TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP: CHỦ SMARTDOOR KIỆN “AUSTDOOR”

CAO HỒNG

Công ty Cửa cuốn Úc Smartdoor (gọi tắt là Công ty Úc) có đơn gửi Báo CAND về việc, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hưng Phát (gọi tắt là Hưng Phát) vi phạm quyền sở hữu công nghiệp khi sử dụng thanh nhôm định hình trong sản phẩm cửa cuốn Austdoor.

Trong đơn, Công ty Úc cho biết, ngày 15/12/2004, Công ty Tân Trường Sơn được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106.

Tháng 5/2007, Công ty Tân Trường Sơn ký "Hợp đồng chuyển quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106" cho Công ty Hưng Phát. Thời hạn hợp đồng đến ngày 7/8/2008.

Ngày 10/11/2008, Công ty Úc ký "Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106" với Công ty Tân Trường Sơn.

Hai bên đã tiến hành đăng ký hợp đồng với Cục Sở hữu trí tuệ để xác lập quyền sử dụng hợp pháp với kiểu dáng công nghiệp này và được cấp giấy chứng nhận. Thời hạn sở hữu của Công ty Úc đối với kiểu dáng công nghiệp này từ ngày 18/12/2008 đến 18/12/2009.

Sau khi được quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình nêu trên, Công ty Úc lại phát hiện Công ty Hưng Phát vẫn sản xuất sản phẩm cửa cuốn nhãn hiệu Austdoor có sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP: TRANH CHẤP “TÁCH” VÀ “CỐC”

VI TRẦN

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã phạt Công ty TNHH Gold Roast Việt Nam (Gold Roast) do dùng hình cái tách màu đỏ trên bao bì sản phẩm cà phê gây nhầm lẫn với cái cốc của một công ty khác. Tòa án tỉnh này cũng cho rằng Gold Roast đã vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hiện công ty này đang kháng cáo phán quyết trên của tòa.

Tách giống cốc là nhái nhãn hiệu

Theo hồ sơ, trước năm 2006, Công ty Société des Produits Nestlé (Nestlé) đã tung ra thị trường sản phẩm cà phê sữa uống liền mang hình cái cốc đỏ có viền vàng. Ngay sau đó, công ty này phát hiện Gold Roast cũng có loại sản phẩm tương tự có in hình cái tách đỏ trên bao bì. Tháng 10-2006, Nestlé đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) thẩm định xem nhãn hiệu hình cái tách đỏ của Gold Roast có vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của Nestlé hay không. Nửa tháng sau, Cục phúc đáp Gold Roast sử dụng cái tách đỏ là gây nhầm lẫn với cái cốc đỏ đã được bảo hộ của Nestlé.

Dựa vào kết luận trên, Nestlé yêu cầu Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ xử lý hành vi vi phạm của Gold Roast. Vì không thuộc thẩm quyền nên nơi này đã chuyển hồ sơ cho Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương xử lý. Cuối năm 2007, Thanh tra Sở kết luận Gold Roast đã có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đầu năm 2008, chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã phạt Gold Roast 100 triệu đồng và buộc công ty này “loại bỏ các yếu tố vi phạm” trên bao bì sản phẩm cà phê sữa uống liền.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: BẢN QUYỀN GIAO THÔNG

HOÀNG NGUYÊN

Nhờ sáng kiến này, người đi đường không phải dừng xe chờ đèn đỏ.

Thay vì để chiều đi lại ngược xuôi cắt nhau trực tiếp ở các ngã tư, gần một tháng nay, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội chặn ngang nút giao, tận dụng dải phân cách lớn làm đảo chắn, buộc phương tiện giao thông phải chạy theo vòng xuyến. Từ đó bỏ hẳn việc dừng xe chờ đèn xanh-đỏ, xóa được các điểm ùn tắc do chờ đèn tín hiệu. Thế nhưng một doanh nhân ở quận Đống Đa khiếu nại về sáng kiến này vì doanh nghiệp cho rằng đã vi phạm bản quyền.

Sở “xài chùa”?

Anh Phạm Văn Tiệp, là một doanh nhân, vừa gửi đơn khiếu nại lên Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Anh cho biết từ việc tập Yoga, từ lâu anh đã có ý tưởng thiết kế mô hình giao thông theo nguyên lý chuyển động liên tục của bộ môn dưỡng sinh. Đến tháng 7-2008, giải pháp “Giao diện mềm nhằm giảm ùn tắc giao thông đô thị Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của anh được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, do Phó Cục trưởng Vũ Văn Hoan ký. Anh Tiệp đã gửi công trình ấy bằng cả văn bản và đĩa CD tới Bộ Giao thông Vận tải, UBND và Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Thậm chí sáng kiến này còn được Tạp chí Giao Thông Vận Tải của Bộ Giao thông Vận tải và Báo Bạn Đường thuộc Ủy ban An toàn giao thông quốc gia chọn đăng tải như một giải pháp hữu ích trong việc chống ùn tắc giao thông.

Continue reading

TRANH CHẤP BẢN QUYỀN: ỨNG XỬ TÁC QUYỀN THEO KIỂU . . . ĐỔ THỪA

LAM ĐIỀN

Sau khi Tổ chức Dale Carnegie toàn cầu xác định quyển sách Cuộc sống tươi đẹp do Công ty Huy Hoàng liên kết xuất bản là mạo danh (Tuổi Trẻ ngày 8-6 – 2009), giám đốc Công ty Huy Hoàng gửi thư cho Dale Carnegie trình bày: Huy Hoàng đã chuyển ngữ quyển sách này thông qua bản dịch bằng tiếng Trung.

Công ty Trí Việt mua tác quyền từ quyển The five love languages (Năm ngôn ngữ tình yêu,tác giả là Gary Chapman) của NXB Moody – Hoa Kỳ. Thương vụ mua tác quyền quyển sách này được ký kết giữa Trí Việt – First News và NXB Moody từ tháng 8-2008. Ðến quý 2-2009, Trí Việt xuất bản quyển Năm ngôn ngữ tình yêu thì bất ngờ phát hiện trên thị trường cũng vừa xuất hiện quyển sách Năm ngôn ngữ của tình yêu,cũng đề tên tác giả là Gary Chapman, do NXB Thanh Niên cấp phép, Công ty Kim An Ðông liên kết xuất bản.

"Cứu tinh" từ bên thứ ba

"Thoạt đầu, khi Trí Việt gửi công văn thông báo về việc vi phạm bản quyền, đại diện Công ty Kim An Ðông đến xin lỗi và nhận mình vi phạm. Tuy nhiên, sau đó khoảng một tháng họ bất ngờ tuyên bố bản dịch quyển sách Năm ngôn ngữ của tình yêu ấy là có tác quyền", ông Nguyễn Văn Phước – giám đốc Trí Việt – First News – trình bày.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: VỤ TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ KỊCH BẢN BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN, NGƯỜI KHỞI KIỆN YÊU CẦU ĐỀN BÙ HƠN 74 TỶ ĐỒNG, TÒA CHẤP NHẬN HƠN 9 TRIỆU

QUỲNH ANH

Sau 2 lần hoãn xử, sáng ngày 11/5/2009, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án tranh chấp quyền tác giả kịch bản phim Biệt động Sài Gòn. Ở vị trí nguyên đơn, ông Nguyễn Thanh đã yêu cầu Hãng phim Truyện VN và nhà biên kịch Lê Phương phải trả cho ông 74 tỷ 480 triệu đồng tiền nhuận bút của bộ phim đã phát hành cách nay hơn 20 năm.

Đòi nhuận bút dựa theo sự biến động của giá vàng

Trong lịch sử ngành điện ảnh VN, đây có lẽ là vụ án hy hữu bởi mức tiền đòi đền bù liên tục gia tăng theo sự biến động của “giá vàng” ngoài thị trường. Sau hơn 20 năm, ông Nguyễn Thanh đã khởi kiện đơn vị sản xuất phim và tác giả kịch bản Lê Phương – người đã mời ông hợp tác viết kịch bản vì nghĩ rằng mình đã bị “thiệt thòi”.

Tại tòa, thẩm phán Nguyễn Văn Dũng đã hỏi ông Nguyễn Thanh về quan hệ của ông với tác giả Lê Phương; việc hợp tác viết kịch bản Biệt động Sài Gòn giữa hai người có hợp đồng không? Dựa vào căn cứ nào để xác định kịch bản phim Biệt động Sài Gòn chỉ có một tác giả duy nhất (ông Nguyễn Thanh – PV); Nếu đã nhận tiền nhuận bút ông Phương trả từ những năm 1982 – 1983, cảm thấy không thỏa mãn sao không có ý kiến phản đối? Nếu khẳng định mình là tác giả kịch bản duy nhất, tại sao không yêu cầu Hãng phim Truyện VN bỏ tên ông Lê Phương ngay khi bộ phim phát hành (năm 1987)…

Trả lời các câu hỏi trên, ông Nguyễn Thanh khẳng định, việc hợp tác giữa hai người không có hợp đồng; ông Thanh cũng đã nhận của ông Phương 3 lần tiền, trị giá là 1.200 đồng và số tiền này ông Phương nói là hỗ trợ sáng tác kịch bản gốc. Tuy có băn khoăn về giá trị thật của nhuận bút được trả nhưng ngày đó trong bối cảnh khó khăn chung của thời bao cấp, nhiều người viết vì đồng đội… không nghĩ đến lợi ích của cá nhân nên ông đã cho qua. Sau này, khi nghe NSND Hải Ninh nói bộ phim Biệt động Sài Gòn đã làm rạng danh Hãng phim Truyện VN, nuôi sống mấy trăm con người và thu về hàng nghìn tỷ đồng (?), đồng thời phát hiện kịch bản đã được in nhiều kỳ trên báo SGGP, và in thành sách do Hội Văn nghệ Long An và NXB Thanh Hóa ấn hành… nên ông đã quyết định đòi quyền lợi.

Để biết số tiền mình phải đòi là bao nhiêu ông đã nhờ Công ty Vàng bạc đá quý “quy đổi” tiền thành vàng, lãi trong 20 năm, cộng thêm sự biến động của giá vàng trong 2 năm qua, đã ra đáp số là 74 tỷ 480 triệu đồng. Nếu so với mức tiền đòi đền bù tại đơn kiện đầu tiên được gửi năm 2007 thì số tiền hiện tại gấp khoảng 12 lần.

Ý kiến của các bị đơn

Ở vị trí bị kiện, đại diện Hãng phim Truyện VN khẳng định không có trách nhiệm thanh toán bất kỳ số tiền nhuận bút nào đối với ông Nguyễn Thanh. Bởi, Hãng phim chỉ giao trách nhiệm viết kịch bản cho ông Lê Phương – thời điểm đó là biên kịch của Hãng và Hãng cũng đã thanh toán đầy đủ tiền nhuận bút cho tác giả kịch bản. Việc ông Phương mời ông Thanh hợp tác và chia nhuận bút ra sao là việc riêng của 2 người. Hiện tại, Hãng cũng không còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến việc chi trả nhuận bút kịch bản bộ phim này.

Cũng phản đối những cáo buộc của ông Nguyễn Thanh, ông Lê Phương đã đưa chứng cứ (có chữ ký của những người liên quan thuộc Hãng phim Truyện VN) xác định ông là người được Ban Giám đốc Hãng giao viết kịch bản và “tháp tùng” vào TP.HCM để liên hệ với Bộ Tư lệnh đọc Hồ sơ chiến lệ và gặp gỡ các nguyên mẫu tham gia các trận đánh của biệt động thành. Ông đã trình bày đề cương cốt truyện phim và các giải pháp triển khai với Ban Giám đốc Hãng phim. Sau khi quay ra Hà Nội, ông đã nhờ người – ông Đỗ Quảng tìm người hợp tác viết kịch bản, do ông không hiểu sâu lĩnh vực này. Ông Quảng đã đưa ông Phương đến gặp ông Thanh và ông Thanh đồng ý hợp tác. Kịch bản hoàn thành nhưng không đủ điều kiện dựng phim. Ông Phương đã viết lại, thêm thắt và 2 tập phim đầu tiên ra đời đứng tên 2 tác giả Lê Phương – Nguyễn Thanh. Continue reading

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận:

Continue reading

19 NĂM ĐÒI CÔNG NHẬN QUYỀN CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

LÊ HUÂN

Suốt 19 năm qua, kỹ sư đường sắt Lê Khắc Linh đòi bản quyền tác giả, đòi được công nhận sáng kiến với đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất".  Để rộng đường dư luận trả lời cho câu hỏi, vì sao suốt 19 năm qua kỹ sư Lê Khắc Linh vẫn kiên trì trong cuộc hành trình tìm đến sự công bằng, Lao Động đã vào cuộc.

Chuyện 13 năm trước

Báo Lao Động ra ngày 14.9.1995 đăng bài: "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên?". Nội dung bài báo đề cập đến hành trình dài dằng dặc của những chuyến tàu Thống Nhất. Mặc dù hành trình chạy tới 72 tiếng, nhưng việc tàu chạy chậm thêm từ 6 đến 10 tiếng là chuyện… xảy ra hàng ngày. Việc rút ngắn hành trình chạy tàu là đòi hỏi của hành khách, là sự trăn trở của của không ít CBCNV ngành đường sắt, trong đó có KS Lê Khắc Linh – nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học và Công nghệ – Bộ GTVT.
Năm 1982, KS Lê Khắc Linh đã trình Bộ GTVT và Tổng cục Đường sắt đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất". Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sĩ Nguyên chấp nhận và trực tiếp chỉ đạo TC Đường sắt (TCĐS) triển khai sáng kiến của KS Lê Khắc Linh. Đến năm 1989, TCĐS đã tiến hành áp dụng lần lượt tất cả 7 giải pháp. Hành trình tàu Thống Nhất Bắc – Nam đã được rút ngắn từ 72 tiếng xuống 48 tiếng, rồi đến mốc đỉnh cao – 2005 hành trình tàu Thống Nhất được rút xuống thời gian chạy tàu nhanh nhất là 29 tiếng 30 phút. KS Lê Khắc Linh đã lập hồ sơ sáng kiến sáng chế trình Bộ GTVT và Hội đồng sáng kiến của bộ.
Ngày 8.12.2008 – 13 năm sau khi đăng bài viết "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên", Báo Lao Động lại nhận được thư khiếu nại của KS Lê Khắc Linh. Ông viết: "Tôi – người đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ, cải tiến tốc độ chạy tàu, được áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thế nhưng vì sao sáng kiến của tôi lại không được công nhận?".

Bị lãng quên hay cố tình phủ nhận

Ông Nguyễn Tuấn Bình – nguyên Phó Tổng cục trưởng TCĐS – đã nhấn mạnh rằng: Đây là một vấn đề lớn về sở hữu trí tuệ. Ông khẳng định, tàu Thống Nhất chạy rút ngắn thời gian, làm lợi lớn, nhưng người đề xuất sáng kiến lại bị phủ nhận. Ông cho biết: Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên đặc biệt quan tâm vấn đề rút ngắn thời gian chạy tàu trên tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc – Nam, đã gọi tôi lên cơ quan bộ, trực tiếp giao nhiệm vụ tiếp thu, nghiên cứu và từng bước triển khai sáng kiến của tác giả Lê Khắc Linh. Nghiêm chỉnh chấp hành ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên, ngày 12.1.1983 ngành đường sắt đã tổ chức hội nghị chuyên đề khoa học kỹ thuật "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất" do tôi chủ trì để KS Lê Khắc Linh trình bày sáng kiến "Tách tốc độ cho tàu khách chạy nhanh hơn tàu hàng và các giải pháp hỗ trợ khác nhằm rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất". Rút ngắn thời gian chạy tàu khách là ý chí, nguyện vọng của các nhà khoa học tham gia hội nghị.
Song  "vạn sự khởi đầu nan" – ông Bình nhớ lại – lúc đầu đối với vấn đề "tách tốc độ" có một vài cán bộ quản lý còn e ngại và tại thời điểm năm 1983 do điều kiện "cần và đủ" chưa đủ chín muồi, nên dù thấy hay, có lợi nhưng chưa thực hiện được ngay việc "tách tốc độ" mà mới chỉ bắt đầu triển khai áp dụng một số giải pháp kỹ thuật hỗ trợ. Phải qua 5 năm "thai nghén", đến năm 1988 ngành đường sắt đã quyết định cho thực hiện sáng kiến "tách tốc độ tàu". Và ngày 29.11.1988, ngành đường sắt đã ban hành "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" – áp dụng từ 0 giờ ngày 1.1.1989 có hai tốc độ chạy tàu (tàu khách và tàu hàng) "khác biệt" hẳn với lệnh tốc độ chạy tàu của các năm về trước, kể từ khi thành lập Tổng cục Đường sắt.
Thế là, sáng kiến "tách tốc độ" chính thức được triển khai thực hiện đồng bộ từ năm 1989 đến nay. Nguyên Tổng cục phó TCĐS vẫn ngậm ngùi:  "Có thể nói không quá lời là "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" là một mốc son làm thay đổi quy phạm khai thác kỹ thuật đường sắt VN, tạo ra tư duy mới, hành động mới, góp phần vào quá trình đổi mới ngành đường sắt những năm tiếp theo. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ là từ trước thời điểm ban hành "Lệnh chạy tàu 1989" với sự lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ của tập thể hơn 4 vạn CBCNV ngành đường sắt, có sự đóng góp của KS Lê Khắc Linh và các cộng sự, trải qua 5 năm (1983 – 1988), suy nghĩ và hành động áp dụng các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ, ngành đường sắt đã rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất… Lẽ ra sáng kiến "Tách tốc độ…" phải được công nhận và khen thưởng từ năm 1989. Thế nhưng khi Tổng cục trưởng TCĐS Nguyễn Văn Tư được sự phân công của T.Ư Đảng chuyển sang làm Chủ tịch Tổng LĐLĐVN thì… sáng kiến của KS Lê Khắc Linh bị… lãng quên từ đó cho đến nay.

SOURCE: BÁO LAO ĐỘNG

Trích dẫn từ: http://thuvienphapluat.com/?CT=NW&NID=21962

THỰC THI TÁC QUYỀN CA KHÚC Ở VIỆT NAM: PHẢI BIẾT DU DI?

SÔNG LAM
Khi một tác phẩm ra đời, nếu không công bố độc quyền riêng của bất cứ ai thì mọi người đều có thể sử dụng, miễn sao trả tác quyền đầy đủ!  Những ngày qua, trên một số báo mạng đưa thông tin về việc tranh chấp ca khúc Đơn côi giữa Công ty Truyền thông và giải trí Hộp Nhạc (Music Box Entertainment) của ca sĩ Thanh Thảo và học trò cũ Thanh Thảo – ca sĩ Trương Quỳnh Anh. Sau sự kiện này càng thấy rõ những điểm khó trong quá trình thực thi tác quyền ở Việt Nam.

Tranh chấp bản ghi âm của học viên Ca sĩ Trương Quỳnh Anh từng có thời gian là học viên tại Công ty Music Box của ca sĩ Thanh Thảo. Trong thời gian là học viên ở đây, công ty có mua tác quyền ca khúc Đơn côi của nhạc sĩ trẻ Quỳnh Như cho các học viên tập hát, trong đó có Quỳnh Anh. Tranh chấp xảy ra khi Quỳnh Anh không còn là học viên của Music Box nhưng vẫn sử dụng ca khúc này đi biểu diễn và dự định đưa vào album Vol.1 sắp phát hành.

 

Trả lời trên một tờ báo, ca sĩ Thanh Thảo cho biết: “Khi Quỳnh Anh cần bài hát mới, tôi đã hướng dẫn em hát và thu âm ca khúc này. Sau đó, khi em nghỉ học, có mang ca khúc đi hát nhiều nơi không xin phép nhưng tôi không hỏi vì thật sự bài hát không phải của riêng tôi”.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, bà Thúy Vinh, đại diện ca sĩ Thanh Thảo, cho biết: Đây là ca khúc Music Box chỉ mua tác quyền, không phải độc quyền nên những ai khác mua đều được sử dụng. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ thắc mắc phần ghi âm công ty dạy cho Quỳnh Anh trong quá trình là học viên. “Muốn sử dụng phần ghi âm mà chúng tôi dạy, Quỳnh Anh nên nói qua cho chúng tôi bởi vì dù sao đây cũng là thầy cô giáo dạy dỗ cho mình!” – Thúy Vinh nói. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN KỊCH BẢN ĐÂU ĐẤT KHÁCH: LẠI “Ý TƯỞNG LỚN GẶP NHAU”

THANH HIỆP

Xuất phát từ ý tưởng kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng, nhưng chủ sở hữu vở kịch Lấy chồng xứ lạ đòi kiện tác giả và đạo diễn vở Dâu đất kháchVở Dâu đất khách (kịch bản Ngô Hồng Khanh, đạo diễn Trần Ngọc Giàu) đang được dàn dựng và dự kiến ra mắt khán giả vào ngày 1-3, tại rạp Hưng Đạo (TPHCM) thì gặp sự cố tranh chấp bản quyền. Người phát pháo cho vụ tranh chấp tác quyền kịch bản Dâu đất khách là ông bầu Phước Sang.

Dâu đất khách là phiên bản của Lấy chồng xứ lạ?

Khi biết thông tin Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông đầu tư dàn dựng kịch bản Dâu đất khách này, nghệ sĩ Phước Sang đã phản ứng bằng cách lên tiếng sẽ kiện tác giả kịch bản Dâu đất khách vì kịch bản này có nội dung giống với kịch bản Lấy chồng xứ lạ của tác giả Ngô Hồng Khanh – Đoàn Bá mà đạo diễn – NSƯT Đoàn Bá đã dàn dựng cho Sân khấu Kịch Sài Gòn trong năm 2002.

Nghệ sĩ Phước Sang nói: “Vở kịch này nói về thân phận những người phụ nữ bị ép bán sang Đài Loan làm dâu, bị hành hạ, chà đạp và Kịch Sài Gòn đã diễn trên 100 suất vào thời điểm đó. Nay, kịch bản này được đem ra dàn dựng lại và đổi tựa là Dâu đất khách nhưng chưa có ý kiến của Sân khấu Kịch Sài Gòn. Trong khi đó, tác giả Ngô Hồng Khanh và đạo diễn Đoàn Bá đã ký bán độc quyền kịch bản cho Kịch Sài Gòn với giá 7 triệu đồng”.

Giải thích về sự tranh chấp này, đạo diễn- NSƯT Trần Ngọc Giàu, cho biết: “Vụ tranh chấp này hoàn toàn sai luật. Phước Sang đã cho rằng chúng tôi vi phạm bản quyền là không chính xác. Vì trên thực tế, tác giả Ngô Hồng Khanh không ký bán độc quyền cho Phước Sang, vì giá bán kịch bản độc quyền không thể có giá 7 triệu đồng, trong khi đó Kịch Sài Gòn đã diễn mấy năm liền, lại quay video, quay phát sóng truyền hình. Phải chăng vì Phước Sang không muốn ê kíp diễn viên mới tham gia vở kịch này nên mới làm khó anh em”.

Qua trao đổi với tác giả Ngô Hồng Khanh, ông cho biết: “Kịch bản Lấy chồng xứ lạ của Kịch Sài Gòn xuất thân từ kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng do tôi sáng tác năm 2002, được đạo diễn Đoàn Bá dàn dựng cho Đoàn Cải lương Bến Tre tham dự Hội diễn Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp Nam Bộ năm 2002. Sau đó, đạo diễn Đoàn Bá đã chuyển thể lại toàn bộ kịch bản cải lương thành kịch nói, lấy tên Lấy chồng xứ lạ. Khi Hội đồng Phúc khảo Sở VHTT TPHCM (nay là Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch TPHCM) không đồng ý cấp phép nếu chỉ để tên tác giả Đoàn Bá, vì Phòng Quản lý sân khấu của Sở VHTT TPHCM biết đó là sáng tác của tôi.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHIẾC RAM MÁY VI TÍNH

PHƯƠNG THƯ

Một công ty nhập, phân phối ram máy vi tính bị tước văn bằng bảo hộ vì nhà sản xuất nước ngoài đang sử dụng nhãn hiệu sản phẩm này. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử vụ Công ty TNHH Phát triển kỹ thuật ứng dụng VS kiện quyết định hủy bỏ văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ. Đây là một vụ kiện khá mới xung quanh việc đăng ký nhãn hiệu bộ nhớ máy vi tính (ram).

Trước cấp, sau hủy

Theo hồ sơ, tháng 10-2005, Công ty VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hóa cho sản phẩm ram máy vi tính nhãn hiệu K. của một công ty ở Đài Loan và hơn một năm sau thì được cấp bằng.

Sau đó, phát hiện một doanh nghiệp khác nhập bán sản phẩm K. không rõ nguồn gốc, Công ty VS đã thông báo, được cơ quan quản lý thị trường xác định đó là hàng giả và đề xuất UBND TP.HCM phạt doanh nghiệp nọ 100 triệu đồng. Tức mình, doanh nghiệp nọ khiếu nại yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ văn bằng đăng ký nhãn hiệu đã cấp cho Công ty VS với lý do VS chỉ là nhà phân phối, không phải đơn vị sản xuất.

Nhận đơn khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ đã thông báo cho VS và công ty này đã nộp bổ sung bản tuyên thệ của nhà sản xuất ở Đài Loan đồng ý cho VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu K. tại Việt Nam. Tuy nhiên, Cục Sở hữu trí tuệ không chấp thuận vì nộp trễ (lý giải vì sao không nộp bản tuyên thệ lúc đăng ký, Công ty VS cho biết khi đó Cục không yêu cầu). Thế là tháng 10-2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra quyết định hủy bỏ văn bằng đã cấp với lý do Công ty VS không đủ điều kiện nộp đơn.

Sơ thẩm: Cục sai

Công ty VS khởi kiện. Tại phiên sơ thẩm của TAND TP.HCM, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Công ty VS không có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu vì chỉ là đại lý phân phối, không phải nhà sản xuất. Trong việc này, chỉ có nhà sản xuất ở Đài Loan mới có tư cách nộp đơn. Ngược lại, Công ty VS cho rằng dựa vào điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63 (về sở hữu công nghiệp) thì một đơn vị kinh doanh cũng có quyền nộp đơn.

Một vấn đề khác gây tranh cãi giữa Công ty VS và Cục Sở hữu trí tuệ là theo khoản 3 Điều 220 Luật Sở hữu trí tuệ, đối với văn bằng cấp sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thì việc hủy bỏ các văn bằng đó áp dụng theo quy định tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ. Ở đây, VS đã được cấp văn bằng bảo hộ vào tháng 11-2006, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực. Tuy nhiên, khi ra quyết định hủy bỏ văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ lại căn cứ vào Nghị định 63 (đã hết hiệu lực tại thời điểm VS được cấp văn bằng). Giải thích, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Luật Sở hữu trí tuệ thay đổi nhiều lần nên không thống nhất. Tại thời điểm cấp văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ căn cứ vào Nghị định 63, không căn cứ vào Luật Sở hữu trí tuệ.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THƯƠNG HIỆU NHỰA BÌNH MINH BỊ XÂM PHẠM – CƠ QUAN QUẢN LÝ MÂU THUẪN

KHẮC DŨNG

Trước đây, thương hiệu Bình Minh của Cty CP nhựa Bình Minh bị Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh sử dụng. Dù Cty CP nhựa Bình Minh đã gởi đơn khiếu nại, thuê văn phòng luật sư đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình nhưng đến nay, sự việc vẫn chưa được giải quyết.

Điều đáng nói là cho đến nay vẫn tồn tại hai quan điểm khác nhau từ chính các cơ quan quản lý. Sở KHCN TP HCM thì nói Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh đã vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ về đặt tên thương mại. Sở KHĐT TP HCM thì vẫn giữ quan điểm cho rằng, Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh không vi phạm gì trong việc đặt tên nêu trên, không phải sửa tên gì cả…

Sở KHCN: Đặt tên như vậy là phạm luật !

Thanh tra Sở KHCN TP HCM đã có Công văn số 593/SKHCN-TTr ngày 25/7/2008 gởi Sở KHĐT TP HCM, và đề nghị Sở KHĐT cấp lại Giấy đăng ký kinh doanh đổi tên khác cho Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh. Công văn nêu rõ: Cty CP nhựa Bình Minh hoạt động hợp pháp từ năm 1994. Ống nước nhựa và phụ kiện mang nhãn hiệu Bình Minh, là nhãn hiệu được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 23374 từ ngày 12/12/1996, và đang trong thời gian hiệu lực. Còn Cty TNHH TM-DV- SX nhựa ống Bình Minh được cấp Giấy phép ĐKKD ngày 15/2/2008, dù có tên rất dài nhưng tên riêng trùng với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ. Công văn cũng đề nghị Sở KHĐT yêu cầu Cty TNHH TM-DV-SX nhựa ống Bình Minh phải sửa đổi phần tên riêng của mình, thay đổi chữ Bình Minh trên giấy ĐKKD. Việc thay đổi tên riêng nêu trên thực hiện theo quy định Điều 78.3 Luật SHTT; Điều 32 Luật DN; Điều 11.4 Nghị định 88/2006/ND9-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: VỤ ĂN CẮP THÔ BẠO BẢN QUYỀN TÀI LIỆU GIÁO KHOA

TRƯƠNG TÂM THƯ

Lần đầu tiên tại tỉnh Quảng Nam xảy ra vụ ăn cắp bản quyền trắng trợn bằng cách lấy công trình nghiên cứu khoa học của người khác đem in dưới tên mình thành hàng chục ngàn bản để đem bán, thu lợi bất chính số tiền lớn.

Đó là bộ vở bài tập thực hành âm nhạc dành cho học sinh và giáo viên các khối bậc THCS. Đáng nói, thủ phạm là một giáo viên.

“Hồn” cô dạy nhạc, “da”” thầy thể dục

Bước vào năm học mới 2008-2009, tại nhiều trường trên địa bàn tỉnh xuất hiện những tập vở Học và bài tập thực hành âm nhạc (BTTHAN) dành cho giáo viên và học sinh các khối cấp THCS, được nhiều GV-HS mua và sử dụng.

image Bộ vở tập này của 2 tác giả: Trần Ngọc Oanh và Trần Phúc Hoàng, do Nhà xuất bản Tổng hợp Đà Nẵng cấp phép, in tại Nhà máy in của Cty CP in và dịch vụ Quảng Nam, nộp lưu chiểu tháng 8.2008 với số lượng được in phát hành là 55.000 bản, trong đó tập vở dành cho mỗi khối lớp 6, 7 và 8 là 15.000 bản, riêng khối lớp 9 là 10.000 bản.

Continue reading

TRANH CHẤP TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU: HAI DOANH NGHIỆP CÙNG MANG NHÃN HIỆU BÌNH MINH

HOÀNG TÚ

Nhựa “Ống Bình Minh” nhập nhằng với nhựa “Bình Minh”. Hai công ty đều được cấp giấy phép hợp pháp.

Mới đây, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã nhận được đơn của Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh khiếu nại việc công ty này bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với tên thương mại và nhãn hiệu “Bình Minh”.

Xâm phạm cả tên thương mại lẫn nhãn hiệu

Đầu tháng 3-2008, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh phát hiện có một công ty cùng kinh doanh trong ngành nhựa, cùng hoạt động tại TP.HCM và có tên thương mại, nhãn hiệu mang hai chữ “Bình Minh” giống mình.

Đáng chú ý là công ty này thành lập hoàn toàn hợp pháp theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp ngày 15-2-2008. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp này có tên đầy đủ là Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Sản xuất nhựa Ống Bình Minh. Theo đó, tên thương hiệu của công ty này là “Ống Bình Minh”, dẫn đến tên đối ngoại là “Ong Binh Minh Platics Plastics”. Điều này rất dễ làm người tiêu dùng lầm lẫn với Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh với tên thương hiệu là “Bình Minh” và tên đối ngoại là “Binh Minh Plastics”.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP KIỂU DÁNG … ÁO QUAN

HOÀNG YẾN
Xâm phạm kiểu dáng áo quan của người khác lại kiện ngược, cuối cùng bị tòa xử thua, buộc bồi thường 440 triệu đồng…

Mới đây, TAND tỉnh Bình Dương đã bác yêu cầu khởi kiện của Công ty liên doanh Nhã Quán đối với Công ty TNHH Ý Thiên trong vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về kiểu dáng áo quan. Tòa còn buộc Nhã Quán phải bồi thường 440 triệu đồng cho Ý Thiên do khởi kiện không có căn cứ, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của Ý Thiên.

Kiện người, bị người kiện

Theo đơn kiện, Nhã Quán là công ty liên doanh chuyên sản xuất áo quan, thành lập năm 2002 theo hợp đồng giữa Công ty TNHH Trường Sanh với đối tác nước ngoài. Khi hoạt động, Nhã Quán “đã đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, đăng ký độc quyền kiểu dáng công nghiệp đối với mặt hàng áo quan”. Sau đó, Trường Sanh lại “tự ý lấy các kiểu dáng áo quan do Nhã Quán làm ra” đăng ký độc quyền kiểu dáng cho Trường Sanh, đến năm 2007 thì chuyển nhượng cho Ý Thiên.

Continue reading

TRANH CHẤP BẢN QUYỀN CHUYỆN TRANH: LONG TINH LÀ BIẾN THỂ TỪ TRẠNG TÝ?

THANH HẢI

Công ty Phan Thị “tố” họa sĩ Lê Linh đã sử dụng hình Trạng Tý trong bộ truyện Thần đồng đất Việt để xây dựng nhân vật Long Tinh trong bộ truyện Long Thánh.

image Năm 2006, giới truyện tranh xôn xao về vụ kiện khá hy hữu tranh chấp quyền tác giả bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt giữa họa sĩ Lê Linh với Công ty Phan Thị. Trong khi vụ kiện trên chưa ngã ngũ thì ngày 5-5, Công ty Phan Thị đã gửi đơn đến NXB Trẻ và hai đơn vị phát hành là Công ty Trường Phát và Fahasha yêu cầu ngưng phát hành bộ truyện tranh Long Thánh của Lê Linh vì “họa sĩ Lê Linh đã tự ý sử dụng hình ảnh Trạng Tý (trong bộ truyện Thần đồng đất Việt) để xây dựng nhân vật Long Tinh mà không xin phép.

Continue reading

LOGO HẢI YẾN CỦA CHỒNG HAY CỦA VỢ?

HOÀNG TÚ

Hai logo na ná nhau, một được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, một được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Ông Vĩnh Thanh – Giám đốc Công ty TNHH Thể thao Ngôi Sao vừa gửi đơn lên Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Tiền Giang yêu cầu xử lý việc Công ty Hải Yến vi phạm quyền tác giả đối với logo do ông sáng tác.

Tuy nhiên, trong quá trình xử lý, bà Huỳnh Hồng Thúy – Giám đốc Công ty Hải Yến lại cho rằng chính ông Vĩnh Thanh mới là người xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của công ty bà.

Logo na ná

Trước đây, ông Thanh và bà Thúy từng là vợ chồng, cùng gầy dựng nên Công ty Hải Yến. Năm 2003, Công ty Hải Yến đăng ký lại nhãn hiệu Hải Yến và nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm cầu lông, dịch vụ thể thao… Năm 2005, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho Công ty Hải Yến.

Continue reading

NHÃN HIỆU VÀ HÌNH "HẢI YẾN": MỘT TÊN – HAI CHỦ

QUỐC CHÁNH

Cho dù đã đưa ra các loại giấy tờ chứng minh quyền được bảo hộ SHTT đối với logo và tên thương mại, nhưng đoàn kiểm tra các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tiền Giang vẫn cho rằng Cty TNHH thể thao Hải Yến vi phạm tác phẩm mỹ thuật ứng dụng của Cty TNHH thể thao Ngôi Sao. Hơn thế nữa, vị trưởng đoàn còn đề nghị giám đốc Cty Hải Yến – Huỳnh Hồng Thúy, phải gỡ bảng hiệu của doanh nghiệp mình xuống để chờ… xử lý!

Quá bức xúc, bà Thúy đã tới Báo DĐDN- văn phòng khu vực ĐBSCL để “kiến nghị”. Bà Thuý cho biết, năm 2003, Cty Hải Yến đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa với logo và tên thương hiệu “Hải Yến” tại Việt Nam và đã được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa số 63441 ngày 7/6/2005 và số 73165 ngày 23/6/2006. Đồng thời Cty Hải Yến cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại lãnh thổ Đài Loan với Giấy chứng nhận số 01061953. Năm 2007, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Trung Quốc.

Continue reading

HAI HÃNG NƯỚC MẮM CÙNG TRANH CHẤP CÁI TÊN

HẢI YẾN – Báo PLTPHCM

Tòa buộc cơ sở thành lập sau phải trả lại tên cho công ty ra đời trước…

Sáng qua (23-5), Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã xét xử một vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về thương hiệu khá gay cấn giữa hai hãng nước mắm cùng có tên Hưng Thịnh.

Kiện vì cái tên

Ngày 30-10-2007, Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh (trụ sở tại quận Bình Chánh, TP.HCM, gọi tắt là công ty) đã nộp đơn đến TAND tỉnh Bình Dương khởi kiện Cơ sở nước mắm Hưng Thịnh (sản xuất nước mắm hiệu Hồng Thịnh ở huyện Dĩ An, gọi tắt là cơ sở).

Theo Công ty, trong quá trình kinh doanh, Cơ sở đã luôn sử dụng các tên gọi như “Cơ sở nước chấm Hưng Thịnh”, “Cơ sở sản xuất nước mắm Hưng Thịnh” hay “Cơ sở nước mắm Phú Quốc Hưng Thịnh” để tiếp thị và bán sản phẩm trên thị trường.

Việc sử dụng các tên thương mại trên đã làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn hai sản phẩm nước mắm Hưng Thịnh và Hồng Thịnh có cùng một nguồn gốc.

Continue reading

RỐI RẮM KIỆN THƯA CA KHÚC ĐỘC QUYỀN

QUỲNH NGUYỄN – BÁO TUỔI TRẺ

Làng showbiz Việt hè này hứa hẹn sẽ “nảy lửa” bởi những vụ kiện tụng xung quanh các ca khúc độc quyền.

image Khởi đầu là việc tranh chấp ca khúc Nhật ký mùa đông giữa ca sĩ Lâm Thái Uyên (Việt kiều Đức về VN phát hành đĩa) và ca sĩ Thiên Đăng vừa trở về VN sau thời gian du học tại Mỹ.

Sự việc chưa đến đâu lại dấy lên các thông tin kiện tụng qua lại giữa ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng (Công ty Tiếng Hát Việt) và ông Nguyễn Duy Khánh (Công ty Nhạc Xanh). Lại thấy trên blog của nhạc sĩ Thái Thịnh (đang định cư bên Mỹ) “trách móc” Tuấn Hưng đã dùng ca khúc Tình là gì? (Thái Thịnh đã bán độc quyền cho Minh Khanh) trong album vol.6 mà không xin phép.

Song song đó trên mạng cũng lùm xùm vụ hai ca khúc Em và Đánh mất – có cùng nội dung, giai điệu nhưng  thuộc “quyền sở hữu” của nhiều ca sĩ khác nhau…

Kiện tụng – “chiêu” lăngxê tên tuổi?

Trong khi các ca sĩ, công ty đang sôi sục vì những “hao tổn về vật chất lẫn tinh thần” và hăm he sẽ “kiện tới nơi tới chốn” thì dư luận lại khoanh tay ngồi nhìn. Đơn giản vì những xìcăngđan kiểu này không phải lần đầu xuất hiện và mỗi lần xuất hiện lại rơi vào hư vô. Có điều mật độ “xâm phạm” những ca khúc độc quyền giữa các ca sĩ ngày càng dày và hướng giải quyết là dắt nhau “lên báo” đánh tiếng sẽ kiện tụng (chứ chưa chắc sẽ kiện) ngày càng phổ biến.

Continue reading