NHÌN LẠI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ THƯƠNG MẠI HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

NGUYỄN NGỌC TUYỀN – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

1. Đặt vấn đề
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chính phủ hai nước Việt Nam – Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992). Trong khoảng thời gian đó, mối quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến rất sinh động, tích cực và đạt được nhiều thành quả trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam như một thị trường mới mẻ, đầy hứa hẹn. Nắm bắt tiềm năng này, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc cũng là thị trường thu hút nhiều lao động xuất khẩu của nước ta. Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) với mục tiêu truyền bá hình ảnh văn hóa Hàn Quốc ra thế giới đã ồ ạt tràn vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ… Có thể nói, dấu ấn Hàn Quốc để lại đối với xã hội Việt Nam trong gần hai mươi năm quan hệ ngoại giao là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mặt tốt cũng nhiều, nhưng mặt xấu cũng không ít. Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận Việt Nam, Hàn Quốc. Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế giữa cô dâu Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc.

2. Vài nét về thực trạng môi giới kết hôn thương mại giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc

Từ vài năm trở lại đây, thỉnh thoảng báo chí Việt Nam và Hàn Quốc lại gây xôn xao dư luận của hai xã hội với những bài báo viết về những vụ việc đau lòng xảy ra đối với một số cô dâu Việt Nam bất hạnh trên xứ người. Cô dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với người chồng Hàn Quốc. Cô dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết… Trong suốt năm 2008, xã hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều tỏ ra rất bất bình trước vụ việc cô dâu Việt Nam bị nhà chồng tước  đoạt quyền nuôi con, không cho cô  được tiếp xúc với hai  đứa con của mình ngay sau khi cô sinh xong. Và gần đây nhất là vụ việc cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn là người có vấn đề về thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan.

Continue reading →

LẤY CHỒNG XA XỨ: CẦN CÓ CÁI NHÌN TỈNH TÁO VÀ CÔNG BẰNG

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ

Hôn nhân dị chủng (khác chủng tộc, quốc gia) hay hôn nhân quốc tế là chuyện xưa như trái đất. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây nó phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và hội nhập kinh tế.

Bản thân các quốc gia chỉ có một dân tộc luôn đề cao sự “thuần chủng giống nòi”, tỏ ra rất dị ứng đối với hôn nhân dị chủng như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc nay cũng phải mở cửa chấp nhận hôn nhân từ bên ngoài do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do thiếu nguồn lực lao động và chênh lệch giới tính.

Phụ nữ Việt Nam bắt đầu lấy chồng Đài Loan năm 1992, rộ lên từ năm 1994 (530 người), cao điểm nhất năm 2000 là 16.000 người, cho đến nay số phụ nữ lấy chồng Đài Loan là khoảng 58.000 người, nhưng từ 2005 bắt đầu giảm xuống và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tăng lên, đến nay khoảng 25.000 người. Trước hiện tượng có nhiều phụ nữ không tìm được hạnh phúc ở xứ người, có người phải bỏ trốn, bị hành hạ, bị qua tay nhiều người, thậm chí phải tự tử, xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó đa phần tỏ ra thương hại, trách móc và có cả lên án, phỉ nhổ. Chúng ta hãy bình tĩnh để nhìn nhận lại hiện tượng này.

Cần có cái nhìn công bằng hơn

Theo nghiên cứu của GS Phan An thì khoảng 9% phụ nữ Việt Nam thất bại trong hôn nhân với người Đài Loan. Còn ông David Ngô, chủ nhiệm văn phòng kinh tế – văn hoá Đài Bắc tại TP.HCM đưa ra còn số là 8%. Tương tự GS Kim Hyun-jae thuộc trường đại học Youngsan đánh giá khoảng 7% phụ nữ Việt Nam không hạnh phúc khi lấy chồng Hàn Quốc.

Như vậy con số gia đình không hạnh phúc trong hôn nhân dị chủng là dưới 10%. Nhưng chúng ta cần biết con số này chắc chắn thấp hơn nhiều so với gia đình Việt Nam không hạnh phúc. Từ sau đổi mới số gia đình ly hôn tăng nhanh, có nghiên cứu đáng tin cậy là khoảng 17%, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau là khá cao, bất bình đẳng giới còn khá phổ biến. Như thế có thể khẳng định là số phụ nữ bất hạnh do hôn nhân với người nước ngoài không cao hơn trong nước, thế nhưng tại sao lại trở thành một hiện tượng được xã hội quan tâm, có lẽ bởi vì cũng một hành động bị đối xử tệ như nhau thì đối với người phụ nữ Việt Nam ở trong nước còn cha mẹ, anh em, bà con xóm giềng, các hội đoàn trợ giúp, còn ở nước ngoài thì họ thân cô, thế cô và hầu hết là không biết tiếng cho nên tình cảnh càng trở nên bi thảm hơn.

Continue reading →

BÀN VỀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN: TỪ TUỔI ĐÃ THÀNH NIÊN ĐẾN TUỔI KẾT HÔN CỦA NAM GIỚI

TS NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG – PHÓ CHỦ NHIỆM KHOA LUẬT DÂN SỰ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

Với sự phát triển của xã hội, trẻ em hiện nay đã vượt trội hơn trẻ em ngày xưa rất nhiều về thể chất và tâm sinh lý. Chiếc áo tuổi thành niên vì vậy không còn phù hợp để khoác lên mình trẻ nữa. Chính vì không được cho những quyền tương thích với sự phát triển tự nhiên nên đã dẫn đến nhiều trẻ bức bối, xé rào quy định tuổi, dẫn đến những sự việc đau lòng. Nhiều vụ án trẻ em phạm tội thực chất các em đã là người lớn. Những nhận định này liệu có cơ sở và có nên thay đổi quy định tuổi thành niên, một cơ sở để xác lập nhiều quyền công dân khác cho trẻ? Chúng tôi giới thiệu ý kiến của hai chuyên gia dưới đây và mong nhận được những ý kiến luận bàn khác để soi rọi thấu đáo hơn vấn đề này.

Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh lý, sức khoẻ và sự phát triển của nhận thức người đó. Trước đây, người ta cho rằng, sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn so với nam. Tuy bằng tuổi, nhưng con gái thường dậy thì trước và nhận thức cũng già dặn hơn bạn nam cùng tuổi. Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay đã khác trước rất nhiều. Điều này thể hiện ở chất lượng cuộc sống hiện đại ngày càng cao. Trẻ ngày nay được nuôi dưỡng đầy đủ về mặt dinh dưỡng nên sự phát triển cơ thể đang có xu hướng sớm hơn trước đây, nhất là trẻ em ở thành phố. Bên cạnh đó là môi trường giáo dục tri thức, nhận thức cho trẻ. Ngày nay, các bạn trẻ có nhiều điều kiện để hoàn thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhận thức từ nhiều kênh khác nhau. Và việc phát triển này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ ít có chênh lệch rõ ràng như trước.

Nam giới lập gia đình ở độ tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm sinh lý, họ có thể gánh vác được trách nhiệm gia đình. Thứ nữa là về mặt nhận thức, trí thức so với mặt bằng xã hội, để người ta có một nhận thức nhất định, để có thể ứng xử trong gia đình, thực hiện nghĩa vụ trong gia đình tốt… họ cũng được thụ hưởng tương đương với nữ giới. Người ta từng đề cập đến vấn đề bình đẳng giới, vậy tại sao việc quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay có sự bất bình đẳng như vậy mà lại không được điều chỉnh?

Quy định tuổi thành niên hiện hành

Theo quy định của bộ luật Dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người từ dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Tuy nhiên theo các quy định của bộ luật Hình sự thì người chưa thành niên từ 14 tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự cũng không quy định thế nào là thành niên hay chưa thành niên nhưng bộ luật này cho phép xác định người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên. Nhìn từ góc độ tổng quát nhất, Hiến pháp Việt Nam dành đủ một chương về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, theo đó, một người chỉ có trọn vẹn quyền công dân khi họ đủ 21 tuổi trở lên.

Continue reading →

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT: CHUNG SỐNG TRƯỚC NGÀY 3 THÁNG 1 NĂM 1987 LÀ HÔN NHÂN THỰC TẾ?

TÙNG CHI

Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội.

Có người nói nam nữ cứ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế, có người lại bảo phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận…

Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung. Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C. Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C. Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không?

Chỉ cần chung sống như vợ chồng?

Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữa ông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức (không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).

Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác. Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.

Continue reading →

MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN VỀ KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TS. CHU HẢI THANH

Ngày 09/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khóa X Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới – đây là đạo luật thứ ba trong vòng 40 năm qua về lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta.

Điều mới dễ nhận thấy nhất là quy mô của đạo Luật Hôn nhân và gia đình lần này đã đạt mức độ hoàn chỉnh cao về dung lượng, nhắm tới việc đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đọan phát triển mới của đất nước. So với 10 điều liên quan trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, 6 chương 35 điều của Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và 10 chương 57 điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với 13 chương và 111 điều đã có bước tiến rất lớn, đạt tầm vóc của một bộ luật.

Nhưng việc đánh giá hiệu qủa và sự hoàn chỉnh của một văn bản pháp quy quan trọng không chỉ căn cứ vào số lượng điều khoản, mà vấn đề căn bản là phải xem xét những ưu điểm về nội dung mà văn bản đó thể hiện. Những ưu điểm như vậy trong Luật Hôn nhân và gia đình mới là rất nhiều.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin chỉ đề cập một số điểm mới nổi trội trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc kết hôn nhằm góp phần quán triệt đầy đủ hơn nội dung của nó.

Về căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn giữ quy định về 3 điều kiện tối thiểu phải có để được phép kết hôn vốn đã định hình và mang tính truyền thống trong hai đạo Luật Hôn nhân và gia đình trước đây là độ tuổi, sự tự nguyện của nam nữ và thủ tục đăng ký việc kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Điều 9 và Điều 11).

Continue reading →

NHỮNG TẬP TỤC ĐẶC BIỆT TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI GIẺ TRIÊNG

DƯƠNG THỦY

Người Giẻ Triêng là một dân tộc thiểu số sống tập trung ở phía Bắc tỉnh Kon Tum. Tộc người này cư trú chủ yếu ở vùng núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế tự túc, tự cấp là chủ yếu. Vì vậy người Giẻ Triêng vẫn giữ được những nét văn hoá hết sức độc đáo trong đó có các nghi lễ trong hôn nhân.

Trong hôn nhân người Giẻ Triêng cấm kết hôn với người cùng dòng họ nhưng ý thức lấy vợ lấy chồng lại rất sớm. Trước đây, tuổi kết hôn của tộc người này từ 15 – 16 tuổi. Hôn nhân chủ yếu do bố mẹ “đặt đâu con ngồi đấy” và vẫn yêu cầu “môn đăng hậu đối”. Đôi trai gái khi yêu nhau, nếu được bố mẹ đồng ý thì hai gia đình chuẩn bị lễ cưới. Lễ cưới phải giữ bí mật với người ngoài. Theo phong tục thì lễ đính hôn được tổ chức bất ngờ bao nhiêu thì đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc bấy nhiêu. Tuy nhiên, hiện nay lớp trẻ có phần chủ động hơn trong hôn nhân của mình.

Trong hôn nhân của người Giẻ Triêng có hai tập tục hết sức độc đáo đó là: Bó củi hứa hôn và trao vòng cầu hôn.

Ngoài các tiêu chuẩn phải biết đan chiếu, dệt vải, các cô gái còn phải chuẩn bị cho mình các bó củi hứa hôn. Đây là việc làm rất quan trọng mà các bà mẹ thường dạy con gái.

Trước đây quy định là 100 bó, mỗi bó phải một người vác nặng thì cô gái mới bắt được chồng. Đây là loại củi dài khoảng 80cm, thẳng đẹp, cháy phải đượm. Khi chặt cây các cô phải dùng dao sắc để chặt . Điều này chứng tỏ cô gái có sức khoẻ và khéo léo. Để có đủ số củi quy định các cô gái phải chuẩn bị củi trong khoảng từ hai đến ba năm. Ngày nay, củi được chẻ từ các cây gỗ to và bó thành từng bó, xếp lại trông rất đẹp mắt. Trong trường hợp không chuẩn bị kịp thì có thể nhờ các bạn gái trong làng giúp đỡ.

Continue reading →

THẨM QUYỀN HỦY BỎ CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THANH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading →

CÔNG CỤ PHÁP LÝ BỊ LÃNG QUÊN

PHẠM THÁI QUÍ

Công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc về hôn nhân và gia đình của ngành Toà án cho thấy, tình trạng vi phạm chế độ một vợ một chồng xảy ra tương đối nhiều, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi nhưng rất ít khi bị xử lý.

Kết hôn chưa được bao lâu thì vợ chồng anh T, chị H phát sinh mâu thuẫn. Do suy nghĩ nông nổi nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tuy giận chồng bỏ đi, nhưng chị vẫn mong anh T đến đón về sum họp gia đình. Nào ngờ, anh T không đoái hoài đến chị nữa. Biết đã lỡ bước ra đi thì rất khó quay trở về nên chị H làm đơn yêu cầu TAND huyện TH giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện TH đã triệu tập anh T đến để hoà giải, nhưng anh T cố tình vắng mặt. Toà án phải cử cán bộ về địa phương để xác minh và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tiến hành hoà giải. Khi nhóm cán bộ của Toà án đến trụ sở UBND xã thì được biết, anh T. đã cưới vợ khác và sắp sinh con.

Trường hợp của anh S và chị L còn tệ hơn. Trong thời gian chị L về nhà mẹ đẻ sinh con, anh S đã quen biết rồi phát sinh tình cảm với chị V. Bỏ qua tình nghĩa vợ chồng, vượt cả rào cản pháp luật, anh S đã quyết định đến chung sống như vợ chồng với chị V mà không quan tâm đến mẹ con chị L nữa. Khi đứa con chung của anh S và chị V đến tuổi đi học, anh S đưa con đến đăng ký nhập học thì nhà trường không chấp nhận, vì cháu không có giấy khai sinh. Lúc này anh S mới làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với chị L để được kết hôn với chị V…

Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng. Nguyên nhân xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, trước hết là do hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế nhưng không được các tổ chức, đoàn thể tuyên truyền, giải thích để họ chấm dứt hành vi vi phạm. Trong khi đó, những người vợ hợp pháp lại luôn quan niệm không nên “vạch áo cho người xem lưng”, do đó cam chịu mà không lên tiếng. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do thiếu trách nhiệm, nên chính quyền địa phương đã làm ngơ, không xử lý kịp thời để răn đe giáo dục đối tượng vi phạm. Cán bộ địa phương vẫn coi việc chung sống không hợp pháp là chuyện tình cảm riêng tư nên ít quan tâm, xử lý.

Continue reading →

NHIỀU SAI SÓT TRONG VIỆC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở CƠ SỞ

NGUYỄN THANH XUÂN

Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn của công dân hiện nay được thực hiện theo Nghị định 158 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo đó, UBND cấp xã là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn cho công dân trong nước. Tuy nhiên, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch cho thấy, vẫn còn nhiều sai sót trong quá trình giải quyết đăng ký kết hôn cho người dân, dẫn đến nhiều hệ lụy pháp lý phát sinh sau này.

Điều 18 Nghị định 158 quy định, khi đến đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã- nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thì hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai theo mẫu quy định và xuất trình chứng minh nhân dân. Trong trường hợp, một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Quy định như vậy, nhưng qua kiểm tra, có nhiều hồ sơ một trong các bên nam, nữ không tiến hành xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định, hoặc có xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã quá hạn 6 tháng mà UBND cấp xã vẫn giải quyết cho đăng ký kết hôn. Lẽ ra, trong trường hợp này phải yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân, nhưng cán bộ hộ tịch cơ sở vẫn giải quyết cho đương sự đăng ký kết hôn là không đúng luật. Ngược lại, chỉ yêu cầu các bên nam, nữ xuất trình chứng minh nhân dân để đối chiếu với tờ khai đăng ký kết hôn theo thủ tục, nhưng nhiều cán bộ hộ tịch vẫn yêu cầu người dân phải photo nộp cả chứng minh nhân dân, gây phiền phức cho người dân.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhiều UBND cấp xã giải quyết chưa đúng quy định. Theo luật định, để UBND cấp xã giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn cho người dân là 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ, thủ tục hợp lệ; nếu xác minh các vấn đề nào khác thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Nhưng thực tế vẫn có nhiều hồ sơ gần 1 tháng vẫn chưa giải quyết, gây nhiều phiền hà cho người dân.

Continue reading →

NHỨC NHỐI NẠN TẢO HÔN

BIÊN THÙY

Tiếp nối tập tục xưa, rất nhiều đứa trẻ ở huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế vẫn kết hôn sau tuổi lên 10. Vấn nạn tảo hôn vừa là nguyên nhân của sự nghèo đói và những cái chết đau lòng tại đây.

Ông Hồ Văn Liên, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, cho biết hầu như năm nào ở xã cũng có 10 cặp tảo hôn. Đây chỉ là số trường hợp mà xã nắm được, vì các cặp vợ chồng trẻ con đều không đăng ký kết hôn.

Lấy chồng từ thuở 13

Chúng tôi ghé thăm đôi vợ chồng nhí Hồ Văn Chùn -15 tuổi và Hồ Thị Lài – 14 tuổi mới cưới hồi đầu năm. Căn nhà của vợ chồng Chùn trống hoác nép mình sau vách núi Trường Sơn.
Một cô bé người hơi thấp, da đen sạm, bụng mang thai sắp sinh vừa bước ra chào khách vừa lau vội những giọt nước mắt. Tiếp chúng tôi, hai cô cậu lộ rõ vẻ mất tự nhiên.

Continue reading →

LUẬT TỤC NÚI RỪNG

ĐINH THỊ NGA – QUẾ HÀ

Bên cạnh những tục lệ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày nay đã trở thành những nét văn hóa đặc sắc mang yếu tố truyền thống đa dạng, thì nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn dai dẳng đeo bám, không chỉ cản trở nếp sống văn minh mà còn là những nguyên nhân trực tiếp đẩy không biết bao nhiêu thân phận nam nữ thanh niên vào bi kịch.

1. Bắt chồng

Có mặt ở nhiều bản làng, PV Thanh Niên chứng kiến nhiều hủ tục đáng sợ: Từ thách cưới đến việc kết hôn cùng huyết thống; từ chuyện tảo hôn đến thân phận chàng rể trong chế độ mẫu hệ…

Bắt chồng là một nét văn hóa đặc thù không chỉ của người Chu Ru ở Đơn Dương (Lâm Đồng) mà hiện còn tồn tại ở rất nhiều tộc người khác ở vùng dọc Trường Sơn – Tây Nguyên nhưng “giá” của các chàng trai ở đây cao ngất ngưởng đã đẩy không biết bao nhiêu gia đình bên vợ vào bước đường cùng.

Huyện Đơn Dương chỉ cách Đà Lạt khoảng 40 km, nhưng khi tìm hiểu về tục “bắt chồng” ở đây, chúng tôi cảm tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác…

Lễ vật lấy chồng

Xã Ka Đơn có 538 hộ người Cơ Ho, 215 hộ người Chu Ru vẫn đang lưu giữ tục “bắt chồng”. Theo đó, người con gái đến tuổi lấy chồng sẽ được cha, mẹ hoặc người mai mối “tia” cho một tấm chồng. Tất cả việc đám hỏi, đám cưới do nhà gái lo liệu. Sau khi cưới, chàng rể về sống bên nhà vợ. Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: XÁC NHẬN LƠ MƠ, NGƯỜI KẾT HÔN GẶP KHÓ

PHAN NHÂN

Nhiều UBND xã chưa làm rõ tình trạng hôn nhân hoặc chưa xác định đương sự đã ly hôn theo bản án nào. Để đăng ký kết hôn, đương sự phải được cơ quan thẩm quyền xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng. Việc xác nhận có thể bằng tờ giấy riêng rẽ hoặc trong tờ khai đăng ký kết hôn. Nhưng nhiều UBND xã lại xác nhận chưa đầy đủ hoặc không chính xác về việc này, gây khó cho người muốn kết hôn lẫn các cơ quan chức năng.

Không nêu căn cứ

Thông tư 01 ngày 2-6-2008 của Bộ Taư pháp hướng dẫn: Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại… đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số… ngày… tháng… năm… của TAND…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai).

Tuy nhiên, nhiều xã của tỉnh Đồng Tháp đã chứng như thế này: “Nguyễn Thị Thùy Dung, đang cư trú tại…, đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Nguyễn Thị Bé Lan… chưa đăng ký kết hôn lần hai tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Phạm Kim Nga… trước năm 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn, sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”. Các xác nhận này đều chưa thể hiện được đương sự đã ly hôn theo bản án nào, do TAND nào xét xử.

Không đúng sự thật

Không chỉ thiếu sót, nhiều xác nhận còn sai hoàn toàn. Như bà N. (tỉnh Đồng Tháp) kết hôn với một người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), đã ly hôn theo bản thuận tình ly hôn do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật (Đài Loan) cấp năm 2004 và được Sở Ngoại vụ TP.HCM hợp pháp hóa lãnh sự năm 2005. Đầu năm 2009, bà N. đến UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để chuẩn bị nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với một người Đài Loan khác.

Continue reading →

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ XÁC NHẬN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN KHÔNG CHÍNH XÁC

PHAN NHÂN

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho cá nhân là nhằm chứng minh tình trạng hôn nhân của đương sự trong thời điểm hiện tại để sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc thực hiện vào các mục đích khác và thẩm quyền xác nhận là do UBND cấp xã nơi cư trú của đương sự. Thời gian qua, một số UBND cấp xã đã xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ ràng, thiếu chính xác, không thể hiện được tình trạng hôn nhân của đương sự. Do đó, cơ quan tiếp nhận không thể biết tình trạng “hôn nhân thực” của đương sự.

Thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định 158), Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 158 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Thông tư số 01) thì việc xác nhận tình trạng hôn nhân của một người được thể hiện bằng hai hình thức: xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn trong nước và có yếu tố nước ngoài (dùng cho kết hôn) hoặc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định (dùng cho kết hôn và mục đích khác). Thực tế thời gian qua địa phương đã thực hiện tốt vai trò này và giúp cho người dân thực hiện các thủ tục, giao dịch của mình được thuận lợi hơn cũng như thể hiện vai trò quản lý Nhà nước. Tuy nhiên dù đã được Sở Tư pháp nhiều lần hướng dẫn thông qua công tác kiểm tra, các bài viết đăng trên chuyên mục của Bản tin Tư pháp… nhưng vẫn còn tình trạng nhiều cán bộ Tư pháp lúng túng trong việc tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận sai, chưa đầy đủ trong nội dung xác nhận này.

1. Xác nhận tình trạng hôn nhân, mỗi nơi một kiểu!

Qua việc tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Sở Tư pháp, phát hiện hơn 90% các nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND cấp xã thực hiện chưa chính xác, chưa đầy đủ, không đúng với tình trạng hôn nhân thực tế của đương sự, không thống nhất với nhau, sai quy định và không căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư số 01 mà mỗi nơi có “sáng kiến” riêng. Sau đây chúng tôi “giới thiệu” một số nội dung xác nhận sai để cán bộ Tư pháp hộ tịch rút kinh nghiệm.
“Nguyễn Thị Thùy Dung sinh năm 15/01/1982 HKTT: ấp 1, xã TK-TM-ĐT đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Đ/s Nguyễn Thị Bé Lan SN: 1979 ngụ ấp ĐH, xã TTĐ, thành phố C – Đồng Tháp chưa đăng ký kết hôn lần 2 tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Đ/s Phạm Kim Nga SN 1984 cư trú ấp Bình Hòa xã BT, LV, Đồng Tháp từ trước 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”; “Công dân Trần Thị Kim Phượng, SN 1981 có HKTT ấp An Hòa, xã MAHB, huyện LV tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”; “Đ/s Hà Thị Nhung, SN 29/9/1972, HKTT ấp Hòa Trung, xã HT, huyện CT-ĐT. Đã ly hôn nay đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”… Qua đây, ta thấy rằng nội dung các xác nhận trên chưa thể hiện việc đương sự đã kết hôn và ly hôn theo Bản án ly hôn số…, ngày…, tháng…năm… của Tòa án nhân dân…., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, cơ quan tiếp nhận, nhất là Sở Tư pháp từ chối nhận hồ sơ đăng ký kết hôn vì nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của đương sự “không đảm bảo” và không biết tình trạng hôn nhân hiện tại của đương sự như thế nào. Và “đương nhiên” đương sự phải xác nhận lại (có UBND xã xác nhận đến… 3 lần vẫn không đúng). Dù lỗi này của UBND cấp xã và cán bộ Tư pháp hộ tịch, người trực tiếp tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận “không chuẩn” nhưng gây phiền hà cho người dân phải đi lại nhiều lần. Việc này trái với các quy đinh tại khoản 2, Mục I của Thông tư số 01.

Continue reading →

THẢM QUYỀN HUY BỎ GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THÀNH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading →

QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN VỀ SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN

LÊ HỒNG NHẬT

Trong vài thập niên gần đây, rất nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện tượng liên quan đến tình dục của giới trẻ như “sống thử”, nạo thai, đang ngày càng phổ biến. Và điều đáng nói là cơn sốt “tình yêu” đó cũng đã ảnh hưởng tới giới sinh viên. Nên nhìn nhận vấn đề này thế nào? Đó chính là chủ đề nghiên cứu thu hút sự chú ý của nhóm các bạn sinh viên Khoa Kinh tế, ĐHQG TP HCM, gồm Hải Yến, Phương Hà, Ánh Hồng, Đan Thanh, và Lệ Thủy.

Dựa trên những nghiên cứu xã hội học và tâm lý học, các bạn đã phân chia các yếu tố chi phối ý muốn có quan hệ tình dục trong sinh viên thành hai nhóm chính sau: Thứ nhất là giáo dục và nhận thức. Điều này bao gồm các yếu tố chính như quan điểm cá nhân về tình dục trước hôn nhân và sự quan tâm của gia đình. Và thứ hai là điều kiện cá nhân. Bao gồm các điểm chính như hoàn cảnh kinh tế, điều kiện nhà ở, quan hệ yêu đương, giới tính, và nỗ lực học tập.

Đối với nhóm nhân tố thứ nhất, nổi lên rõ rệt nhất là nhận thức hay quan điểm của sinh viên về vấn đề sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân. Trong xã hội Việt nam, khi mà việc cha mẹ chỉ bảo con cái về quan hệ yêu đương, và việc giảng dạy trên học đường về hôn nhân, gia đình, còn có phần nào hạn chế, thì giới trẻ tự trang bị cho mình kiến thức về lĩnh vực đó qua nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh, tạp chí về yêu đương và gia đình, và cả các trang web về tình dục. Và cũng như ở mọi xã hội, quan điểm của giới trẻ chia thành 3 cấp độ: cho rằng đó là việc không nên làm, bình thường – không phê phán, cũng không hùa theo, và cuối cùng là có cái nhìn thoáng. Ngay ở điểm cuối cùng này cũng phức tạp hơn chúng ta nghĩ. Cái nhìn thoáng có thể là do bạn trẻ tò mò, hoặc thả mình theo kiểu thích “sống thử”, để sau này khỏi phải bị nhầm khi sống thật. Cũng có thể xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn. Chẳng hạn như một số sinh viên cho rằng, “sống chung là một cách thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình, quan hệ tình dục, vân vân, khi mà trinh tiết người con gái không phải là cái gì giữ ngọc gìn vàng" [theo tamlyhoc.net]. Thật sự, nếu với ý nghĩa như thế thì "sống thử" không hẳn là đáng chê trách mà còn có các khía cạnh tốt. Và tình dục ở đây chỉ là một điểm, dù là rất quan trọng, nhưng không phải là tất cả của việc sống thử. Điều này càng có ý nghĩa hơn, nếu ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hy sinh, và sự tự chủ bản thân, chứ không phải là một sự thỏa mãn, lợi dụng nhau về xác thịt hay tiền bạc.

Continue reading →

THỰC TRẠNG TẢO HÔN Ở VÙNG TÂY BẮC: CHUYỆN BUỒN "BẮT VỢ"

Untitled-1.psd BÙI HƯƠNG

Trời Tây Bắc xầm xì, dòng sông Đà bắt đầu mùa lũ. Xuôi theo sông, chúng tôi tìm về các bản Mông cao tút hút. Vẳng trong không gian, trên các sườn núi, lời hát tìm bạn của các chàng trai Mông ngân lên: Cú cò, nhỉa cò, cú nhỉa cò… (anh và em, anh và em yêu nhau) báo hiệu cho một mùa “bắt vợ”, “kéo vợ” bắt đầu…

Làm vợ từ thuở… 12

Tập tục “kéo vợ” của người Dao hay “bắt vợ” của người Mông vốn là một tập tục có từ lâu đời. Thông thường, vào những ngày rỗi việc, thóc, ngô đã về yên trong bồ, các chàng trai Mông, Dao thường nhờ cánh bạn cùng lứa đi “bắt”, “kéo” vợ về cho mình. Khi chàng trai người Mông, Dao nào đó để ý đến một cô gái bất cứ ở lứa tuổi nào mà anh ta thích, anh ta sẽ tổ chức đi “bắt” hay “kéo” về nhà mình để cúng trình ma, dù cô gái kia có yêu anh ta hay không. Đã bị bắt về nhà, cúng trình ma rồi thì cô gái kia đã trở thành vợ, thành dâu nhà người. Cô gái sẽ phải ở vậy suốt đời, không ai nhòm ngó nếu không lấy chàng trai đó. Vùng đất Tây Bắc – thượng nguồn sông Đà mỗi mùa “bắt vợ” qua đi, người ta không thể thống kê được có bao nhiêu thiếu nữ người Dao, người Mông đẹp như bông tớ dầy đã có người yêu trở thành nạn nhân của tập tục này.

Continue reading →

SỐNG CHUNG NHƯNG… KHÔNG PHẢI VỢ CHỒNG

TS TÂM LÝ. ĐINH PHƯƠNG DUY

Đồng thuận đi tìm hạnh phúc là hiện tượng đang xảy ra ở một số người, không phải là một “thử nghiệm” theo nghĩa “sống thử” mà là chuyện “sống thật” như vợ chồng nhưng chưa vội kết hôn. Phần lớn các cặp này có quan điểm sống cụ thể và cũng công khai sống thật, có trách nhiệm với nhau và với cả hai bên gia đình như là đã từng được công nhận vợ chồng nhưng vẫn không tuyên bố là chồng là vợ.

Nhiều người khẳng định cách họ sống chung là hoàn toàn tự nguyện và không hề “thua kém” gì kiểu sống của vợ chồng thật, chỉ có điều họ không có những ràng buộc về nghĩa vụ tình cảm và pháp lý.

Điều khá bất ngờ và thú vị là có không ít người thành đạt lại cảm thấy hợp với “gu” sống chung này. Họ có học, có tiền, có nghề nghiệp ổn định nhưng lại thích hình thức “hợp tác” kiểu như thế, xem nó như một giải pháp hợp lý khi chuyện lập gia đình có vẻ không còn quá hấp dẫn đối với họ nữa.

Anh Trần Đ., kỹ sư đang làm việc cho một công ty cổ phần hào hứng kể về chuyện của mình như một hiện tượng đột phá khi cho rằng, chuyện sống chung giữa hai người độc thân là hoàn toàn bình thường vì họ không hề phạm luật cũng như không hề “đánh cắp” tình cảm hoặc phá tan hạnh phúc của bất kỳ ai. Họ thoả thuận sống với nhau theo những quy tắc riêng và hoàn toàn thoải mái nếu cả hai thống nhất việc chấm dứt hay tiếp tục mối quan hệ.

Continue reading →

SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN: VUI ÍT, BUỒN NHIỀU

cohabitation1 copy KIM ANH

Theo kết quả điều tra từ đề tài khoa học “Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới trẻ độc thân tại TP.HCM trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình trẻ” (Sở Khoa học công nghệ TP.HCM quản lý), có đến 45,2% đối tượng phỏng vấn thừa nhận cuộc sống chung của họ đang có nhiều nỗi lo và không loại trừ khả năng có thể chia tay (7,9%)…

Ngay từ khi mới tiến hành đề tài nhóm phỏng vấn đã rất khó khăn để tìm ra đối tượng ở địa bàn cư trú và thuyết phục họ tham gia cuộc phỏng vấn. Vì thế nhóm phỏng vấn đã tìm đến các… bệnh viện phụ sản, nơi có những văn phòng tư vấn cho các cô gái trẻ trước khi tiến hành các ca phẫu thuật nạo phá thai, để có thể tiếp cận với đối tượng.

Sự chia tay được dự báo

Một nam công nhân sinh năm 1980, đang sống chung với người yêu lớn hơn hai tuổi tại quận Gò Vấp (TP.HCM) cho biết: “Lúc đầu còn thấy vui, 2-3 tháng đầu còn đi chơi, sau đó thấy cuộc sống không thoải mái và nhàm chán. Càng sống với nhau lâu càng chán”.

Họ chán chường vì nhiều lẽ. “Không gian của tình yêu”, theo nghiên cứu, chủ yếu là những phòng trọ có diện tích khoảng 18m2, với mái tôn thấp, nóng bức về mùa hè, ẩm thấp về mùa mưa. Tất cả sinh hoạt: nấu ăn, nghỉ ngơi, giải trí đều gói gọn trong đó… Phương tiện sinh hoạt của các “gia đình trẻ” thường là một tivi cũ, nồi cơm điện và chiếc quạt bàn.

Continue reading →

NGƯỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH SẼ ĐƯỢC PHÉP KẾT HÔN?

THANH HẢI

Những trường hợp đã chuyển đổi có thể xem xét cho sửa hộ tịch. Nếu “hình thức” và “nội dung” không trùng nhau thì cho dù đã chuyển đổi cũng không được sửa hộ tịch và đương nhiên sẽ không được phép kết hôn.

Cách đây chưa lâu, những trường hợp đi chuyển đổi giới tính tại nước ngoài như ca sĩ Cát Tuyền, Cindy Thái Tài từng nhiều lần than thở về việc họ gặp rắc rối khi làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến giới tính sau khi chuyển đổi.

Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 về xác định lại giới tính cho phép những người bị khiếm khuyết về giới tính được chuyển đổi giới tính, kèm theo đó họ sẽ được chuyển đổi hộ tịch và các giấy tờ tùy thân theo giới tính mới. Tuy nhiên, có phải mọi trường hợp lỗi đều được xác định lại giới tính? Sau khi chuyển đổi họ có đầy đủ các quyền dân sự theo giới tính mới không?

Sẽ được kết hôn

Theo ông Nguyễn Quốc Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp, những người chuyển đổi giới tính phải là những người phiếm khuyết về bộ phận sinh dục, về gien (nhiễm sắc thể), mà có thể xác định được bằng phương pháp y học, chứ không phải theo sở thích, mong muốn cảm tính của cá nhân. Do đó, sau khi xác định lại giới tính bằng phương pháp y học đồng thời về pháp lý cũng cho phép họ đăng ký lại hộ tịch. Các quyền dân sự khác liên quan đến hộ tịch (như quyền kết hôn, nuôi con…) sẽ được thực hiện bình thường.

Continue reading →