QUẢN TRỊ CÔNG TY TỐT, PHẢI TẠO RA SỰ ĐỒNG THUẬN

TRẦN BAN MAI

Đầu năm 2009, ông Phạm Xuân Hồng, Tổng giám đốc Công ty May Sài Gòn 3, đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các thành viên trong hội đồng quản trị (HĐQT) với lý do, ông không cắt giảm bớt công nhân, khi công ty không có đơn hàng sản xuất.

Hiện nền kinh tế bắt đầu phục hồi, ngành may có thêm nhiều đơn hàng xuất khẩu mới, doanh nghiệp lao đao vì thiếu lao động, những thành viên của HĐQT Công ty Sài Gòn 3 mới tin ông Hồng đã đúng.

“Quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam rất khó. Nếu không tìm sự đồng thuận ở công ty, coi như mình thua và không làm gì được…”, ông Hồng nói. Sự đồng thuận ở đây không chỉ ở các thành viên của HĐQT, mà tính luôn cả quản lý cấp trung trong công ty. Từ trưởng phòng các bộ phận, chuyền trưởng của một chuyền may cho đến công nhân phải đồng thuận được với nhau và cùng đồng tâm hiệp lực vượt qua khó khăn.

Làm thế nào để tạo ra được sự đồng thuận này? Ông Hồng cho rằng, mỗi công ty cần phải có một nền tảng tốt. Nền tảng này được tạo dựng qua thời gian, thời gian để các thành viên hiểu nhau, lắng nghe và tôn trng ý kiến lẫn nhau.

Nhưng đi đôi với những lý thuyết về quản trị, người đứng đầu công ty phải biết “lắng nghe” và chia sẻ với các thành viên khác. Lý luận phải đi đôi với thực tiễn, nếu lãnh đạo công ty chỉ biết nói hay, “cả vú lấp miệng em” mà không mang lại lợi ích tập thể cho công ty thì những mớ lý thuyết suông kia sẽ gây hại cho người đứng đầu công ty.

Dĩ nhiên, trong thực tế, việc thực hiện những chiến lược mà lãnh đạo công ty đưa ra phải xét đến tính hiệu quả và khả thi trong nguồn lực cho phép của doanh nghiệp. Tổng giám đốc phải đưa ý kiến ra bàn luận với HĐQT, điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu của HĐQT mà vẫn không đi chệch khỏi quỹ đạo công ty vạch ra.

Continue reading

CHỌN HÌNH THỨC NÀO?

ÁNH HỒNG NGÂN – LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2005, giờ đây nhà đầu tư cá nhân trong nước muốn khởi nghiệp kinh doanh đã có hai sự lựa chọn, một là doanh nghiệp tư nhân (“DNTN”) và hai là công ty trách nhiệm hữu hạn (“TNHH”) một thành viên. Tuy nhiên, không ít nhà đầu tư cá nhân băn khoăn không biết là nên thành lập DNTN hay công ty TNHH một thành viên, những điểm được và chưa được của mỗi sự lựa chọn đó là như thế nào?

Về tư cách pháp lý và quản lý doanh nghiệp

Từ trước đến nay, DNTN là một hình thức doanh nghiệp được khá nhiều nhà đầu tư cá nhân trong nước lựa chọn bởi sự gần gũi của nó đối với tập quán kinh doanh của người Việt cũng như tính đơn giản, tự chủ cao trong tổ chức và điều hành doanh nghiệp.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNTN có thể được xem là doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân (1). Với bản chất chịu trách nhiệm vô hạn cho chủ sở hữu như vậy, DNTN chứa đựng nhiều rủi ro cho chính sở hữu chủ doanh nghiệp khi mà họ phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tại cùng một thời điểm thì mỗi nhà đầu tư cá nhân chỉ được thành lập và duy trì một DNTN mà thôi (cũng như không phải là thành viên hợp danh của bất kỳ một công ty hợp danh nào khác).

Trong khi đó, công ty TNHH một thành viên lại có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn cá nhân chủ sở hữu đăng ký vào công ty và không bị hạn chế về số lượng công ty TNHH mà một nhà đầu tư cá nhân là thành viên góp vốn được phép thành lập.

Với những quy định như vậy, rõ ràng so với công ty cổ phần hay công ty TNHH, DNTN chứa đựng nhiều rủi ro và hạn chế hơn. Chính vì vậy nên khi soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2005, có khá nhiều ý kiến lo ngại rằng việc cho phép nhà đầu tư cá nhân được quyền thành lập công ty TNHH một thành viên sẽ dẫn đến việc dần dần triệt tiêu DNTN vì nhà đầu tư cá nhân nào cũng mong muốn giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NHÂN

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

1. AI LÀ DOANH NHÂN?

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10), một câu hỏi được đặt ra, tưởng là đơn giản nhưng không dễ trả lời: Ai là doanh nhân? Doanh nhân là người kinh doanh. Vì vậy, để xác định ai là doanh nhân, cần làm rõ khái niệm kinh doanh.

Theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Nội hàm này thể hiện trong định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1997 do Hoàng Phê chủ biên: “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”.

Luật Doanh nghiệp định nghĩa dài dòng hơn:

“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển Thuật ngữ kinh doanh (Dictionary of business terms – tiếng Anh) năm 1987 do Jack P. Friedman chủ biên, định nghĩa “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp. Quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thể đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động” (trong tiếng Anh entrepreneur nhấn mạnh khía cạnh người bỏ vốn đầu tư, còn từ này trong tiếng Pháp lại chú trọng khía cạnh quản lý, như định nghĩa của Từ điển Larousse 2002: “Entrepreneur là người đứng đầu một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây nhà hoặc xây dựng công trình công cộng. Về luật pháp, entrepreneur là người trong một hợp đồng kinh doanh cam kết thực hiện một công việc cho người chủ công trình (tiếng Việt gọi là thầu khoán hoặc nhà thầu)”.

Continue reading

TẠP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NGOÀI NHIỆM VỤ CHÍNH

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa X, XI

Tháng 3.2008, khi khủng hoảng kinh tế thế giới còn chưa bộc phát, trong một bài báo (1), tôi đã lưu ý một mảng chưa sáng của nền kinh tế cần hết sức quan tâm. Đó là chi tiêu và đầu tư của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Chưa sáng vì hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế quan trọng này, trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …), trong nhiều năm liền, thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng rất nhiều ưu đãi (từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, từ đất đai…). Xem Bảng (2). Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm 2006 và 2007 là không nhỏ.

Cử tri băn khoăn một cách rất chính đáng về hiệu quả hoạt động, vì trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, hiệu quả thế nào, đã tận dụng cơ hội từ việc Việt Nam gia nhập WTO ra sao, thì nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động ngoài nhiệm vụ chính một cách ồ ạt, đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán và kinh doanh bất động sản.

Lo âu của cử tri là với hoạt động như vậy thì làm thế nào các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gánh vác được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia và đặc biệt khi các “bong bóng” vỡ hàng loạt thì ai sẽ gánh chịu hậu quả?

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cuối tháng 7.2009 về kết quả kiểm toán năm 2008 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2007 xác nhận những băn khoăn và âu lo trên là có cơ sở.

Continue reading

Tập đoàn, tổng công ty nhà nước và ĐẦU TƯ NGOÀI NHIỆM VỤ CHÍNH

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa X, XI

Tháng 3.2008, khi khủng hoảng kinh tế thế giới còn chưa bộc phát, trong một bài báo (1), tôi đã lưu ý một mảng chưa sáng của nền kinh tế cần hết sức quan tâm. Đó là chi tiêu và đầu tư của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Chưa sáng vì hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế quan trọng này, trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …), trong nhiều năm liền, thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng rất nhiều ưu đãi (từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, từ đất đai…). Xem Bảng (2). Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm 2006 và 2007 là không nhỏ.

Cử tri băn khoăn một cách rất chính đáng về hiệu quả hoạt động, vì trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, hiệu quả thế nào, đã tận dụng cơ hội từ việc Việt Nam gia nhập WTO ra sao, thì nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động ngoài nhiệm vụ chính một cách ồ ạt, đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán và kinh doanh bất động sản.

Lo âu của cử tri là với hoạt động như vậy thì làm thế nào các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gánh vác được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia và đặc biệt khi các “bong bóng” vỡ hàng loạt thì ai sẽ gánh chịu hậu quả?

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cuối tháng 7.2009 về kết quả kiểm toán năm 2008 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2007 xác nhận những băn khoăn và âu lo trên là có cơ sở.

Continue reading

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH

Trong giới hạn bài viết này, tác giả muốn trình bày 3 vấn đề chính đó là (1) Tổng quan về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) VN; (2) Khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của DNNVV VN; (3) Nhận định những hệ quả hạn chế tài chính của các DNNVV và kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho các DNNVV VN.

Để thực hiện các nội dung trên bài viết này sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Tổng cục Thống kê, và nguồn số liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra chọn mẫu doanh nghiệp nhỏ và vừa VN qua một số đề tài nghiên cứu do tác giả chủ trì trong hai năm 2005-2006 (điều tra 230 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến tại 3 tỉnh Tiền Giang, Bình Dương và TP.HCM; và điều tra 200 doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thuộc các ngành sản xuất công nghiệp tại TP.HCM). Các doanh nghiệp được chọn khảo sát trong các cuộc điều tra trên ít nhất có 3 năm hoạt động trở lên. Phương pháp phân tích số liệu điều tra sử dụng trong bài viết này là phân tích tuần suất, tính toán một số chỉ số tài chính và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các quỹ tài chính nhà nước của các DNNVV thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Các kết quả tính toán sẽ được so sánh với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có qui mô lớn.

1.Tổng quan về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) VN

Theo quy định tại Nghị định 91/2001/CP của Thủ tướng Chính phủ VN ban hành năm 2001, các doanh nghiệp có qui mô vốn dưới 10 tỷ đồng VN và qui mô lao động dưới 300 người được coi là các DNNVV. Căn cứ vào các tiêu chí trên, đặc biệt tiêu chí về vốn thì đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (kinh tế tư nhân) của VN là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số liệu thống kê doanh nghiệp đến ngày 31/12/2005 của Tổng cục Thống kê VN phản ánh qua Bảng 1 dưới đây cho thấy rõ nhận định này.

Báng 1: Qui mô doanh nghiệp VN theo lao động, vốn phân theo thành phần kinh tế tính đến ngày 31/12/2005

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI Ở DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TS. LÊ ĐĂNG DOANH – Viện Nghiên cứu Phát triển

Trong bài viết này, sau khi nói về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả tập trung luận giải vấn đề xây dựng xã hội dân sự và trách nhiệm xã hội của doanh nghip ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Theo tác giả trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực hiện và đó chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với quá trình phát triển đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề cao cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và các thể chế của xã hội dân sự.

1. Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hội thảo của chúng ta diễn ra trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn. Nhân loại đang đứng trước những nguy cơ lớn về khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, trái đất ấm lên do hiệu ứng khí thải. Tất cả các hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về trách nhiệm xã hội của chính phủ, của doanh nghiệp, của người dân và xã hội dân sự. Cuộc khủng hoảng toàn cầu khởi đầu từ nước Mỹ và nhanh chóng lan rộng ra các nước khác trên thế giới, từ khủng hoảng tài chính – tiền tệ lan sang khủng hoảng “nền kinh tế thực” (real economy), dẫn đến khủng hoảng việc làm và khủng hoảng xã hội. Ở một số nước đã và sẽ diễn ra khủng hoảng chính trị như ở Băng Đảo (iceland). Câu hỏi được đặt ra là, hệ thống kinh tế thị trường hiện nay với các biến thể của nó từ kinh tế thị trường tân tự do (Neoliberalism) ở Hoa Kỳ đến nền kinh tế thị trường xã hội (Social market economy) như ở Đức, nền kinh tế phúc lợi xã hội (wealthfare economy) như ở Bắc Âu, trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của thị trường và doanh nhân, trách nhiệm và quyền giám sát của người dân có những thiếu sót gì để dẫn đến một thảm hoạ như vậy. Mới đây, vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc (San Lu) ở Trung Quốc đã gây ra biết bao đau khổ cho các gia đình, trẻ nhỏ thì trách nhiệm của nhà nước, của doanh nghiệp như thế nào. Trách nhiệm (responsibility) là một khái niệm rất rộng và được nhiều khoa học cùng nghiên cứu. Luật học xác định các khái niệm trách nhiệm khác nhau, như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kinh tế trách nhiệm tài chính và trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, v.v., kèm theo đó là những quy định chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường, các mức phạt cao thấp khác nhau nếu vi phạm.

Continue reading

BỐN BƯỚC BẢO VỆ THÔNG TIN MẬT TRONG DOANH NGHIỆP

NGUYỄN HỮU PHƯỚC & ĐINH QUANG THUẬN – Công ty Luật Phuoc & Partners

Mỗi công ty đều có thông tin mật theo ngành nghề riêng của mình. Đó là những thông tin có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho công ty nếu các đối thủ cạnh tranh cố ý hoặc tình cờ khám phá được. Có nhiều nguồn mà theo đó thông tin mật về kinh doanh có thể bị rò rỉ cho các đối thủ cạnh tranh và một trong những nguồn rò rỉ thông tin khó quản lý nhất là từ các nhân viên cũ.

Về nguyên tắc, khi một nhân viên và công ty ký hợp đồng lao động, mối quan hệ lao động giữa hai bên phát sinh. Tuy nhiên, khi hợp đồng lao động chấm dứt, mối quan hệ lao động giữa công ty và nhân viên kết thúc, mối quan hệ giữa hai bên (nếu có) sẽ thuần túy là mối quan hệ dân sự và được điều chỉnh theo luật dân sự Việt Nam. Trong tình huống như vậy, làm sao doanh nghiệp có thể bảo vệ thông tin mật của mình? Dưới đây là bốn bước doanh nghiệp có thể thực hiện để giảm bớt thiệt hại.

Bước 1

Yêu cầu nhân viên ký thỏa thuận không tiết lộ.

Điều 85, Bộ luật Lao động Việt Nam quy định rằng nhân viên làm việc tại một doanh nghiệp có trách nhiệm bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ và kinh doanh của doanh nghiệp đó. Nếu nhân viên vi phạm hành vi tiết lộ bí mật công nghệ và kinh doanh, nhân viên đó sẽ chịu hình thức kỷ luật là sa thải.

Ngoài ra, điều 129.5 của bộ luật trên cũng quy định nhân viên có năng lực về kỹ thuật và kỹ năng chuyên môn cao mà tiết lộ bí mật công nghệ và kinh doanh phải chịu trách nhiệm về việc bồi thường cho các thiệt hại đã gánh chịu.

Do vậy, bước đầu tiên trong kế hoạch bảo vệ thông tin hiệu quả là yêu cầu từng nhân viên vào thời điểm tuyển dụng (hoặc vào thời điểm nhân viên đó thay đổi vị trí công tác và trong cương vị mới, sẽ phải truy cập thông tin mật) ký kết thỏa thuận không tiết lộ, còn được gọi là NDA (Non – disclosure aqreement).

Continue reading

ĐI TÌM TRIẾT LÝ CỦA LUẬT PHÁ SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

Đạt mục đích bằng nhiều công cụ khác nhau:

Sau hơn mười năm thực hiện không thành công, Luật PSDN 1993 đang được xem xét sửa đổi. Vượt ra khỏi những hạn chế mang tính kỹ thuật lập pháp, tính chưa đồng bộ của các đạo luật tố tụng và cách triển khai thực hiện đạo luật này, cần xem xét nguyên nhân của sự bất thành này trong khung cảnh của nhiều công cụ tái tổ chức doanh nghiệp thua lỗ. Những bình luận tổng quan ở trên cho phép dự báo vai trò của pháp luật phá sản trong tương lai sẽ không thay đổi đáng kể. Đối với doanh nghiệp nhà nước, Luật phá sản sẽ vẫn chỉ là một công cụ tái tổ chức yếu ớt; tòa án sẽ không thể mau chóng thay thế các cơ quan hành chính chủ quản trong việc phục hồi doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp dân doanh, chững nào khái niệm trách nhiệm hữu hạn chưa trở thành phổ biến và cá nhân chủ nợ không được tuyên bố miễn trách, chừng đó các thiết chế đòi nợ tập thể có sẵn trong xã hội Việt Nam sẽ thay thế Luật phá sản.

Xác định tình trạng mất khả năng thanh toán:

Mất khả năng thanh toán là dấu hiệu đầu tiên cần được làm rõ bởi pháp luật phá sản. Chỉ khi lâm vào tình trạng này, các thiết chế của tái tổ chức hoặc thanh lý tư pháp mới được áp dụng. Cần làm rõ và lựa chọn một trong hai khái niệm: (i) mất khả năng thanh toán và (ii) lâm vào tình trạng phá sản. Tình trạng thua lỗ trầm trọng, kéo dài, không mang tính chất kẹt tiền tức thời này đã phần nào được nhận diện qua các dấu hiệu quy định tại điều 6, Nghị định số 189/CP [1994]. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh các dấu hiệu này chỉ để suy đoán doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán, chứ không có ý nghĩa doanh nghiệp đã phá sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp. Vì lý do đó, nhiều nước đã đổi tên luật phá-sản thành luật mất khả năng thanh toán. Thêm nữa, mất khả năng thanh toán thường dựa trên tiêu chí không thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền)hoặc tổng nợ vượt quá tài sản có (cân đối tài sản). Muốn áp dụng rộng rãi luật mất khả năng thanh toán như là một biện pháp tái cơ cấu, phải mở rộng và đơn giản hoá đối tượng áp dụng, tránh dùng các tiêu chí khó định lượng. Cách quy định của điều 3 Dự thảo, theo thiển ý của tôi, đã đi đúng xu hướng này.

Continue reading

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ, CÔNG TY CON – MỘT GIẢI PHÁP LỚN ĐỂ TĂNG TÍNH MINH BẠCH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ GÓP PHẦN QUAN TRỌNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA NỀN KINH TẾ NƯỚC TA

PGS.TS. NGUYỄN HUY OÁNH & LÊ VĂN BẰNG – Học viện chính trị, hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Nghị quyết Hội nghị TƯ 3 (Khóa IX) đã viết: “DNNNgiữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Do đó, việc tăng tính hiệu quả của DNNN không chỉ nhằm mục đích làm cho kinh tế nhà nước nói riêng và kinh tế nước ta nói chung vững mạnh mà còn góp phần tăng tính định hướng XHCN của nền kinh tế. Vì thế việc sắp xếp đổi mới DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động của nó là vấn đề rất bức xúc hiện nay. Nhưng muốn sự sắp xếp có hiệu quả phải áp dụng nhiều biện pháp, theo chúng tôi, biện pháp quan trọng nhất là phải tìm được mô hình tổ chức doanh nghiệp mà với mô hình này chúng ta sẽ tác động trực tiếp vào vấn đề sở hữu, và do đó sẽ làm tăng tính minh bạch của DNNN. Mô hình công ty mẹ, công ty con là mô hình đáp ứng được yêu cầu này.

1.  Chúng ta biết rằng, với mô hình DNNN kiểu cũ, chủ sở hữu là Nhà nước với 100% vốn của Nhà nước. Chúng ta đã từng rất coi trọng mô hình DNNN kiểu này. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của mô hình này là tính minh bạch về mặt kinh tế: nguồn vốn của DNNN được giao cho hội đồng quản trị và giám đốc điều hành (nếu là tổng công ty) hoặc giám đốc doanh nghiệp (nếu là công ty), làm đại diện của Nhà nước quản lý. Để phần nào kiểm soát hoạt động của các đại diện này nhằm bảo toàn vốn cho Nhà nước:

– Về mặt vĩ mô, Nhà nước có hàng loạt luật pháp, chính sách về tài chính quản lý vốn, quản lý vật tư…;

– Về mặt vi mô, có hội đồng quản trị (nếu là tổng công ty), có giám đốc và kế toán trưởng thay mặt Nhà nước và được giao trách nhiệm quản lý vốn cho Nhà nước.

Ngoài ra, còn một loạt cơ chế, tổ chức như tổ chức Đảng, hội nghị công nhân viên chức, các tổ chức đoàn thể như công đoàn, phụ nữ, thanh niên… Mô hình tổ chức trên tưởng rằng chặt chẽ nhưng lại bộc lộ nhiều nhược điểm: với những giám đốc có tâm huyết, muốn có những biện pháp mạnh mẽ nhằm bứt phá đưa doanh nghiệp đi lên thì lại gặp vật cản khi nhận thức đó chưa được tập thể chấp nhận, khi đó giám đốc bất lực; với những giám đốc không trong sáng, lại lợi dụng những bùng nhùng đó để có những thu nhập bất chính mà tập thể phức tạp nêu trên chỉ là bình phong. Những hạn chế đó suy đến cùng thuộc về vấn đề xác định chủ sở hữu của DNNN trên các mặt trách nhiệm và lợi ích kinh tế, một vấn đề rất khó khăn nếu như 100% vốn là của Nhà nước như phần lớn các DNNN hiện nay. Vì vậy dẫn đến sự không hiệu quả của DNNN. Hơn nữa, mô hình DNNN theo kiểu cũ với sự khó minh bạch còn đi liền với nạn tham nhũng, hối lộ, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đó là lý do cấp bách phải đổi mới mô hình DNNN.

Continue reading

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

TS. NGUYỄN HỮU LONG – BDSC Corporation

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, đã có rất nhiều doanh nghiệp ra đời và phát triển không ngừng. Số lượng các công ty tăng lên, quy mô các công ty ngày càng lớn, và đã bắt đầu xuất hiện các tập đoàn tư nhân.

Các tập đoàn “tự phong” này được hình thành thông qua việc thành lập một số công ty con, chủ yếu có quan hệ về vốn sở hữu với công ty mẹ hoặc với nhóm chủ sở hữu lớn của công ty mẹ. Do Luật Doanh nghiệp quy định tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không được đăng ký kinh doanh, nên nhiều công ty đưa luôn cụm từ “tập đoàn” vào trong tên đăng ký chính thức của công ty mẹ như một cách để khẳng định tầm cỡ và vị thế hùng mạnh của mình. Ngày càng nhiều công ty có tên “Công ty cổ phần tập đoàn…” ra đời cùng với sự ra đời của các nhóm công ty có mối liên kết với nhau theo nhiều hình thức, nhưng đa số vẫn là hình thức đầu tư, góp vốn từ công ty mẹ hoặc các chủ sở hữu lớn của công ty mẹ.

Tên gọi tập đoàn thì đã quá quen thuộc, thậm chí còn bị lạm dụng, nhưng một mô hình tập đoàn hoàn chỉnh, phù hợp cho một nhóm công ty có mối quan hệ liên kết, gắn bó lâu dài về lợi ích với nhau thì dường như vẫn còn khá xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam. Khi nói đến mô hình tập đoàn, nhiều người nghĩ ngay đến cấu trúc tổ chức tổng thể của tập đoàn, mà cụ thể là cách thức bố trí các công ty thành viên trên sơ đồ tổ chức của tập đoàn. Xa hơn chút nữa, trên sơ đồ tổ chức có thể kèm theo các mũi tên thể hiện chiều đầu tư vốn từ công ty này sang công ty khác. Cách hiểu đơn giản này tạo nên một thực trạng không tốt là nhiều công ty lớn muốn nhanh chóng có được danh hiệu tập đoàn bằng cách bung ra thành lập một số công ty con mà không có sự chuẩn bị kỹ càng trong việc lựa chọn mô hình phù hợp để đem lại sức mạnh cộng hưởng tốt nhất cho nhóm công ty trong tập đoàn. Bài viết này chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải thiết kế những mô hình phù hợp cho các tập đoàn đã, đang và sẽ hình thành tại Việt Nam theo thông lệ quản trị thế giới.

Continue reading

MUA BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG CỦA DOANH NGHIỆP: LẠI VƯỚNG . . . CƠ CHẾ

PHAN NAM Thực hiện

Hoạt động mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN đã giúp nhiều DN phục hồi, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tránh được thiệt hại tài chính do DN vay vốn mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên do đây là lĩnh vực còn rất mới nên các quy định hiện hành chưa tạo động lực để các DN phát huy.

Chính vì vậy theo dự kiến cuối tháng 7/2009, Bộ Tài chính sẽ ban hành Quy chế mới về điều lệ hoạt động của công ty mua bán nợ. Trao đổi với DĐDN ông Phạm Thanh Quang – TGĐ Cty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN (DATC) cho rằng rào cản lớn nhất chính là hành lang pháp lý.

– Từ thực tế của DATC trong thời gian vừa qua, theo ông đâu là khó khăn vướng mắc lớn nhất đối với hoạt động của Cty mua bán nợ ?

Khó khăn lớn nhất đối với hoạt động của TCty hiện nay vẫn là vướng ở cơ chế. Do chưa có chế tài cụ thể cho lĩnh vực này nên tạo ra những cách hiểu và những ý kiến khác nhau.

Thứ nhất là về cơ chế xoá nợ. Hiện nay Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn cụ thể về xoá nợ như thế nào đối với các khoản nợ tiếp nhận không còn khả năng thu hồi. Muốn tái cấu trúc DN thì phải xử lý tồn tại cũ, làm lành mạnh hoá tài chính nhưng hiện nay để làm được điều này phải xin ý kiến của Bộ Tài chính, chứ Cty mua bán nợ không tự quyết được, dẫn đến việc kéo dài thời gian.

Thứ hai là do chưa có hướng dẫn cụ thể nên có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định đối tượng DN khách nợ như thế nào? Chỉ mua DN nhà nước, hay áp dụng cho mọi thành phần kinh tế ? Xu hướng hiện vẫn nghiêng về phía DN nhà nước. Trên thực tế hiện nay pháp luật đã quy định mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng. Và nếu như giải quyết được khó khăn cho DN dù là tư nhân hay nhà nước thì đều góp phần tích cực làm lành mạnh hoá nền kinh tế. Sở dĩ có tâm lý trên là theo quy định hiện hành việc mua bán dựa trên thoả thuận nên sợ phát sinh tiêu cực.

Continue reading

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: 3 ĐIỀU KHÔNG RÕ RÀNG

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA  – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp quốc doanh đã bộc lộ những khuyết tật cơ bản của nó. Vừa xây dựng kinh tế thị trường. VN vừa phải chuyển đổi thói quen của một xã hội nhiều năm dựa vào quốc doanh sang một xã hội dựa vào đa dạng hóa sở hữu trong môi trường cạnh tranh.

Quyền tài sản không rõ ràng

Mọi yếu kém của doanh nghiệp nhà nước theo tôi đều bắt nguồn từ quan hệ quyền tài sản không rõ ràng. Thực ra, theo qui định của hiến pháp VN các doanh nghiệp này thuộc sở hữu toàn dân, vì vậy chúng ta phải được gọi là doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn dân mới chính xác (1).

Lập luận rằng nhà nước là người đại diện cho sở hữu toàn dân, từ năm 1991 các văn bản pháp luật nước ta đồng loạt chuyển tên gọi các xí nghiệp quốc doanh thành doanh nghiệp nhà nước, hi vọng làm rõ người quản lý sở hữu toàn dân là nhà nước.

Tuy nhiên, nhà nước cũng là một phạm trù rất trừu tượng, người dân chỉ cảm nhận được nhà nước thông qua các cơ quan của nó, được đại diện bởi những công chức cụ thể và các hành vi của họ. Bởi vậy, nếu giao kết hợp đồng với doanh nghiệp nhà nước, người ta cần biết ai có thẩm quyền kiểm soát những tài sản này.

Ví dụ: một đối tác nước ngoài muốn liên doanh với doanh nghiệp nhà nước cần biết rõ những cơ quan nào có quyền quyết định liên quan đến việc góp quyền sử dụng đất làm vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh. Từ trung ương đến địa phương, có rất nhiều cơ quan có thể can thiệp vào quá trình sử dụng nguồn vốn này.

Continue reading

MỘT KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Quản lý doanh nghiệp là công việc vô cùng phức tạp – đó vừa là khoa học lại vừa là nghệ thuật. Do đó, người quản lý doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng.

Thuê quản lý doanh nghiệp – một nhu cầu tất yếu

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”.

Sẽ không có gì phải bàn khi chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. Song, thực tiễn hiện nay và trong tương lai gần, với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nước ta, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp lại không phải là người quản lý doanh nghiệp.

Những trường hợp như vậy ít nhất cũng có thể bao gồm:

Thứ nhất, chủ doanh nghiệp cần giành một khoảng thời gian dài từ 1-3 năm để học tập nâng cao năng lực quản lý ở một nơi xa doanh nghiệp, chẳng hạn ở nước ngoài. Khi đó, chủ doanh nghiệp không thể “vừa học, vừa làm”.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp không may bị qua đời và người thừa kế để làm chủ mới của doanh nghiệp lại chưa đủ năng lực cả về chuyên môn và quan hệ xã hội để trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp.

Thứ ba, do sự thay đổi của pháp luật, lĩnh vực kinh doanh đang thực hiện của chủ doanh nghiệp “bỗng nhiên” được đưa vào danh mục “kinh doanh có điều kiện” và “điều kiện kinh doanh” lại là chủ doanh nghiệp phải có một chứng chỉ. Trong khi đó, để có thể có được chứng chỉ ấy, chủ doanh nghiệp lại gặp những khó khăn không thể vượt qua, chẳng hạn, đòi hỏi phải thi, sát hạch về ngoại ngữ…

Continue reading

GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG: LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 TỪ MỘT GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI LUẬT CÔNG TY 2005 CỦA CHND TRUNG HOA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [1].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [2]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [3].

Continue reading

DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN GIA ĐÌNH ĐỘI NHẦM MŨ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN

AGROINFOR – Hiện nay phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu cấp bách để có thể phát triển nền nông nghiệp hàng hóa cạnh tranh, hiện đại. Tuy nhiên, câu hỏi là làm thế nào để có thể khuyến khích và hỗ trợ các DNNVV này phát triển trong thực tế? Nhóm nghiên cứu của bộ môn Thể chế nông thôn là đầu mối thực hiện các nghiên cứu khác nhau để trả lời câu hỏi này.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số phát hiện của nhóm nghiên cứu liên quan đến tình hình phát triển của hai loại hình doanh nghiệp (DN) là Doanh nghiệp tư nhân gia đình và các Công ty TNHH ở nông thôn và những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với các loại hình DN này. Đây cũng là một trong những kết quả của đề tài nghiên cứu nhỏ được tiến hành ở Hà tây và Vĩnh Phúc. Kết quả này chỉ rõ thêm những lí do và nguyên nhân tại sao các DN ở nông thôn hiện nay khó có khả năng tích lũy vốn và mở rộng sản xuất. Nhiều DN chỉ sau thời gian đăng kí không lâu các hoạt động đã đi vào suy thoái.

1. Chức năng đã được phân định của mỗi loại hình doanh nghiệp

Không phải ngẫu nhiên mà trong các luật (doanh nghiệp, dân sự và kinh tế…), cả luật pháp quốc tế và trong nước, người ta lại phân loại doanh nghiệp thành nhiều loại[1]: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH), Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (DNTN)…Trong đó CTTNHH và DNTN là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất, chiếm đến 70-80% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Việc phân biệt các loại hình doanh nghiệp nói chung và sự phân biệt giữa CTTNHH và DNTN nói riêng không chỉ giúp cho các doanh nghiệp định hướng hoạt động có hiệu quả mà còn tạo điều kiện để Chính phủ có thể quản lí và có các giải pháp hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp. Một trong những cơ sở quan trọng để phân biệt DNTN và CTTNHH chính là sở hữu vốn. Từ sở hữu vốn này mà quy định nên hình thức tổ chức doanh nghiệp, tư cách, nghĩa vụ pháp lí của doanh nghiệp, quy định trách nhiệm quản lí, hỗ trợ và bảo hộ của Chính phủ đối với doanh nghiệp, chủ đầu tư.

Continue reading

TẠI SAO DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN KHÔNG ĐƯỢC GÓP VỐN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Một doanh nghiệp tư nhân (DNTN) muốn góp vốn với một công ty trách nhiệm hữu hạn nhưng bị Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM từ chối với lý do DNTN là loại hình trách nhiệm vô hạn. Sự từ chối đó là đúng, nhưng lý do thì không hẳn như thế vì vô hạn hay hữu hạn thì cũng là chịu trách nhiệm. Lý do của nó khác, liên quan đến những khái niệm pháp lý nền tảng về công ty.

Hai cách phát triển trái ngược nhau

Sự phát triển của định chế công ty ở ta so với định chế tương tự của các nước đi đầu trên thế giới thì ngược hẳn nhau. Ở các nước kia, công ty có trước sau đó mới có luật pháp điều chỉnh nó. Lý do là ở đó do nhu cầu của cuộc sống người ta phải giao ước, hứa hẹn (vay nợ, mua bán, lập hội). Sau đó họ cãi nhau; bèn thưa ra chính quyền; nơi này giải quyết và kết quả giải quyết tạo nên luật pháp. Ở đó thực tại cuộc sống có trước, luật pháp có sau. Đó là sự diễn tiến tự nhiên của lịch sử.

Ở ta luật pháp tạo nên thực tại cuộc sống. Và định chế công ty ở ta đã hình thành trong hoàn cảnh này. Trước năm 1990, không có DNTN hay công ty. Chính Luật Công ty năm 1990 tạo nên chúng; sau đó Luật Doanh nghiệp 2000 và 2005 tiếp tục cải tiến chúng. Vì từ luật pháp mà ra nên các loại hình doanh nghiệp được sắp xếp theo sự hợp lý: DNTN, hợp danh, trách nhiệm hữu hạn… Ở các nước khác, chúng không đi theo trình tự hợp lý đó. Lý do là từ trong cuộc sống chúng nảy sinh và không chính quyền nào muốn đụng cho đến khi có sự tranh chấp xảy ra trong nội bộ của chúng; chính quyền can thiệp và chúng trở thành một định chế theo luật pháp. Chẳng hạn ở Anh, nước phát triển nhất trong thế kỷ 19 và trở thành mẫu mực cho các nước khác về các loại hình doanh nghiệp, thì luật công ty cổ phần của họ có vào năm 1862, trong khi luật công ty hợp danh mãi đến năm 1890 mới có, còn DNTN không có luật! Đấy là vì người ta coi DNTN là một con người (một thể nhân trên 18 tuổi) và hoạt động của nó bị chi phối bởi các luật căn bản dành cho thể nhân kia (hợp đồng, dân sự…). Thành ra nếu chúng ta lấy các khái niệm pháp lý trong luật pháp của mình, vốn phát sinh theo sự hợp lý, để suy ra những thứ tương tự trong luật của các nước, vốn phát sinh theo nhu cầu cuộc sống, thì nhiều lúc thấy khó hiểu và dễ hiểu sai. Do đó phải đi riêng lẻ vào từng khái niệm pháp lý nhất định.

Continue reading

QUẢN TRỊ THÔNG QUA VAI TRÒ NGƯỜI ĐẠI DIỆN

THÀNH TRUNG

Tái cấu trúc công ty trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động đang là một trong những ưu tiên quan trọng của các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang diễn ra.

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) là một định chế tài chính đặc biệt, được thành lập với nhiệm vụ thay mặt Nhà nước để quản lý phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cổ đông nhà nước thông qua người đại diện phần vốn này tại doanh nghiệp.

SCIC thực hiện việc chuyển vốn và đầu tư vốn để tối đa hóa hiệu quả vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cùng với việc tối đa hóa tăng trưởng vốn và lợi nhuận của các DNNN được đặt tại các khu vực khác nhau thông qua đầu tư và tái đầu tư.

Tính đến ngày 31-7-2009, SCIC đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 746 doanh nghiệp với tổng giá trị phần vốn nhà nước theo sổ sách kế toán là 7.687 tỉ đồng. Có tổng số 914 người đại diện phối hợp với SCIC thực hiện quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, trong đó 740 người đại diện giữ các chức danh lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp (ban giám đốc), chiếm 81%; 150 người đại diện kiêm nhiệm là cán bộ các đơn vị thuộc các bộ, ngành, địa phương, chiếm 16%; và 24 người đại diện là cán bộ của SCIC, chiếm 3%.

Tại hội nghị người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp khu vực phía Bắc, vừa được SCIC tổ chức, vấn đề nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp (QTDN) trong các DNNN cổ phần thông qua vai trò của người đại diện đã được đặt ra.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA THƯƠNG HIỆU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TS. BÙI HỮU ĐẠO

Thương hiệu là một trong các nhân tố quan trọng góp phần duy trì, mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, các doanh nghiệp đứng trước việc cạnh tranh gay gắt, nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Vì vậy, điều hết sức cần thiết là các doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu cho hàng hóa của mình.

Thương hiệu là gì?

Hiện nay, thuật ngữ thương hiệu đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Tuy hiện đang tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau xoay quanh thuật ngữ này. Trong văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ thương hiệu mà chỉ có các thuật ngữ liên quan khác trong đó có nhiều quan điểm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp… Như vậy, có thế hiểu thương hiệu một cách tương đối như sau:

Thương hiệu, trước hết là một thuật ngữ dùng nhiều trong marketing; là hình tượng về một cơ sở sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là doanh nghiệp) hoặc hình tượng về một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dich vụ; là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp khác. Các dấu hiệu có thể là các chữ cái, con số, hình vẽ, hình tượng, sự thể hiện màu sắc, âm thanh… hoặc sự kết hợp các yếu tố đó. Nói đến thương hiệu không chỉ nhìn nhận và xem xét trên góc độ pháp lý của thuật ngữ này mà quan trọng hơn, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam cần nhìn nhận nó dưới góc độ quản trị doanh nghiệp và marketing. Như vậy thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng. Trước hết nó là hình tượng về hàng hóa (sản phẩm) hoặc doanh nghiệp. Tuy vậy nếu chỉ là hình tượng với cái tên, biểu trưng thôi thì chưa đủ; đằng sau nó cần phải là chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cách ứng xử của doanh nghiệp với khách hàng, cộng đồng, những hiệu quả và tiện ích đích thực cho người tiêu dùng do hàng hóa và dịch vụ mà nó mang lại…thì thương hiệu đó mới đi sâu vào tâm trí khách hàng.

Continue reading