LY HÔN Ở TUỔI 75?

Họ đã chung sống vợ chồng hơn nửa thế kỷ, có với nhau 7 đứa con và hầu hết đã thành gia thất. Người con lớn năm nay đã 50 tuổi, cháu chắt nội ngoại đề huề, nhưng vì những mâu thuẫn không thể hòa giải, cặp vợ chồng già này đã viết đơn đưa nhau ra tòa khẩn thiết xin được ly dị ở cái tuổi “xưa nay hiếm”.

Vụ việc hy hữu này kéo dài nhiều năm nay, nhưng vẫn chưa ngã ngũ khi mâu thuẫn cuối cùng vẫn là chuyện chia chác đất đai.

Đã muốn ly dị từ 20 năm trước!

Phiên tòa giải quyết vụ hậu ly hôn giữa ông Nguyễn Như Cương (SN 1932) và bà Trần Thị Cẩm (SN 1935) diễn ra ở TAND tỉnh Nghệ An ngày 21/3/2008.

Continue reading

HÀNH VI VI PHẠM VIỆC CẤP DƯỠNG CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN KHÔNG CẤU THÀNH TỘI PHẠM

TRỊNH TIẾN VIỆT – Khoa luật ĐH quốc gia Hà Nội

Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 2/2001 có đăng bài viết của tác giả Vũ Thanh Xuân – Đội thi hành án huyện Thới Bình, Cà Mau về trường hợp cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc cấp dưỡng, nhưng người phải thi hành án về việc cấp dưỡng lại cố tình không chấp hành án, mặc dù đã được cơ quan thi hành án đôn đốc và xử phạt hành chính. Trong trường hợp này, người phải thi hành án có phạm tội không, nếu có thì phạm tội gì?

Tác giả bài viết có đưa ra hai quan điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án này. Quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi của người phải thi hành án đã phạm tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS năm 1999). Quan điểm thứ hai lại khẳng định người này phạm tội không chấp hành án (Điều 304 BLHS năm 1999).

Continue reading

"CỦA ANH, CỦA TÔI" KHI LY HÔN

DIỆU NGA – Báo Pháp Luật TPHCM

Đưa nhau đến tòa ly hôn thường cũng là lúc người ta đem “của anh, của tôi, của chúng ta” ra cân đo, đong đếm. Cái tình, cái nghĩa của bao nhiêu năm đầu gối tay ấp đều bay biến hết…

1. Thiên tình sử của 10 năm về trước, giờ đây được anh L. và chị H. mang ra trình tòa. Ngày chưa cưới nhau, anh hào phóng tặng chị 10 triệu đồng để chị học nghề y. đáp lại tấm thịnh tình đó là một đứa con ra đời trước dự định. Dù hơi hổ mặt với bà con lối xóm nhưng với tấm lòng nhân hậu, mẹ anh đã tổ chức một tiệc cưới linh đình để đón chị về làm dâu.

Hạnh phúc tưởng như lớn dần cùng với đứa con trai kháu khỉnh. Thế nhưng những va chạm trong sinh hoạt hàng ngày, những phức tạp trong quan hệ nàng dâu-gia đình chồng cứ tích tụ dần theo thời gian mà không được cởi bỏ. Rồi cũng đến lúc mâu thuẫn bùng nổ nặng nề và họ dễ dàng đưa nhau ra tòa để đường ai nấy đi. Continue reading

VỤ ÁN TRANH NHAU CON TRÂU CỒ

Tòa tuyên mỗi bên được sở hữu một con trâu nhưng không nêu rõ là con nào nên gần 20 năm nay không thể thi hành án.

Chung sống với nhau gần 40 năm trời và có đến 14 mặt con, đùng một cái, vợ chồng ông T. ở ấp Vinh Thuận, xã Ngọc Thuận, Giồng Riềng (Kiên Giang) lại kéo nhau ra tòa xin ly hôn. Hòa giải, tòa mới vỡ lẽ nguyên nhân lục đục trong gia đình họ xuất phát từ chuyện tiền nong: Nghi ngờ vợ dành dụm “quỹ đen”, ông T. đã đuổi bà ra khỏi nhà, mâu thuẫn kéo dài.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NGUYỄN MINH HẰNG  – Học viện tư pháp

NGUYỄN MINH HIẾU  – Toà dân sự TAND TP HCM

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 lần đầu tiên đã pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự, trong đó có việc hôn nhân và gia đình. Có thể nói, đây là một bước đột phá về thủ tục tố tụng, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc giải quyết nhanh, giản lược các việc mang tính chất đặc trưng là không có tranh chấp, nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự, hôn nhân gia đình… Bên cạnh những ưu điểm, thực tiễn thụ lý và giải quyết các việc dân sự (theo nghĩa rộng) nói chung và việc hôn nhân gia đình nói riêng đã và đang đặt ra khá nhiều vướng mắc cần tháo gỡ và cần có sự hướng dẫn thống nhất. Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 131/2002/KHXX CỦA TANDTC VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 131/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 131/2002/KHXX NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Sau khi nghiên cứu Công văn số 65/DS ngày 14-5-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1 Điều 14 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ở Việt Nam giải quyết. Theo nội dung Công văn của quý Toà, thì chị Nguyễn Thị Hồng Diễm trước khi xuất cảnh sang Pháp định cư đã cư trú ở Bình Định; do đó, trong trường hợp này Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án xin thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Hạnh và chị Diễm là Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nơi cư trú cuối cùng của chị Diễm ở Việt Nam.

Bởi vậy, nếu quý Toà chưa thụ lý vụ án về việc anh Võ Duy Hạnh yêu cáu thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn thì quý Toà cần giải thích, hướng dẫn cho anh Hạnh nộp đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; nếu quý Toà đã thụ lý vụ án, thì căn cứ vào quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quý Toà cần chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền và thông báo cho anh Hạnh biết.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 112/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỤ LÝ VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi :

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp cụ thể. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 2337/CV-VKSTC ngày 12 tháng 9 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

1. Khi giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thời điểm thụ lý vụ án được xác định là trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết có xem xét, tham khảo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề mà Toà án đang giải quyết như hướng dẫn tại điểm c mục 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QHl0 ngày 9/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình".

a. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001 mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử sơ thẩm;

b. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm;

c Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

d. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị huỷ để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại.

2. Trong trường hợp khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án về hôn nhân và gia đình mà Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ toàn bộ các bản án hoặc quyết định về vụ án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền (có thể chính Toà án đã giải quyết sơ thẩm vụ án đó; có thể là Toà án khác cùng cấp; có thể là Toà án trên một cấp hoặc dưới một cấp) giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung, thì thời điểm thụ lý vụ án là ngày Toà án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm lại nhận được hồ sơ vụ án. Nếu từ ngày 01/01/2001 trở đi mới thụ lý, thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

3. Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình", thì trong mọi trường hợp đều áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn sửa đổi hoặc bổ sung.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)