biết bạn là người như thế nào” đúng trong mối quan hệ của chúng ta với thương hiệu cũng như với bạn bè và các mối quen biết khác. Một người đàn ông có thể hút thuốc Marlboro, đi xe Mercedes Benz và dùng điện thoại iPhone không chỉ vì những đặc tính riêng của những sản phẩm đó, mà còn vì muốn thể hiện cho người khác thấy anh ta là người như thế nào.
Dĩ nhiên, thương hiệu không phải là con người. Đó là tập hợp những gì con người tạo ra, nhằm thực hiện một hành vi mang tính xã hội mà chúng ta gọi là “kinh doanh”. Và khi công việc kinh doanh phát triển và lớn rộng, bên cạnh những kỹ năng liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt, doanh nghiệp còn phải tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, thiết lập công tác bán hàng và xây dựng hệ thống phân phối sao cho trôi chảy, kế đến là tiếp cận các đối tượng khách hàng mục tiêu với các chiến lược marketing và truyền thông sao cho hiệu quả.
Khi tất cả những hoạt động này được phối hợp nhuần nhuyễn, hỗ trợ lẫn nhau và việc kết hợp các hoạt động này mang lại kết quả là một đơn vị độc đáo khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, lúc này chúng ta có được một thương hiệu mạnh.

2. Khác biệt hóa thương hiệu

Nếu bạn có khả năng đặc biệt và có thể vận dụng khả năng của mình một cách hữu ích, bạn đã tạo được lợi thế riêng trong cuộc sống. Đối với thương hiệu cũng vậy, do đó cần phải chăm chút để tạo sự khác biệt cho thương hiệu. Con người chúng ta khác biệt nhờ yếu tố di truyền, môi trường và bởi những sự lựa chọn mà chúng ta quyết định.

Đối với thương hiệu, hai yếu tố sau là những yếu tố mà chúng ta cần chú trọng, đó là môi trường kinh doanh cụ thể trong phân khúc thị trường mà doanh nghiệp cạnh tranh và sự lựa chọn của doanh nghiệp đối với việc sẽ tiếp thị sản phẩm của mình như thế nào trong phân khúc thị trường đó.

Continue reading

THỰC THI BẢN QUYỀN: VẪN LÀ CHUYỆN DÀI

QUỲNH TRANG

Khoảng 80%-90% bản ghi lưu hành trên các trang web mà không hề xin phép.

Hôm qua (23-4), tại TP.HCM, Thanh tra Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã tổ chức hội nghị bàn tròn nhằm trao đổi thông tin về công tác quản lý và thực thi quyền tác giả, quyền liên quan giữa: Cơ quan quản lý nhà nước (Thanh tra Bộ, Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam) với các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan (Hiệp hội Công nghiệp ghi âm – RIAV, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam – VCPMC, Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam – VLCC) và các tổ chức khai thác, sử dụng tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, văn học và chương trình phát sóng trên Internet.

Đây là một trong những hoạt động thực hiện Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31-12-2008 của Thủ tướng về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.

Ngang nhiên vi phạm!

Ông Đinh Trung Cẩn, Giám đốc phía Nam của VCPMC, cho biết: “Hiện tại chỉ có 19 trang web âm nhạc trực tuyến có ký sử dụng các tác phẩm âm nhạc với chúng tôi. Còn hơn 100 trang web khác chưa hề có ý kiến của chúng tôi nhưng vẫn hoạt động, trong đó khoảng 50 trang web có máy chủ đặt ở nước ngoài”. Những trường hợp máy chủ đặt ở nước ngoài thì VCPMC lẫn cơ quan quản lý cũng đành chịu thua. Thế nhưng ngay cả những đơn vị mà VCPMC biết vi phạm và biết nơi để đòi tiền nhưng VCPMC vẫn phải chịu lép. Như một số trang web chỉ ký sử dụng 100 tác phẩm với VCPMC nhưng thực tế lại tải lên 3.000-4.000 tác phẩm.

Ở lĩnh vực đầu số, với dịch vụ tải nhạc chuông, nhạc chờ… thông qua các cơ quan truyền thông, đài phát thanh, truyền hình với gần 40 đơn vị, chỉ có 22 đơn vị chịu thực thi bản quyền tác giả. “17 đơn vị còn lại không chịu thực hiện do các cơ quan truyền thông, đài phát thanh truyền hình bao che. Tôi khẳng định có sự ăn chia giữa các đơn vị” – ông Cẩn bức xúc.

Các sản phẩm bản ghi âm, ghi hình thuộc quản lý của RIAV cũng ngang nhiên bị vi phạm. Khoảng 80%-90% bản ghi lưu hành trên các trang web không hề xin phép. Ông Cẩn cho rằng việc các trang web không xin phép vẫn tải nhạc lên mạng không nguy hiểm bằng việc các thành viên của trang web lấy nhạc về rồi chế lời mới. Khi phía VCPMC liên lạc với chủ các trang web này thì nhận được trả lời rằng việc chế lời không thuộc quản lý của họ bởi họ không thể quản lý tất cả thành viên!

Continue reading

TRANH GIẢ, TRANH CHÉP VÀ VẤN ĐỀ BẢN QUYỀN MỸ THUẬT

PHAN CẨM THƯỢNG

Tình hình tranh giả, tranh chép, tranh nhái theo một phong cách nào đó diễn ra rất phức tạp trong vòng hơn 25 năm qua, khiến các họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền không có cách gì  bảo vệ được mình. Một phần do chính các họa sỹ có lúc thấy bức tranh nào bán được thì cứ thản nhiên chép lại, hoặc thay đổi rất ít, khiến phong cách của họ trở nên nhàm chán và dễ bắt chước.

Bảo tàng cần phải là nơi chuẩn mực cho việc bảo vệ bản quyền

Trước đây tôi đã nhiều lần bày tỏ những nghi ngờ của mình về tính chân bản của một số tác phẩm hội họa treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nghi ngờ vì trình độ vẽ của những bức tranh được gọi là của danh họa đó rất non yếu, đến mức hoặc phải khẳng định rằng đó là tranh chép lại, hoặc nếu đúng là của họa sỹ vẽ ra thì cũng chưa đáng giá. Rất nhiều người trong nghề và khán giả nước ngoài đều có cảm nhận như vậy, và ngoài việc thất vọng, không có cách gì khác.

Do chiến tranh, có thời Bảo tàng Mỹ thuật đã phải đưa nhiều tác phẩm đi sơ tán và treo những phiên bản. Những phiên bản thời đó khá tốt, vì hoặc do chính tác giả sao lại, hoặc do một họa sỹ giỏi khác làm, nhưng hội họa luôn là độc bản, sự sao chép dù tốt đến đâu cũng không thay thế được chân bản.

Thật giả trở nên lẫn lộn, cứ thế kéo dài cho đến bây giờ, càng ngày càng thấy tệ hơn, và dường như tới mức không thể xác định được thật giả nữa. Trong lưu trữ của gia đình ông Đức Minh vẫn còn biên bản về việc Bảo tàng Mỹ thuật xin phép sao lại 13 bức tranh thuộc quyền sở hữu của ông. Nhân đó, ông Đức Minh cũng nhờ họa sỹ Nguyễn Tư Nghiêm vẽ lại cho mình bức Con nghé quả thực, nhưng là một người hiểu biết, Nguyễn Tư Nghiêm đã vẽ kích thước to hơn, lộn ngược lại bố cục và vẽ theo bút pháp những năm 1970.

Gần đây, khi nghiên cứu ký họa và phác thảo của các họa sỹ, tôi càng thấy sự khác biệt vô cùng giữa công việc của họa sỹ với bức tranh treo ở bảo tàng. Trình độ của ký họa và phác thảo là mười, thì bức tranh thể hiện chỉ là một, thậm chí rất ngô nghê.

Trên đây là một ý kiến hoàn toàn cá nhân, cần có những nghiên cứu khác bổ sung, nhưng thiết nghĩ bảo tàng cần phải là nơi chuẩn mực cho việc bảo vệ bản quyền, nhất là trong thời đại hiện nay.

Họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền

Tình hình tranh giả, tranh chép, tranh nhái theo một phong cách nào đó diễn ra rất phức tạp, ít nhất là trong vòng 25 năm qua, khiến các họa sỹ tuyệt vọng về vấn đề bản quyền, không có cách gì bảo vệ được mình. Một phần do chính các họa sỹ có lúc thấy bức tranh nào bán được thì cứ thản nhiên chép lại, hoặc thay đổi rất ít, khiến phong cách của họ trở nên nhàm chán và dễ bắt chước.

Continue reading

XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU TRONG MỘT THẾ GIỚI BIẾN ĐỔI

THANH PHƯƠNG

Trong khuôn khổ Chương trình Thương hiệu quốc gia, vào cuối năm ngoái, một cuộc hội thảo nhằm cung cấp kiến thức cho doanh nghiệp trong việc gia tăng giá trị thương hiệu bằng con đường đổi mới, sáng tạo đã được tổ chức tại TPHCM. Chúng tôi giới thiệu các nội dung được trình bày nhằm giúp khởi động Chương trình Thương hiệu quốc gia trong năm nay.

Đổi mới, sáng tạo trong thang giá trị thương hiệu

Ông Nguyễn Trung Thẳng, Tổng giám đốc Masso Group, kể hai câu chuyện nhằm khẳng định “yếu tố cốt lõi cũng là mục tiêu của đổi mới, sáng tạo thương hiệu không gì khác hơn là nhắm đến khách hàng và nhu cầu gia tăng lợi ích của họ”.

Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện xe máy Trung Quốc. Theo ông Thẳng, những thương hiệu xe máy Nhật từng một thời gian dài là biểu tượng của ngành công nghiệp xe máy đã buộc phải nhường thị phần cho Trung Quốc sau khi hàng loạt những nhà sản xuất của Trung Quốc đã biết đổi mới với “hướng đi mở”.

Họ không đưa ra những bản thiết kế đến từng chi tiết, không ràng buộc quy trình công nghệ sản xuất theo hệ tiêu chí quá chặt chẽ, họ để cho các nhà cung ứng được tự do sáng tạo. Kết quả là sự cạnh tranh đã giúp giá thành xe máy Trung Quốc có mức giảm bình quân tới 200 đô la cho mỗi chiếc xe máy xuất khẩu.

“Tuy xe máy Trung Quốc bị thành kiến về mặt chất lượng nhưng cũng có thể xem chất lượng này tương ứng với giá cả, và không thể phủ nhận một thực tế là xe máy Trung Quốc đã đáp ứng được nhu cầu lớn và đang chiếm 50% thị phần thế giới”, ông Thẳng nhận định.

Câu chuyện thứ hai kể về bệnh viện mắt Aravind của Ấn Độ. Theo ông Thẳng, bệnh viện này đã đưa ý niệm “quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm” vào việc cải tiến quy trình phẫu thuật mắt và sau đó là quy trình sản xuất các thiết bị y tế ngành mắt. Sự sáng tạo này đã đưa Aravind trở thành thương hiệu nổi tiếng về tần suất điều trị với hàng triệu bệnh nhân và hàng trăm ngàn ca phẫu thuật mỗi năm.

Continue reading

INTELLECTUAL PROPERTY EDUCATION – JAPAN’S EXPERIENCES FOR VIETNAM

LL.M . NGUYEN NHU QUYNH*- Hanoi Law University, Vietnam

Today, Vietnam has paid a special attention to intellectual property education (IPE). Our nation has exercised the first steps in fostering IPE. IPE, therefore, is still a new area for the Vietnam’s Government policy-makers and academic institutions and we faces many difficulties in the process of finding the effective solutions for the issue of IPE. Meanwhile, in regard to IPE, Japan has obtained many achievements that is worthy for other countries including Vietnam to learn and follow. With this article, the author focuses on Japan’s the most valuable experiences of IPE for Vietnam. The results of Japan’s IPE are drawn and the situation of IPE in Vietnam is also referred to from comparative perspective in the article.

First, the role of IPE must be fully recognized

Intellectual property (IP) has crucial role to all aspects of our daily life including economic, cultural and social aspects of the nation and the world and has been increasingly recognized as an effective tool for development and the creation of wealth. Thus, it is necessary to teach and train IP for all people. In addition to a common realization of the necessity of IPE, Japan has also attached IPE to human resource development and the role of IP lecturers in making policy. It is stated that, in Japan, “[there] is a the growing need to increase and develop IP professionals and experts who will provide advanced and specialized services, as private companies move in the direction of IP intensive management of technology to obtain success in the competitive global economy… In essence, both industry and higher education have come to place a growing emphasis on teaching IP and developing IP human resources, as Japan is now moving toward becoming a knowledge-based society.”[1] Additionally, the Japanese Government maintains that “[the] making of IP policies is no longer a matter exclusive to the government. The government alone cannot respond to the rapid and deep changes in business and technology. Thus, the government is now expecting IP lecturers to participate in the process of formulating IP policies.”[2]

The full recognition of IPE role is Japan’s precious experience for Vietnam to learn. In Vietnam, there is a strong demand for human resources in the area of IP. We lack seriously knowledgeable human resource about IP, e.g. IP lecturers, IP lawyers. There is also a need for more IP practitioners and policy advisors who understand the multiple dimensions and implications of IP. Vietnam, therefore, should look at IPE in connection with human resource development. In addition to that, the government should consider IP lecturers as an important force in making policies[3]. The reason is that IP issues not only concern business and technology but are also connected to the law, the environment, public health, ethics and other areas. A global perspective is required to define comprehensive IP policies from the view-points of political science and public administration. IP lecturers should play an important role, not only in lecturing about law but in making policies.

Continue reading

QUI MÔ THƯƠNG MẠI THEO QUI ĐỊNH TRONG HIỆP ĐỊNH TRIPS VÀ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÔI NGUYÊN

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007. Kể từ thời điểm này, Việt Nam phải thực thi các cam kết của mình với WTO về các lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ cũng như các văn kiện của WTO trong đó có Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs).

Trong quá trình chuẩn bị và hoàn thiện pháp luật trong nước đáp ứng yêu cầu đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực cố gắng hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước cho phù hợp với quy định cũng như cam kết của Việt Nam với WTO, một trong những văn bản quan trọng đó là Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội ban hành vào năm 2005. Việc Quốc hội ban hành Luật Sở hữu trí tuệ ngoài việc đảm bảo tính phù hợp trong quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của Hiệp định TRIPs còn nhằm góp phần đưa hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đi vào nền nếp, phù hợp với các quy định chung của WTO.

1. Quy định của Hiệp định TRIPs về “quy mô thương mại”

Điều 61 Hiệp định TRIPs quy định “Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại (commercial scale). Các biện pháp chế tài theo quy định phải bao gồm cả phạt tù và/hoặc phạt tiền đủ để ngăn ngừa vi phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho các tội phạm có mức độ nghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp, các biện pháp chế tài cũng bao gồm cả việc bắt giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm, bất cứ vật liệu và phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm. Các thành viên có thể quy định các thủ tục hình sự và hình phạt áp dụng cho các trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố tình vi phạm và vi phạm với quy mô thương mại”. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPs cũng có quy định loại trừ tại Điều 60 khi hàng hoá được coi là nhập khẩu với số lượng nhỏ thì “các thành viên có thể không áp dụng các quy định của Hiệp định TRIPs đối với những hàng hoá phi thương mại với số lượng nhỏ, là hành lý cá nhân hoặc gửi với số lượng nhỏ.

Continue reading

ĐỨNG QUÊN LẮP KHÓA KHI XÂY NHÀ

PHẠM THÀNH LONG – Giám đốc Công ty Luật gia Phạm

Việc xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình giống như việc làm nhà phải có khóa cửa. Nhưng vì sao nhiều doanh nghiệp vẫn bỏ qua điều tưởng như sơ đẳng này? Nhãn hiệu là tài sản vô hình nhưng chiếm giữ vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Khi chuẩn bị đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường, việc đầu tiên mà doanh nghiệp cần nghĩ đến là phải đăng ký nhãn hiệu để tạo ra cơ sở pháp lý ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình.

Từ hai ví dụ tương phản

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin đưa ra hai ví dụ về việc xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam.

Ví dụ thứ nhất là về chiến lược xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu Mikado của Công ty Cổ phần Kỹ thương Thiên Hoàng (sau đây gọi tắt là công ty Thiên Hoàng). Tại Việt Nam, vào khoảng năm 2002, chắc hẳn rất ít người biết đến thương hiệu Mikado. Thế nhưng, ngay từ khi mới ra đời và chưa được ai biết đến, Công ty Thiên Hoàng đã rất chú trọng tới việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của mình. Ngày 26/07/2002, Công ty Thiên Hoàng nộp đơn đăng ký nhãn hiệu Mikado cho các sản phẩm thiết bị vệ sinh, gạch men, gạch ốp lát. Ngày 05/03/2004, Cục Sở hữu Công nghiệp đã cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu nói trên. Với cơ sở pháp lý đó, Công ty Thiên Hoàng đã yên tâm xây dựng và phát triển thương hiệu Mikado trở thành một trong các thương hiệu mạnh hiện nay. Trong quá trình sản xuất, kinh doanh của mình, Mikado cũng phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ, thách thức từ nạn hàng giả, hàng nhái. Tuy nhiên, với sự quan tâm thích đáng tới việc bảo vệ thương hiệu, Công ty Thiên Hoàng và thương hiệu MIKADO đã vững vàng vượt qua các thử thách này.

Ví dụ thứ hai là về trường hợp của Công ty Vinakansai Ninh Bình. Ai cũng biết xi măng Vinakansai là một thương hiệu lớn của Việt Nam. Là nhà tài trợ chính thức của Giải Vô địch bóng đá quốc gia Việt Nam lại nắm giữ trong tay một đội bóng là Vinakansai Ninh Bình, có thể nói, Vinakansai là một thương hiệu đã thực sự ghi được dấu ấn trong tâm trí người Việt Nam. Ngày 26/07/2007, Công ty TNHH Ximăng Vinakansai nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu Vinakansai. Tuy nhiên, sau gần hai năm chờ đợi, đến ngày 20/10/2008, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra thông báo kết quả thẩm định nội dung số 64438/SHTT-NH1 với nội dung từ chối bảo hộ cho nhãn hiệu VINAKANSAI bởi gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam. Như vậy, do không tiến hành tra cứu kỹ lưỡng nhãn hiệu trước khi đưa vào sử dụng và tiến hành các biện pháp xác lập quyền kịp thời nên Vinakansai đã đánh mất đi tài sản quý giá của mình và đã vô tình đầu tư tiền của, công sức vào quảng bá thương hiệu cho một doanh nghiệp khác.

Continue reading

CHỐNG VI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: QUÂN TỬ PHÒNG THÂN

ANH PHƯƠNG

Với hơn 10 năm kinh nghiệm xử lý các vụ việc về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Luật sư Bạch Thanh Bình (Văn phòng Luật sư Phạm và liên danh) đưa ra lời khuyên tưởng chừng như ai cũng biết, nhưng chưa nhiều người thực hiện được… Những thiệt hại của doanh nghiệp do bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là rất lớn, nhưng lại rất khó đong đếm cụ thể và hành trình đi “đòi” sự công bằng trong lĩnh vực này cũng rất gian nan, đòi hỏi sự kiên trì và khả năng tài chính.

Muôn hình vạn trạng vi phạm

Theo ước tính của các chuyên gia, thị trường Việt Nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 1 triệu xe gắn máy “cỏ”, trong số này có tới 50% là xe… nhái Honda! Thiệt hại cho chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp hẳn là rất lớn, nhưng khó định lượng; còn thiệt hại cho người tiêu dùng thì rất rõ và cũng không hề nhỏ. Trong một vụ việc đang được tiến hành điều tra tại tỉnh Nam Định, gần 2.000 chiếc xe Wave Alpha “nhái” đã được tiêu thụ. Giá thành xuất xưởng của những chiếc xe này chỉ khoảng 5,5 triệu đồng/chiếc, sau khi được “phù phép” bằng một số chi tiết nhựa và tem nhãn giả, mỗi chiếc xe đến tay người tiêu dùng với giá không dưới 13 triệu đồng! Trừ đi các chi phí hợp lý, những kẻ kinh doanh bất chính đã ung dung bỏ túi chừng 7 triệu đồng/chiếc xe, cao hơn cả giá thành sản phẩm.

Thế nhưng không phải chỉ có các mặt hàng có giá trị lớn mới bị vi phạm bản quyền SHTT. Từ chiếc xe máy, thời trang hàng hiệu, phần mềm vi tính cho đến chiếc kẹo mút ưa thích của trẻ em đều là đối tượng bị dòm ngó, xâm phạm. Chủ nhãn hiệu Gucci mỗi năm cũng có tới 50 lần phải cầu viện tới các luật sư. Các hãng nước ngoài dày dạn kinh nghiệm thương trường như Kimberly – Clark (trụ sở chính tại Mỹ, bán sản phẩm tại 150 thị trường trên thế giới) hay Perfetti van Melle (nhà sản xuất đồ ngọt lớn thứ 6 trên thế giới, trụ sở chính tại Italia) cũng đều phải ngậm ngùi vì hàng nhái.

Tuy thế, việc xử lý các vụ vi phạm này không đơn giản. Một lý do quan trọng là đội ngũ cán bộ thực thi (bao gồm rất nhiều lực lượng, từ quản lý thị trường, hải quan, công an kinh tế…) không hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực này. Bên cạnh đó, hàng nhái được làm ở “khắp chợ cùng quê”. Một cán bộ C15 kể chuyện thật như đùa: xe của cơ quan chức năng đi kiểm tra một cơ sở sản xuất diêm nhái tại một làng ở Bắc Ninh đã bị rất đông… trẻ em ra cản đường. Trên đường vào làng, họ tiếp tục gặp nhiều “chướng ngại vật” khác. Hệ quả là khi đến nơi chẳng còn dấu vết nào khả dĩ kết luận được hành vi làm nhái! Tuy biết chắc những chiếc kẹo mút Chupa Chups  (nhãn hàng đang được ưa chuộng của Perfetti) đang bị “nhái” ở làng nghề bánh kẹo La Phù (huyện Hoài Đức, Hà Nội) nhưng “bắt tận tay, day tận cánh” đã rất khó khăn, nói gì đến việc bắt các hộ sản xuất ở đây bồi thường theo luật định – đại diện Perfetti có lần than thở. Cũng vì thế mà không nhiều doanh nghiệp kiên trì và có khả năng theo đuổi hành trình bảo vệ sự công bằng cho chính mình.

Continue reading

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận:

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG XUẤT BẢN: TẢN MÁT VÀ VƯỚNG VÍU

DOANH NHÂN – Từ năm nay, các tập đoàn xuất bản nước ngoài được tổ chức tự phát hành sách của mình thông qua một công ty mở tại Việt Nam. Khi đó, không cần bán tác quyền họ vẫn có thể tổ chức dịch, phát hành trên toàn Việt Nam. Lĩnh vực xuất bản vốn rất nhạy cảm với vấn đề sở hữu trí tuệ. Luật thì đã có từ lâu. Nhưng thực tế, tình hình vi phạm bản quyền trong lĩnh vực này vẫn chưa được cải thiện là bao!

Những kẽ hở … "đau"

Năm 2008, vụ tranh chấp về quyền tài sản giữa công ty Phan Thị và công ty Lê Linh đối với hình vẽ nhân vật Long Tinh trong bộ truyện tranh Long Thánh khi bộ sách này được công bố đã khiến dư luận chú ý. Xuất phát từ cùng một tác giả là họa sĩ Lê Linh, hai mẫu hình nhân vật truyện tranh: Trạng Tý (trong “Thần đồng đất Việt” của công ty Phan Thị) và Long Tinh (trong “Long Thánh”của công ty Lê Linh) được cáo buộc là có những nét giống nhau, với đơn khiếu kiện từ Phan Thị cho rằng: Lê Linh đã sử dụng hình ảnh Trạng Tý để làm ra tác phẩm phái sinh là Long Tinh. Theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, đây là hành vi vi phạm quyền tài sản đối với công ty Phan Thị. Tuy nhiên, phía Lê Linh lại cho rằng, do cùng một tác giả nên Long Tinh chỉ giống Trạng Tý về phong cách vẽ, và hình mẫu Long Tinh cũng đã được đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả.
Ở khía cạnh khác, khi có một vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, phía nguyên đơn còn có thể khiếu kiện theo các điều luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Luật cạnh tranh. Trong khi đó, theo giáo sư, tiến sĩ, luật sư Nguyễn Vân Nam thì Luật cạnh tranh của Việt Nam không định nghĩa thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Điều này tạo ra khả năng các bên bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vì quyền lợi liên quan đến kinh doanh sẽ sử dụng Luật Cạnh tranh để kiện bên vi phạm.
Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có những chỗ chưa chặt chẽ, chẳng hạn không nêu ra định nghĩa về “chủ sở hữu quyền tác giả”, trong khi đó Luật quy định quyền tác quyền tài sản. Luật lại cũng không định nghĩa thế nào là quyền tài sản, mà chỉ quy định 6 loại hình quyền tài sản. Điều này khiến cho trong một số trường hợp, các đồng tác giả xung đột nhau về quyền tài sản, về vai trò chủ sở hữu quyền tác giả mà không biết dựa vào điều luật nào để được bảo hộ.

Continue reading

TÁC QUYỀN ÂM NHẠC: VẪN BỊ LỜ ĐI!

NHỊ HÀ

Sự “vô tư”, “vô tâm” của không ít người đang làm giàu từ kinh doanh âm nhạc đã khiến các nhạc sĩ phải gánh chịu nhiều nỗi ngậm ngùi… Nhạc sĩ Phó Đức Phương – Giám đốc Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), có lần đã phải ngậm ngùi chia sẻ với chúng tôi: “Chỉ có gỗ đá mới vô tri trước việc làm vạn bất đắc dĩ (đòi tác quyền- PV) của những người đã sản sinh ra những ca khúc bất hủ, ngân nga suốt thế kỷ qua tại Việt Nam”.

Đại gia cũng không “chơi đẹp”

Lẽ ra, theo thông lệ quốc tế, các tổ chức sử dụng tác phẩm âm nhạc phải trích 3-15% tổng kinh phí đầu tư và doanh thu quảng cáo để lập quỹ nhuận bút cho các tác giả và việc trả tác quyền cho nhạc sĩ được tính theo tần suất sử dụng tác phẩm. Quyền tác giả phải được bảo vệ tới 50 năm sau khi tác giả mất (dự thảo Luật sửa đổi sắp trình Quốc hội còn quy định thời hạn này lên tới 75 năm) ở mọi lĩnh vực sử dụng tác phẩm với mục đích kinh doanh. Nhưng để có được sự công bằng đó, còn phải tranh đấu dài dài!

Mấy năm trước, không chỉ một số đơn vị sản xuất, phát hành băng đĩa nhạc ở TPHCM bị phát hiện “chỉ trả tác quyền cho một số tác giả quen biết, còn các tác giả khác khi nào đòi mới được trả tác quyền, còn không đòi thì lờ đi”; mà nhiều “đại gia” truyền thông cũng bị phản ứng. Mức chi trả tác quyền cho từng thể loại tác phẩm âm nhạc (bao gồm nhạc có lời và nhạc không lời) cũng hết sức tùy tiện. Lần đầu tiên 371 nhạc sĩ sau một thời gian dài chỉ được nhận những đồng tiền tác quyền có tính tượng trưng, an ủi đã phải đồng loạt lên tiếng về tình trạng “thanh toán nhỏ giọt” tiền tác quyền âm nhạc trong bối cảnh mỗi năm hàng trăm chương trình ca nhạc lớn nhỏ được lên sóng phát đi phát lại. “Luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế đã có quy định rõ ràng về vấn đề tác quyền, chúng tôi chỉ làm đúng theo chủ trương và mong muốn sức lao động của mình được tôn trọng”, nhạc sĩ Huy Thục bày tỏ.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: LỢI BẤT CẬP HẠI?

TRƯƠNG LONG

Quyền sở hữu trí tuệ là một trong những cơ sở căn bản của nền kinh tế hiện đại. Thế nhưng, hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng, thực tế của việc bảo vệ quyền tác giả (bản quyền) đối với các tác phẩm lại mâu thuẫn với một số quyền khác (thí dụ như quyền tự do phát biểu ý kiến).

Thêm vào đó, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhất loại đang làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển của khoa học và văn hóa. Hiện nay, theo quan điểm của website Wasprofile, chỉ còn mạng Internet là "lãnh thổ tự do" cuối cùng.

Lợi…

Nguyên tắc hoạt động của bản quyền dựa trên "luân lý" đơn giản: "Nếu anh không thể bảo vệ cái thuộc về anh thì có nghĩa là cái đó không thuộc về anh". Nền công nghiệp có bản quyền có vai trò cực kỳ to lớn trong nền kinh tế Mỹ.

Theo đánh giá của Bộ Thương mại Mỹ, những lĩnh vực kinh tế của nước này, bảo vệ các sản phẩm của mình bằng bản quyền, chiếm tới 5% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Đây là một trong những lĩnh vực xuất khẩu béo bở nhất của Mỹ và mang về những khoản lợi nhuận từ thị trường bên ngoài nước Mỹ lớn hơn cả nông nghiệp và công nghiệp chế tạo xe hơi.

Hơn thế nữa, tốc độ tạo ra những chỗ làm mới trong công nghiệp có bản quyền cao gấp ba lần so với trong các thành phần còn lại của nền kinh tế Mỹ.

Ông Jack Valenti, Chủ tịch Hiệp hội những người sản xuất phim của Mỹ, một trong những "chiến sĩ" đấu tranh nhiệt thành nhất cho bảo vệ bản quyền, cho rằng, việc xâm phạm bản quyền mỗi năm đã gây cho những nhà sản xuất phim Mỹ thiệt hại lên tới, theo những đánh giá khiêm nhường nhất, hơn 3 tỉ USD. Theo số liệu của Công ty tư vấn Viant, mỗi ngày thông qua mạng Internet đã download một cách bất hợp pháp tới 350 nghìn bộ phim…

Bản quyền – đó là hình thức bảo vệ sở hữu trí tuệ. Bản quyền được có không phải theo sơ đồ nhận bằng sáng chế. Quá trình đăng ký bằng sáng chế phức tạp và rối rắm. Còn theo luật bản quyền của Mỹ, bản quyền lập tức được có sau khi hoàn thành công việc sáng tạo ra tác phẩm, sản phẩm, không phụ thuộc vào nơi cũng như thời điểm công bố tác phẩm hay phổ cập sản phẩm đó và cả vào việc liệu có công bố hay phổ cập chúng hay không.

Continue reading

19 NĂM ĐÒI CÔNG NHẬN QUYỀN CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

LÊ HUÂN

Suốt 19 năm qua, kỹ sư đường sắt Lê Khắc Linh đòi bản quyền tác giả, đòi được công nhận sáng kiến với đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất".  Để rộng đường dư luận trả lời cho câu hỏi, vì sao suốt 19 năm qua kỹ sư Lê Khắc Linh vẫn kiên trì trong cuộc hành trình tìm đến sự công bằng, Lao Động đã vào cuộc.

Chuyện 13 năm trước

Báo Lao Động ra ngày 14.9.1995 đăng bài: "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên?". Nội dung bài báo đề cập đến hành trình dài dằng dặc của những chuyến tàu Thống Nhất. Mặc dù hành trình chạy tới 72 tiếng, nhưng việc tàu chạy chậm thêm từ 6 đến 10 tiếng là chuyện… xảy ra hàng ngày. Việc rút ngắn hành trình chạy tàu là đòi hỏi của hành khách, là sự trăn trở của của không ít CBCNV ngành đường sắt, trong đó có KS Lê Khắc Linh – nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học và Công nghệ – Bộ GTVT.
Năm 1982, KS Lê Khắc Linh đã trình Bộ GTVT và Tổng cục Đường sắt đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất". Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sĩ Nguyên chấp nhận và trực tiếp chỉ đạo TC Đường sắt (TCĐS) triển khai sáng kiến của KS Lê Khắc Linh. Đến năm 1989, TCĐS đã tiến hành áp dụng lần lượt tất cả 7 giải pháp. Hành trình tàu Thống Nhất Bắc – Nam đã được rút ngắn từ 72 tiếng xuống 48 tiếng, rồi đến mốc đỉnh cao – 2005 hành trình tàu Thống Nhất được rút xuống thời gian chạy tàu nhanh nhất là 29 tiếng 30 phút. KS Lê Khắc Linh đã lập hồ sơ sáng kiến sáng chế trình Bộ GTVT và Hội đồng sáng kiến của bộ.
Ngày 8.12.2008 – 13 năm sau khi đăng bài viết "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên", Báo Lao Động lại nhận được thư khiếu nại của KS Lê Khắc Linh. Ông viết: "Tôi – người đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ, cải tiến tốc độ chạy tàu, được áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thế nhưng vì sao sáng kiến của tôi lại không được công nhận?".

Bị lãng quên hay cố tình phủ nhận

Ông Nguyễn Tuấn Bình – nguyên Phó Tổng cục trưởng TCĐS – đã nhấn mạnh rằng: Đây là một vấn đề lớn về sở hữu trí tuệ. Ông khẳng định, tàu Thống Nhất chạy rút ngắn thời gian, làm lợi lớn, nhưng người đề xuất sáng kiến lại bị phủ nhận. Ông cho biết: Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên đặc biệt quan tâm vấn đề rút ngắn thời gian chạy tàu trên tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc – Nam, đã gọi tôi lên cơ quan bộ, trực tiếp giao nhiệm vụ tiếp thu, nghiên cứu và từng bước triển khai sáng kiến của tác giả Lê Khắc Linh. Nghiêm chỉnh chấp hành ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên, ngày 12.1.1983 ngành đường sắt đã tổ chức hội nghị chuyên đề khoa học kỹ thuật "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất" do tôi chủ trì để KS Lê Khắc Linh trình bày sáng kiến "Tách tốc độ cho tàu khách chạy nhanh hơn tàu hàng và các giải pháp hỗ trợ khác nhằm rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất". Rút ngắn thời gian chạy tàu khách là ý chí, nguyện vọng của các nhà khoa học tham gia hội nghị.
Song  "vạn sự khởi đầu nan" – ông Bình nhớ lại – lúc đầu đối với vấn đề "tách tốc độ" có một vài cán bộ quản lý còn e ngại và tại thời điểm năm 1983 do điều kiện "cần và đủ" chưa đủ chín muồi, nên dù thấy hay, có lợi nhưng chưa thực hiện được ngay việc "tách tốc độ" mà mới chỉ bắt đầu triển khai áp dụng một số giải pháp kỹ thuật hỗ trợ. Phải qua 5 năm "thai nghén", đến năm 1988 ngành đường sắt đã quyết định cho thực hiện sáng kiến "tách tốc độ tàu". Và ngày 29.11.1988, ngành đường sắt đã ban hành "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" – áp dụng từ 0 giờ ngày 1.1.1989 có hai tốc độ chạy tàu (tàu khách và tàu hàng) "khác biệt" hẳn với lệnh tốc độ chạy tàu của các năm về trước, kể từ khi thành lập Tổng cục Đường sắt.
Thế là, sáng kiến "tách tốc độ" chính thức được triển khai thực hiện đồng bộ từ năm 1989 đến nay. Nguyên Tổng cục phó TCĐS vẫn ngậm ngùi:  "Có thể nói không quá lời là "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" là một mốc son làm thay đổi quy phạm khai thác kỹ thuật đường sắt VN, tạo ra tư duy mới, hành động mới, góp phần vào quá trình đổi mới ngành đường sắt những năm tiếp theo. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ là từ trước thời điểm ban hành "Lệnh chạy tàu 1989" với sự lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ của tập thể hơn 4 vạn CBCNV ngành đường sắt, có sự đóng góp của KS Lê Khắc Linh và các cộng sự, trải qua 5 năm (1983 – 1988), suy nghĩ và hành động áp dụng các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ, ngành đường sắt đã rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất… Lẽ ra sáng kiến "Tách tốc độ…" phải được công nhận và khen thưởng từ năm 1989. Thế nhưng khi Tổng cục trưởng TCĐS Nguyễn Văn Tư được sự phân công của T.Ư Đảng chuyển sang làm Chủ tịch Tổng LĐLĐVN thì… sáng kiến của KS Lê Khắc Linh bị… lãng quên từ đó cho đến nay.

SOURCE: BÁO LAO ĐỘNG

Trích dẫn từ: http://thuvienphapluat.com/?CT=NW&NID=21962

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2008 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO-BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH-BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ- BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân; Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

A. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I. CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN (QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 4 ĐIỀU 25 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 29 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ)

1. Các tranh chấp về quyền tác giả

a) Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;

b) Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;

c) Tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm;

d) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiền thù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;

đ) Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

e) Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết định cho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

g) Tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu giữa người đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu với người tham gia sáng tạo và người sản xuất ra tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu hoặc tranh chấp giữa họ với nhau về tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác;

h) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;

i) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do người sử dụng không trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

Continue reading

TÌM LỜI GIẢI CHO DOANH NGHIỆP TRÙNG TÊN

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPGLawyers)

Sau khi Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính, có tới 722 doanh nghiệp bị trùng tên và các cơ quan quản lý nhà nước đang tìm hướng giải quyết chuyện này.  Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng không chỉ hơn 700 doanh nghiệp tại Hà Nội mà tại các tỉnh, thành phố khác, và trên phạm vi cả nước, chuyện doanh nghiệp trùng tên vẫn đang là bài toán khó, chưa có lời giải thỏa đáng. Vấn đề là các doanh nghiệp bị trùng ít hay nhiều, chỉ trùng tên riêng, tên riêng và lĩnh vực, tên riêng và loại hình… hay trùng toàn bộ.

Trùng tên do yếu tố lịch sử để lại

Bắt đầu từ ngày 1-1-2000, Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành. Điều 24 về tên doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định: “Tên của doanh nghiệp phải bảo đảm yếu tố kỹ thuật (i) Không trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký kinh doanh; (ii) Phải viết rõ loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm từ “trách nhiệm hữu hạn” viết tắt là “TNHH”; công ty cổ phần, từ “cổ phần” viết tắt là “CP”…

Với quy định chung và mang tính nguyên tắc như trên, thì yếu tố trùng, gây nhầm lẫn của tên doanh nghiệp chưa rõ là “tên riêng” hay toàn bộ tên doanh nghiệp. Sau đó, Nghị định 02/2000 ngày 3-2-2000 hướng dẫn thi hành luật lại không có hướng dẫn cụ thể hơn về việc đặt tên doanh nghiệp.

Như vậy, trong giai đoạn này có hàng trăm doanh nghiệp chỉ cần khác loại hình (TNHH hoặc CP…) có thể được cấp đăng ký kinh doanh có tên riêng giống nhau. Giai đoạn này kết thúc sau hơn bốn năm bằng việc ra đời của Nghị định 109/2004 ngày 2-4-2004 hướng dẫn về đăng ký kinh doanh.

Nghị định này quy định chi tiết hơn về tên doanh nghiệp theo đó tên phải có ít nhất hai thành tố đó là “loại hình doanh nghiệp” và “tên riêng”. Bên cạnh đó doanh nghiệp còn có thể sử dụng “ngành nghề kinh doanh hay phụ trợ khác để cấu thành tên doanh nghiệp”.

Continue reading

THỰC TRẠNG MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN Ở VIỆT NAM

PHẠM THỨ TRIỆU – Công ty chứng khoán Thăng Long – CN TP.HCM

Làm sao phát triển mô hình nhượng quyền tại Việt Nam một các có hiệu quả? Áp dụng nó vào thực trang của nước ta. Và đi tìm lợi thế của thương hiệu "Việt" vốn đã bị mất bao năm nay? Nhìn lại Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO thì những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp nước ta tận dụng và kiểm soát như thế nào? Trong phạm vi bài viết của tác giả chỉ đưa ra nhận định và đánh giá của cá nhân về một khía cạnh nhỏ có ảnh hưởng cũng như thực trạng phát triển của lĩnh vực này như thế nào ở nước ta, đó là “Nhượng quyền”.

Để có thể nhìn nhận và đánh giá mức độ phát triển của lĩnh vực này trên thế giới và nước ta trong thời gian qua và đến thời điểm hiện tại như thế nào, sơ lược như sau:

Điểm lại sự phát triển của lĩnh vực này trên thế giới của những thương hiệu nổi tiếng với quy mô nhân rộng và chúng đã có mặt hầu hết các quốc gia, điều đó cho thấy lĩnh vực kinh doanh này đã và đang nhân rộng, phát triển rất mạnh ở các nước phát triển với hàng trăm năm. Chính các thương hiệu mạnh và nổi tiếng nhất đã hình thành, phát triển từ đây và đang mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu bằng các kênh phân phối cũng như các vệ tinh được tạo lập. Điều này đã tạo nên một tất yếu cho sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước cũng như các quốc gia đang phát triển và đã dần dần đặt ra hai vấn đề lớn là: Tiếp nhận thương hiệu hay bật dậy từ chính nội lực.

Chẳng hạn, Mcdonald’s hơn 50 năm hình thành phát triển với trên 30 ngàn cửa hàng và có mặt trên 120 quốc gia trên toàn thế giới. Người ta ước tính rằng, cứ khoảng sau từ 4 đến 5 giờ đồng hồ thì trên toàn cầu xuất hiện thêm 1 nhà hàng nữa mang thương hiệuMcdonald’s với mức phí cố định thanh toán một lần mà bên nhận nhượng quyền phải là 45,000.000 USD và một khoản phí được thu hàng thàng là 1,9%, không dừng lại ở đó mà chính trong hệ thống của nó có hẳn một trường đào tạo nghiệp vụ phục cho các hoạt động kinh doanh và đào tạo nhân sự đảm bảo nhu cầu phát triển mô hình nhượng quyền của nó với tên gọi là "Trường đại học Mcdonald’s". Cũng như các thương hiệu khác như: Gà rán KFC, trà Dilmahs, khách sạn Marriott, khách sạn Hyatt, khách sạn Sheraton, cà phê Gloria Jean’s… là những thương hiệu hầu hết mọi người đều biết với những nét đặc trưng nhất định về chất lượng, kiểu dáng, mùi vị và không có sự khác biệt giữa các cửa hiệu khác nhau dù ta bắt gặp và thưởng thức từ bất cứ nơi đâu. 

Continue reading

THỰC THI TÁC QUYỀN CA KHÚC Ở VIỆT NAM: PHẢI BIẾT DU DI?

SÔNG LAM
Khi một tác phẩm ra đời, nếu không công bố độc quyền riêng của bất cứ ai thì mọi người đều có thể sử dụng, miễn sao trả tác quyền đầy đủ!  Những ngày qua, trên một số báo mạng đưa thông tin về việc tranh chấp ca khúc Đơn côi giữa Công ty Truyền thông và giải trí Hộp Nhạc (Music Box Entertainment) của ca sĩ Thanh Thảo và học trò cũ Thanh Thảo – ca sĩ Trương Quỳnh Anh. Sau sự kiện này càng thấy rõ những điểm khó trong quá trình thực thi tác quyền ở Việt Nam.

Tranh chấp bản ghi âm của học viên Ca sĩ Trương Quỳnh Anh từng có thời gian là học viên tại Công ty Music Box của ca sĩ Thanh Thảo. Trong thời gian là học viên ở đây, công ty có mua tác quyền ca khúc Đơn côi của nhạc sĩ trẻ Quỳnh Như cho các học viên tập hát, trong đó có Quỳnh Anh. Tranh chấp xảy ra khi Quỳnh Anh không còn là học viên của Music Box nhưng vẫn sử dụng ca khúc này đi biểu diễn và dự định đưa vào album Vol.1 sắp phát hành.

 

Trả lời trên một tờ báo, ca sĩ Thanh Thảo cho biết: “Khi Quỳnh Anh cần bài hát mới, tôi đã hướng dẫn em hát và thu âm ca khúc này. Sau đó, khi em nghỉ học, có mang ca khúc đi hát nhiều nơi không xin phép nhưng tôi không hỏi vì thật sự bài hát không phải của riêng tôi”.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, bà Thúy Vinh, đại diện ca sĩ Thanh Thảo, cho biết: Đây là ca khúc Music Box chỉ mua tác quyền, không phải độc quyền nên những ai khác mua đều được sử dụng. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ thắc mắc phần ghi âm công ty dạy cho Quỳnh Anh trong quá trình là học viên. “Muốn sử dụng phần ghi âm mà chúng tôi dạy, Quỳnh Anh nên nói qua cho chúng tôi bởi vì dù sao đây cũng là thầy cô giáo dạy dỗ cho mình!” – Thúy Vinh nói. Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NÀO CHO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

MBA. NGUYỄN KHÁNH TRUNG

Xu thế toàn cầu hoá đang từng giờ, từng ngày tác động nhiều lãnh vực họat động kinh tế xã hội Việt Nam. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới càng được nhận thấy rõ qua các chỉ tiêu kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, số lượng công ty, sự phong phú về hàng hoá, dịch vụ, quảng cáo… Sự phát triển của các hệ thống nhượng quyền thương mại bằng cách tận dụng tối ưu các nguồn lực của các nhà nhượng quyềnnhà nhận quyền tại Việt Namcũng không nằm ngoài xu thế này. Trong xu thế đó, vần đề đặt ra là làm sao củng cố vững chắc hệ thống đại lý nhượng quyền trong xu thế cạnh tranh quốc tế như hiện nay?

Để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà nhượng quyền Việt Nam cần xây dựng môt hệ thống các qui trình, qui định, giải pháp sao cho hệ thống vừa đảm bảo phát triển hiệu quả trong ngắn hạn và bền vững trong dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và chất lượng quan hệ cho hệ thống nhượng quyền của mình.

Chất lượng chuyển giao là chất lượng của toàn bộ các yếu tố ngắn hạn được chuyển từ nhà nhượng quyền cho nhà nhận quyền từ lúc khởi nghiệp. Chất lượng chuyển giao tập trung nhận diện và nhận định các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của nhà nhận quyền trong việc khởi nghiệp, cụ thể là xem xét các tiêu chuẩn tối thiểu cho việc khởi sự và quản lý của nhà nhận quyền cho phù hợp và hiệu quả. Thông thường, các yếu tố này thường được nhà nhượng quyền thể hiện trong hồ sơ nhượng quyền và cụ thể hoá trong hợp đồng nhượng quyền. Trong đó, cả hai bên cam kết thực hiện hàng loạt các cam kết nhằm tối đa hoá lợi ích của hai bên. Chất lượng chuyển giao thường được quan tâm nhất là chất lượng của sản phẩm cung ứng, mô hình kinh doanh, thời gian hoạt động, qui trình đào tạo, vấn đề về cấp phép, thời gian cung cấp hàng hóa – dịch vụ, về quyền phân phối, độc quyền, phí chuyển nhượng, phí vận hành hàng tháng, hiệu quả của các chương trình tiếp thị, kinh doanh và những hỗ trợ khác như vận hành, tài chính, tiếp cận và cung cấp thông tin hệ thống, bí quyết kinh doanh, các qui định bắt buộc nhà nhận quyền tuân theo, thương hiệu, các qui trình kinh doanh, qui trình huấn luyện, khả năng phát triển kinh doanh của nhà nhận quyền, thái độ tham gia huấn luyện, cam kết thanh toán của các nhà nhận quyền, cam kết của nhà nhận quyền về tính đồng nhất và minh bạch trong kinh doanh…

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN KỊCH BẢN ĐÂU ĐẤT KHÁCH: LẠI “Ý TƯỞNG LỚN GẶP NHAU”

THANH HIỆP

Xuất phát từ ý tưởng kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng, nhưng chủ sở hữu vở kịch Lấy chồng xứ lạ đòi kiện tác giả và đạo diễn vở Dâu đất kháchVở Dâu đất khách (kịch bản Ngô Hồng Khanh, đạo diễn Trần Ngọc Giàu) đang được dàn dựng và dự kiến ra mắt khán giả vào ngày 1-3, tại rạp Hưng Đạo (TPHCM) thì gặp sự cố tranh chấp bản quyền. Người phát pháo cho vụ tranh chấp tác quyền kịch bản Dâu đất khách là ông bầu Phước Sang.

Dâu đất khách là phiên bản của Lấy chồng xứ lạ?

Khi biết thông tin Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông đầu tư dàn dựng kịch bản Dâu đất khách này, nghệ sĩ Phước Sang đã phản ứng bằng cách lên tiếng sẽ kiện tác giả kịch bản Dâu đất khách vì kịch bản này có nội dung giống với kịch bản Lấy chồng xứ lạ của tác giả Ngô Hồng Khanh – Đoàn Bá mà đạo diễn – NSƯT Đoàn Bá đã dàn dựng cho Sân khấu Kịch Sài Gòn trong năm 2002.

Nghệ sĩ Phước Sang nói: “Vở kịch này nói về thân phận những người phụ nữ bị ép bán sang Đài Loan làm dâu, bị hành hạ, chà đạp và Kịch Sài Gòn đã diễn trên 100 suất vào thời điểm đó. Nay, kịch bản này được đem ra dàn dựng lại và đổi tựa là Dâu đất khách nhưng chưa có ý kiến của Sân khấu Kịch Sài Gòn. Trong khi đó, tác giả Ngô Hồng Khanh và đạo diễn Đoàn Bá đã ký bán độc quyền kịch bản cho Kịch Sài Gòn với giá 7 triệu đồng”.

Giải thích về sự tranh chấp này, đạo diễn- NSƯT Trần Ngọc Giàu, cho biết: “Vụ tranh chấp này hoàn toàn sai luật. Phước Sang đã cho rằng chúng tôi vi phạm bản quyền là không chính xác. Vì trên thực tế, tác giả Ngô Hồng Khanh không ký bán độc quyền cho Phước Sang, vì giá bán kịch bản độc quyền không thể có giá 7 triệu đồng, trong khi đó Kịch Sài Gòn đã diễn mấy năm liền, lại quay video, quay phát sóng truyền hình. Phải chăng vì Phước Sang không muốn ê kíp diễn viên mới tham gia vở kịch này nên mới làm khó anh em”.

Qua trao đổi với tác giả Ngô Hồng Khanh, ông cho biết: “Kịch bản Lấy chồng xứ lạ của Kịch Sài Gòn xuất thân từ kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng do tôi sáng tác năm 2002, được đạo diễn Đoàn Bá dàn dựng cho Đoàn Cải lương Bến Tre tham dự Hội diễn Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp Nam Bộ năm 2002. Sau đó, đạo diễn Đoàn Bá đã chuyển thể lại toàn bộ kịch bản cải lương thành kịch nói, lấy tên Lấy chồng xứ lạ. Khi Hội đồng Phúc khảo Sở VHTT TPHCM (nay là Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch TPHCM) không đồng ý cấp phép nếu chỉ để tên tác giả Đoàn Bá, vì Phòng Quản lý sân khấu của Sở VHTT TPHCM biết đó là sáng tác của tôi.

Continue reading