CƠ CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC MANG THAI HỘ

Một loạt vấn đề pháp lý như xác định cha, mẹ cho con, hôn nhân giữa những đứa trẻ cùng cha mẹ sinh học… đang đặt ra với việc sinh đẻ nhờ cho, nhận trứng, tinh trùng. Đây là nội dung cuộc hội thảo góp ý cho Nghị định sinh con bằng phương pháp khoa học, tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Có nên cho phép mang thai hộ và cho phôi là vấn đề được tranh cãi nhiều nhất, dù dự thảo Nghị định đã cấm tuyệt đối việc này. Thạc sĩ Nguyễn Viết Tiến, Trưởng khoa Thụ tinh trong ống nghiệm, Bệnh viên C Hà Nội cho rằng, nên cho phép. Bởi thực tế có những phụ nữ không có noãn trứng (tức không thể xin tinh trùng được) nhưng vẫn có khả năng mang thai. Nếu cấm cho phôi thì họ sẽ không thể có khả năng làm mẹ. “Người ta thường lo ngại vì sợ hôn nhân cùng huyết thống. Nhưng xác xuất chuyện này rất thấp, thường chỉ 1/10.000”, ông Tiến nói.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MANG THAI HỘ

TRẦN THỊ HƯƠNG – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Mang thai hộ là trường hợp sau khi thụ thai trong ống nghiệm, nếu người mẹ vì lý do sức khỏe hay vì điều kiện nào đó không thể mang thai, phải nhờ đến người phụ nữ khác mang thai và sinh đẻ. Vậy, về mặt pháp lý thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ trong lý luận cũng như trong các văn bản pháp luật hiện hành. Bài viết này bàn về một số vấn đề liên quan nảy sinh trong quan hệ mang thai hộ dưới phương diện pháp lý.

Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ:

Từ lâu, một trong những yếu tố để xác định cha mẹ con là huyết thống. Thành ngữ “cha sinh, mẹ đẻ” hoặc: “mang nặng, đẻ đau”… đã hình thành nên tư duy của con người khi nói đến quan hệ cha – mẹ – con. Người đàn bà sinh ra đứa trẻ nghiễm nhiên là mẹ của đứa trẻ. Hiện tượng tự nhiên này tồn tại trong ý niệm xã hội – đạo đức của con người và được khẳng định về mặt luật pháp. Song, hiện tượng mang thai hộ là mới mẻ, hoàn toàn không nằm trong khuôn mẫu tập quán, tình cảm, đạo đức truyền thống: người đàn bà không mang thai, không sinh đẻ vẫn có thể là mẹ do đứa trẻ được thụ tinh hình thành bằng chính trứng của mình, còn người phụ nữ mang thai, sinh đẻ thì không phải là mẹ. Người mang thai, sinh đẻ chỉ là người làm công việc trợ giúp theo thỏa thuận, có hoặc không có thù lao bồi hoàn.

Theo Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 thì khái niệm gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Khái niệm “gia đình” không đồng nhất với “hộ gia đình” trong các ngành luật hành chính, đất đai… Khái niệm này tồn tại hầu hết trong pháp luật về gia đình các quốc gia trên thế giới.

Quan hệ huyết thống không chỉ là cơ sở để xác định cha mẹ con mà còn là cơ sở xác định nguồn gốc, dòng họ, gia phả với những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và truyền thống của dòng họ. Trường hợp con sinh ra do bởi người mang thai hộ thì khái niệm huyết thống được hiểu theo nhiều hướng khác nhau.

Thứ nhất: quan hệ huyết thống mẹ – con trong trường hợp này là quan hệ giữa đứa con sinh ra và người phụ nữ có trứng thụ tinh. Tức người nào chủ sở hữu trứng thì đó là mẹ của đứa trẻ. Người phụ nữ này đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân với bố đứa trẻ được sinh ra.

Thứ hai: người phụ nữ nào trong cơ thể của mình phát triển hài nhi và sinh ra đứa trẻ thì đó là mẹ. Không thể gọi là mẹ của cái trứng đã được thụ tinh mà chỉ có thể là chủ sở hữu cái trứng đã thụ tinh vì giữa cái trứng đã thụ tinh và đứa trẻ là hoàn toàn khác nhau. Còn mẹ của một đứa trẻ với tư cách là một con người thực thụ, với tư cách là chủ thể pháp luật dưới ý nghĩa pháp lý cũng như ý nghĩa sinh học, chính là người phụ nữ sinh ra (tạo ra, cho ra đời) đứa bé(1 ).

Thứ ba: nên có khái niệm pháp lý “người mẹ thứ hai” (mẹ thế). Có nghĩa là bên cạnh một “người mẹ thứ nhất” (người mẹ mà đứa trẻ mang gien di truyền), còn tồn tại một “người mẹ thứ hai” tức người mang thai hộ. Đây là quan điểm dung hòa của hai quan điểm trên, không phủ nhận vai trò của người phụ nữ mang thai và sinh ra đứa trẻ, và cần thiết phải thiết lập một số quyền và nghĩa vụ nhất định giữa “người mẹ” này và đứa trẻ.

Theo chúng tôi, nếu đồng ý với quan điểm thứ hai, vô tình chúng ta đánh mất ý nghĩa, mục đích của thụ thai nhân tạo dưới hình thức mang thai hộ, tức là tước quyền làm mẹ của người phụ nữ không có khả năng mang thai.

Mặt khác, dưới phương diện sinh học thì trong trường hợp mang thai hộ, đứa bé ra đời từ mang thai hộ mang gien di truyền của người phụ nữ có trứng thụ tinh chứ không phải của người mang thai. Nếu hiểu khái niệm huyết thống đồng nhất với khái niệm gien di truyền (ADN) thì quan hệ huyết thống là quan hệ giữa người phụ nữ có trứng và đứa trẻ. Mang thai hộ có thể đồng nhất khái niệm “chăm sóc” tạo điều kiện cho thai phát triển nhưng là sự chăm sóc đặc biệt không bằng tay chân mà bằng chính cơ thể của mình. Nếu chúng ta chấp nhận việc nuôi trẻ bằng sữa của người phụ nữ khác khi người mẹ của đứa trẻ không có khả năng nuôi con bằng sữa của chính mình thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc mang thai hộ. Hai hiện tượng này gần như đồng nhất với nhau, chỉ khác ở thời điểm là trước và sau khi sinh.

Ngoài ra, cần thiết phải xem xét đến yếu tố khởi điểm và mục đích của việc mang thai hộ. Khi người phụ nữ có trứng tham gia vào quan hệ mang thai hộ với mục đích mong muốn được làm mẹ, còn người phụ nữ mang thai chỉ với mục đích “hộ”, “giùm”, giúp đỡ, tất nhiên có hoặc không có bồi hoàn mà không với mục đích làm mẹ.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng: dưới phương diện pháp lý, người phụ nữ có trứng đã thụ tinh đang trong trong tình trạng có quan hệ hôn nhân với bố đứa trẻ, là người mẹ hợp pháp của đứa trẻ sinh ra trong trường hợp mang thai hộ, nếu giữa họ không có thỏa thuận khác. Theo tinh thần của Đ. 63 Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000, việc xác định cha mẹ con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ qui định. Song cho đến thời điểm hiện nay cũng chưa có một văn bản hướng dẫn chi tiết vấn đề này. Trong văn bản hướng dẫn này, thiết nghĩ, nên qui định như sau “Trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận người phụ nữ khác mang thai hộ thì khi đăng ký khai sinh cho trẻ sẽ xác định cặp vợ chồng đó là cha mẹ của đứa trẻ”.

Tuy nhiên, đối với những đứa trẻ ra đời bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo phải được quyền biết sự thực về nguồn gốc của mình, đặc biệt trong trường hợp mang thai hộ, bởi đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Vì vậy, đối với trẻ sinh ra từ mang thai hộ cần phải có một mẫu giấy khai sinh riêng trong đó phải ghi rõ họ tên người mang thai hộ. Song, việc ghi tên người mang thai hộ vào giấy khai sinh không đồng nghĩa với việc công nhận người mang thai hộ là mẹ của đứa trẻ, điều này có nghĩa là tất cả những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con như quyền mang họ, quyền thừa kế, nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện hợp pháp và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người thứ ba… giữa đứa trẻ và người mang thai hộ không phát sinh theo qui định pháp luật.

Dù sao, dưới phương diện đạo đức truyền thống, đứa trẻ ra đời không hoàn toàn từ một thỏa thuận sòng phẳng, ngang giá, mọi quan hệ đều chấm dứt sau khi thanh lý hợp đồng, giữa người mang thai hộ và đứa trẻ luôn tồn tại những tình cảm nhất định, vì vậy không nên phủ nhận hoàn toàn vai trò của người mang thai hộ dưới phương diện đạo đức.

Mặt khác, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Những trường hợp cấm kết hôn” cũng cần thiết qui định cụ thể khái niệm “người cùng dòng máu trực hệ”, “người có họ trong phạm vi ba đời”. Trường hợp kết hôn giữa hai người do cùng một người phụ nữ sinh ra, trong đó, một người là từ mang thai hộ và một người là con của người mang thai hộ có nằm trong phạm vi những trường hợp cấm kết hôn hay không. Theo chúng tôi, dưới phương diện khoa học, có thể sẽ không có hậu quả gì do hai người dù được sinh ra bởi một người phụ nữ nhưng mang hai gien di truyền khác nhau, tuy nhiên dưới phương diện đạo đức là khó có thể chấp nhận được. Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp cấm kết hôn qui định trong K. 4, Đ.1: giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, bố dượng với con riêng của vợ…

Bản chất pháp lý của thỏa thuận mang thai hộ

Theo chúng tôi, việc mang thai hộ là một thỏa thuận dân sự hình thành trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí và bình đẳng vì vậy pháp luật cần thiết công nhận và bảo vệ sự thỏa thuận này. Thỏa thuận mang thai hộ được xác lập giữa bố mẹ đứa trẻ và người mang thai hộ, đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì vậy, những vấn đề pháp lý liên quan đến thỏa thuận này phải được qui định cụ thể. Thiết nghĩ, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và cần thiết phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước, cơ quan hộ tịch, bởi nó là cơ sở pháp lý duy nhất làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó có quyền của người nhờ mang thai hộ được mặc nhiên công nhận là bố mẹ của đứa trẻ khi đăng ký khai sinh và các giấy tờ hộ tịch khác, tránh những tranh chấp không cần thiết. Ví dụ trong trường hợp sau khi sinh người mang thai hộ từ chối việc giao đứa trẻ, hoặc trường hợp bên nhờ mang thai từ chối nhận đứa trẻ.

Mặt khác, pháp luật cũng cần thiết qui định cụ thể các điều kiện của bố mẹ (bên nhờ mang thai) và người mang thai hộ. Ví dụ đối với người mẹ đứa trẻ chỉ có thể yêu cầu người khác mang thai hộ trong trường hợp vì lý do sức khỏe không có khả năng mang thai và phải có kết luận chính thức của các cơ quan y tế. Qui định này sẽ loại bỏ quan điểm lệch lạc “có tiền mua tiên cũng được” lạm dụng việc mang thai hộ đi ngược lại các giá trị đạo đức truyền thống. Đối với người mang thai hộ cần thiết phải là người hội đủ điều kiện về độ tuổi, sức khỏe theo kết luận của cơ quan y tế, phải có sự đồng ý của người chồng trong trường hợp người này trong tình trạng hôn nhân; số lần mang thai hộ tối đa để bảo vệ sức khỏe và không biến người mang thai hộ thành những máy đẻ, hay một nghề kiếm sống.

Một vấn đề khác cần thiết phải giải quyết là hình thức chế tài đối với các bên trong giao dịch này khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Xuất phát từ tính đặc thù của giao dịch, đối tượng của giao dịch không phải là một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà là một con người.

Vì vậy bên nhờ mang thai hộ không thể đặt ra các điều kiện về “chất lượng” như điều kiện về giới tính (đứa trẻ phải là trai hay gái), về trọng lượng, màu da, cũng như các điều kiện khác về tình trạng sức khỏe. Trong trường hợp bên mang thai hộ không thực hiện được các điều kiện trên không phải là lý do để bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con và thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không thực hiện nghĩa vụ tài chính thì bên mang thai hộ có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình chứ không thể đơn thuần là không giao đứa trẻ.

Mang thai hộ là một thành tựu khoa học trong lĩnh vực y học đã và đang là mối quan tâm của nhiều người trong xã hội. Song để hiện tượng này phát triển đúng hướng, đúng ý nghĩa xã hội, thì pháp luật cần phải điều chỉnh quan hệ này một cách kịp thời, cụ thể, tránh hiện tượng lạm dụng đi ngược lại bản chất xã hội của mang thai hộ và quan trọng nhất là tránh những tranh chấp có thể phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ này.

(1) Báo Pháp luật TP HCM ngày 13-2-2001.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2001

GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

HƯƠNG NGUYỄN

Mới đây, trong 2 ngày (10-11/1)Hội nghị về đăng ký khai sinh (ĐKKS)và quốc tịch cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đã diễn ra tại Hà Nội do Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp chủ trì. Tham dự hội nghị có đại diện của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Công an và đại diện của các Sở tư pháp địa phương. Tại hội nghị, đại diện các bên đã đưa ra những thực tế, các giải pháp và kiến nghị để cùng nhau tìm ra phương pháp giải quyết những bất cập trong quá trình thực thi trong thời gian tới.

Những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong lĩnh vực ĐKKS bao gồm nhóm trẻ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn; nhóm  trẻ được sinh ở nước ngoài, có cha là người nước ngoài, cha mẹ  của trẻ có đăng ký kết hôn nhưng cha mẹ đã ly hôn hoặc ly thân, người mẹ đưa con về Việt Nam sinh sống; nhóm trẻ đang sống cùng mẹ trong trại giam do mẹ vi phạm pháp luật. Do đó điều mà các bên quan tâm đó là tình trạng pháp lý (phức tạp) cũng như thiếu cơ sở để các cháu được đăng ký kết hôn.

Trẻ sẽ được ĐKKS tại nơi cha hoặc mẹ đang tạm trú hoặc làm việc ổn định?

Đó là một trong những kiến nghị mà đại diện của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong bản báo cáo tham luận sáng qua tại hội nghị. Trên thực tế, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có đông dân cư nhất trong cả nước và là một trong những nơi có lượng hồ sơ hộ tịch và quốc tịch được giải quyết hàng năm là rất lớn. Do đó, thành phố này cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết đăng ký khai sinh và quốc tịch cho con lai của các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam và một số trẻ có cha hoặc mẹ là người Campuchia đang sinh sống và lao động tại đây. Các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam thường định cư tại nước ngoài, nhưng khi các mà mẹ quay trở về Việt Nam muốn xin ĐKKS cho con lại gặp nhiều vấn đề vì trẻ em là con lai lại thuộc trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Nhiều người khi muốn làm thủ tục ĐKKS cho con  nhưng lại không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch như không có giấy tờ chứng sinh, khai sinh hoặc có lại cố tình “dấu” đi…

Theo Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, các trường hợp cha mẹ trẻ định cư ở nước ngoài, gửi con về gia đình nuôi dưỡng cần đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho trẻ do cha mẹ làm việc tại các khu công nghiệp  trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng hộ khẩu ở các tỉnh thành khác được hưởng mọi quyền lợi, Bộ Tư pháp cho phép giải quyết ĐKKS theo sự lựa chọn nơi cư trú, thậm chí là tạm trú của cha hoặc mẹ. Để hạn chế việc ĐKKS cho trẻ ở nhiều nơi, thì sau khi ĐKKS, UBND cấp xã nơi đang ký tạm trú gửi thông báo cho UBND cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú của đương sự để biết và theo dõi.

Ngượng không dám ĐKKS cho con

Tình trạng này không phải là hiếm tại tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh có lượng lớn người kết hôn với công dân Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Theo ước tính, có khoảng 5000-6000  trường hợp kết hôn kiểu này tại Vĩnh Long, chiếm một nửa tỷ lệ của cả nước. Và cũng tại đây ngày càng có nhiều trường hợp trẻ sinh ra tại nước ngoài  nhưng do mẹ bị ngược đãi bỏ trốn về Việt Nam sinh sống và ly hôn tại Việt Nam hoặc ly hôn tại nước ngoài ( không mang theo giấy khai sinh hay các giấy tờ chứng minh) về Việt Nam nên không thể ghi chú khai sinh theo điều 55 của NĐ158.  Từ đó dẫn đến thực trạng nhiều trẻ em chưa có khai sinh. Nhiều người cảm thấy mặc cảm, ngượng vì đã bị ngược đãi tại nước ngoài nên  không trình báo với cơ quan nhà nước để xin ĐKKS hay nhập quốc tịch cho con. Một số trường hợp thì nghĩ con còn nhỏ chưa đi học nên chưa cần làm vội…

Cán bộ trại giam tự ĐKKS cho trẻ?

Theo chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua, nhiều nữ bị can, bị cáo, nữ bị kết án tù khi mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được các cơ quan pháp luật cho tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên trên thực tiễn, một số đối tượng này đã lợi dụng điều này để liên tục được “xếp” vào diện được hoãn, đình chỉ, hay tại ngoại. Và nhiều khi những đứa trẻ sinh ra tại trại giam không dễ dàng được UBND cấp xã ĐKKS cho. Tại nhiều địa phương, UBND cấp xã chỉ ĐKKS vì “tình cảm” chứ không theo “ nguyên tắc”, thậm chí còn “ khuyến khích’ cán bộ trại giam tự đi mà …ĐKKS lấy cho trẻ. Theo những uỷ ban này, khi bắt phạm nhân đến  cán bộ trại giam không đăng ký với họ  nên họ không quản lý. Các nguyên nhân của tình trạng này là do những người cha hoặc mẹ đứa trẻ khi bị giam bị bắt không mấy quan tâm đến việc ĐKKS cho con,  nhiều người không có giấy đăng ký kết hôn hay thậm chí không biết cha đứa trẻ là ai…UBND cấp xã chưa nắm vững được các quy định của pháp luật, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho người đến làm thủ tục khai sinh.

Chính những vướng mắc trên mà các đại biểu đều đưa ra kiến nghị cần sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ158 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Bên cạnh đó cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các ban ngành có liên quan như Bộ Công An, Bộ Giáo dục đào tạo… để ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết những bất cập nẩy sinh. Đồng thời nâng cao  hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để mọi người hiểu, nhận thức đúng và chấp hành tốt các quy định đó. Sắp tới, việc soạn thảo đề án sửa đổi Luật Quốc tịch sẽ có thể cho phép người có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng 2 quốc tịch.

Bên cạnh đó, các đại biểu tham gia Hội nghị cũng bàn luận về các vấn đề như thực tiễn việc ĐKKS cho trẻ  bị buôn bán, là nạn nhân bị buôn bán trở về, việc ĐKKS cho trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam, HIV, trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ. Kết thúc hội nghị, Vụ Hành chính Tư pháp nhất trí sẽ nhanh chóng sửa đổi NĐ158 cho phù hợp với tình hình hiện nay, tiến hành rà soát việc thi hành pháp luật về vấn đề ĐKKS cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tại một số tỉnh thành, phối hợp với các Bộ có liên quan đến ban hành các Thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn thi hành các vấn đề còn vướng mắc/.

Hương Nguyễn – MOJ.GOV.VN

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN

 THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

  Sinh con theo phương pháp khoa học đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, chính điều đó đã cho phép các cặp vợ chồng vô sinh có thể có con, niềm mong mỏi tha thiết của họ đã trở thành hiện thực. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản có thể giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường, hậu quả chiến tranh… đáp ứng được nguyện vọng làm cha, làm mẹ của họ, điều đó đã thể hiện những giá trị nhân bản cao đẹp. Thực tế việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản không đơn thuần thuộc lĩnh vực khoa học mà còn liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, pháp lí, về tâm lí tình cảm… Việc áp dụng các biện pháp này trong nhiều trường hợp không chỉ trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn có thể liên quan đến người thứ ba, đó là người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi, do đó vấn đề này càng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn bao giờ hết. Trước thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định” (Điều 63); Để cụ thể vấn đề này, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học (sau đây gọi tắt là Nghị định 12). Nghị định này đã quy định việc thụ tinh nhân tạo; thụ tinh trong ống nghiệm; việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn; cho, nhận phôi; lưu giữ phôi và xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.

Nghị định 12 là hành lang pháp lí thuận lợi để các trung tâm y tế áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập một số vấn đề pháp lí liên quan đến việc sinh con theo phương pháp khoa học.

+ Nghị định 12 đưa ra khái niệm: “Cặp vợ chồng vô sinh” nhưng không quy định rõ để được thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản thì phải là vợ chồng hợp pháp, tức là phải có đăng kí kết hôn hoặc quan hệ vợ chồng được xác lập trước 3/1/1987, chỉ có như vậy mới ràng buộc được quyền và nghĩa vụ pháp lí của họ với nhau cũng như với việc thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.

+ Nghị định 12 quy định: “Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm” (Điều 3). Quy định này đã nêu phạm vi được phép áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản, thêm vào đó, Nghị định cũng đã cấm việc mang thai hộ và sinh sản vô tính (Điều 6). Quy định này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán truyền thống, tâm lí tình cảm và quan điểm chung của các nước trên thế giới. Thực tế cho thấy vấn đề mang thai hộ, xét thuần tuý về mặt khoa học thì có thể chấp nhận được nhưng xét đưới góc độ tâm lí, tình cảm, phong tục tập quán và pháp lí thì rất phức tạp, đặc biệt là quan hệ mẹ con vì, theo pháp luật hiện hành người nào sinh ra đứa trẻ sẽ là mẹ của nó (chứng minh bằng giấy chứng sinh), ngoài ra rất khó đưa ra cơ chế giám sát đối với người mang thai hộ hay những vấn đề về mặt tố tụng đối với cặp vợ chồng đang nhờ mang thai và người mang thai hộ, chẳng hạn vấn đề hạn chế li hôn có được áp dụng tương tự không?… Sinh sản vô tính là vấn đề mang tính toàn cầu, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này là rất khó khăn bởi nếu người nhân bản ra đời thì sẽ có mối quan hệ như thế nào với người được nhân bản, sẽ là anh chị em sinh đôi hay là quan hệ mẹ con, cha con duy nhất. Vì vậy, Nghị định 12 cấm mang thai hộ và sinh sản vô tính là hoàn toàn phù hợp.

+ Nghị định 12 không chỉ quy định việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn mà còn quy định việc cho, nhận phôi. Như vậy, đứa trẻ khi ra đời không nhất thiết phải mang gen của người cha hay người mẹ về mặt pháp lí, điều này đảm bảo quyền được làm cha, làm mẹ và đặc biệt là đảm bảo cho người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình đó là chức năng sinh đẻ. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại cách hiểu truyền thống là đứa trẻ khi ra đời phải mang ít nhất huyết thống của người cha hoặc người mẹ. Cùng với việc cho, nhận tinh trùng; trứng; phôi là việc bảo đảm việc lưu giữ và bảo quản tinh trùng, phôi. Khoản 2 Điều 17 Nghị định 12 đã quy định: “Tinh trùng, phôi được lưu giữ trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”. Và khoản 2 Điều 18 Nghị định 12 quy định: “Người gửi tinh trùng phải chi phí lưu giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng phải huỷ số tinh trùng của người đó”. Về vấn đề này chúng tôi thấy rằng nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh đang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết và tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ thì có nên huỷ tinh trùng của họ không? Theo chúng tôi là không thể huỷ tinh trùng của người đó nếu không có sự đồng ý của người vợ vì trước đó cả hai vợ chồng đã thể hiện sự tự nguyện mong muốn thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học, nếu sau khi người chồng chết mà người vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc sinh con đó thì phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. Tuy nhiên, vấn đề này có liên quan đến quy định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “… con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết… thì được xác định là con chung của hai người”. Vì trường hợp trên sẽ không giống như trường hợp sinh con do có quan hệ tình dục giữa vợ và chồng, do đó thời gian này có thể không chỉ là trong vòng 300 ngày mà có thể là dài hơn, tuỳ thuộc vào quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản đối với người vợ. Như vậy, Nhà nước cần thiết phải có quy định pháp lí cho trường hợp đặc biệt này.

+ Điều kiện hạn chế li hôn có nên áp dụng trong trường hợp khi hai vợ chồng đang tiến hành áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản để sinh con theo phương pháp khoa học không? Có thể trong trường hợp đang tiến hành thụ tinh đã thành phôi và đang trữ phôi, vì điều này rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người vợ và đứa con tương lai. Nếu cả hai bên quyết định li hôn thì họ phải quyết định huỷ bỏ yêu cầu áp dụng việc sinh con theo phương pháp khoa học. Còn trong trường hợp người chồng biệt tích thì vẫn tiến hành áp dụng như các trường hợp khác vì người chồng đã thể hiện mong muốn có con bằng văn bản.

+ Vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là rất đặc biệt do vậy việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét riêng biệt.

Điều 20 Nghị định 12 quy định:

“1. Trẻ ra đời do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”.

Điều 21 Nghị định 12 quy định:

“Con được sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi”.

Như vậy, với việc sinh con theo phương pháp khoa học đã đặt ra một thực tế là có sự khác biệt giữa người cha, người mẹ về mặt pháp lí và người cha, người mẹ về mặt huyết thống. Việc xác định như vậy cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng” (Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Đây là sự đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với trường hợp người phụ nữ độc thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con. Đặc biệt, trong trường hợp này cần quy định rõ sau khi đứa trẻ được sinh ra nếu người cha, người mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không được yêu cầu xác định lại vì quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, họ không được quyền yêu cầu giám định về gen di truyền. Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa con là con ruột của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng vô sinh, người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫn trong quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản thì nên chăng cho phép họ được quyền yêu cầu được xem xét lại trong phạm vi và mức độ nào đó. Vấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn khi có sự nhầm lẫn, do vậy cần có quy định cụ thể về vấn đề này.

Tóm lại, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là về mặt pháp lí, bởi trong chừng mực nào đó nó đã làm thay đổi những quan niệm truyền thống về quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con… vì vậy cần có những văn bản pháp lí hướng dẫn cụ thể về vấn đề này./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 2/2003

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON

2. XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON DƯỚI GÓC ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI

3. Một số điểm mới trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Gia đình là tế bào của xã hội, tại đó tồn tại mối quan hệ ruột thịt và tình thương, gắn bó các chủ thể một cách thường xuyên, lâu dài, thậm chí suốt cả đời người về tình cảm và nghĩa vụ. Trong các mối quan hệ đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con được duy trì lâu bền nhất do yếu tố tình cảm chi phối và cũng vô cùng tế nhị. Từ đó dẫn đến vấn đề mà xã hội quan tâm là làm thế nào để xác định chính xác mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con (đặc biệt là mối quan hệ cha – con). Bởi điều đó liên quan đến tình cảm, danh dự, uy tín; liên quan đến quan hệ tài sản trong đời sống xã hội. Vì vậy, nó nhất thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật.

1.Vấn đề xác định cha mẹ cho con trong giá thú

Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) năm 1986 đã đưa ra được phương pháp suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha mẹ và con Điều 28 LHNGĐ năm 1986 quy định: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác“.

Tại Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi cũng quy định tương tự về con chung của vợ, chồng như sau:

1. Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ, chồng

Tuy nhiên, Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi đưa thêm khái niệm thế nào là trường hợp người vợ có thai trong thời kì hôn nhân:

Người vợ được coi như có thai trong thời kì hôn nhân nếu con sinh ra quá 180 ngày sau ngày kết hôn hoặc chưa đến 300 ngày sau ngày hôn nhân chấm dứt“.

Đồng thời, Điều 71 Dự thảo LHNGĐ quy định rõ trách nhiệm chứng minh đứa trẻ sinh ra trong thời kì hôn nhân không phải là con mình chỉ thuộc về người chồng:

2. Trong trường hợp người chồng có yêu cầu xác định đứa trẻ sinh ra trong thời kì hôn nhân không phải là con mình thì phải có chứng cứ“.

Thời kì hôn nhân sẽ được tính từ ngày hai bên nam nữ được cấp giấy chứng nhận kết hôn cho đến khi một trong hai bên vợ hoặc chồng bị chết, bị tuyên bố là đã chết hoặc hai bên được tòa án cho phép li hôn bằng bản án hay quyết định thuận tình li hôn có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, theo đoạn 1 Điều 28 LHNGĐ năm 1986 và đoạn 1 Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi, chúng ta có thể xác định được hệ quả của quy định: Đứa trẻ được coi là con chung của vợ, chồng trong những trường hợp sau:

1. Con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kì hôn nhân.

2. Con do người vợ thụ thai trước thời kì hôn nhân và sinh ra trong thời kì hôn nhân.

3. Con do người vợ thụ thai trong thời kì hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn luật định (ít hơn hoặc bằng 300 ngày).

4. Đặc biệt là trường hợp thứ 4: Con do người vợ thụ thai trước thời kì hôn nhân nhưng lại sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn luật định thì có áp dụng Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi để xác định là con chung của vợ, chồng không?

Ví dụ: A và B kết hôn vào tháng 4/1995 (khi B có thai được 3 tháng) đến tháng 6/ 1995 A bị tai nạn giao thông và bị chết. Đến tháng 10/1995 B sinh con là C. Vậy A có được coi là cha của C không?

Tại Điều 28 LHNGĐ năm 1986 đã dùng cụm từ “hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó” (tức là thời kì hôn nhân). Có thể dẫn đến hai trường hợp:

1. Người vợ bắt đầu thụ thai trong thời kì hôn nhân;

2. Người vợ đang có thai trong thời kì hôn nhân (tức là có thai trước đó).

Nếu cả hai trường hợp này đều được coi là đúng thì ví dụ trên được coi là trường hợp đặc biệt trong hệ quả của quy định tại Điều 28 LHNGD năm 1988 (A – C có quan hệ cha con, bởi trong khi hôn nhân giữa A và B còn tồn tại thì B “đang có thai” như trong quy định tại Điều 28).

Nhưng trong Dự thảo LHNGĐ sửa đổi (Điều 71) lại quy định thêm khái niệm thế nào là có thai trong thời kì hôn nhân (như đã đề cập ở phần trên), do đó trong ví dụ trên khó xác định được A là cha của C bởi C không được mẹ là B sinh ra trong thời kì hôn nhân cũng như không phải đã được B thụ thai trong thời kì đó. Hơn nữa, nếu xét trên thực tế thì quan hệ cha con giữa A và C đương nhiên được công nhận. Do vậy, theo ý kiến của chúng tôi không cần quy định thế nào là có thai trong thời kì hôn nhân mà nên quy định về thời gian mang thai (đối với đứa trẻ sinh thiếu tháng, đủ tháng, già tháng). Chỉ cần biết rằng cứ trong thời kì hôn nhân mà người vợ đang có thai thì có thể suy đoán đó là con chung của vợ, chồng. Nếu người chồng có nghi ngờ thì họ có quyền yêu cầu xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 28 LHNGĐ và Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi.

Mặt khác, trong đoạn 2 Điều 28 LHNGĐ năm 1986 và khoản 2 Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi có quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của người chồng khi có yêu cầu xác định lại quan hệ cha con nhưng chưa quy định chứng cứ nào là có ý nghĩa về mặt pháp lí để làm sáng tỏ vấn đề này. Hiện nay, theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của LHNGĐ có quy định tại điểm 5 về chứng cứ để xác định lại quan hệ cha con, như: Người vợ công nhận là mình có thai với người khác trước khi kết hôn; người chồng chứng minh rằng mình đã đi công tác xa trong thời gian mà người vợ có thể thụ thai đứa trẻ… Những chứng cứ này chưa đủ và chưa có sức thuyết phục.

Điều cần thiết là LHNGĐ sửa đổi phải đưa ra hệ thống các chứng cứ mang tính khoa học cao. Chẳng hạn, theo chúng tôi cần quy định người chồng có thể đưa ra các chứng cứ sau:

+ Kết quả giám định của cơ quan y tế về tình trạng bất lực sinh lí của người chồng.

+ Trong thời kì thụ thai đứa trẻ, người chồng đi công tác; đang chịu hình phạt tù… (có xác nhận của cơ quan chủ quản).

+ Kết quả giám định của cơ quan y tế về kết quả có thai của người vợ trước ngày đi thăm chồng…

+ Có quyền yêu cầu khảo sát di truyền phụ hệ dựa trên các phương pháp y học trong điều kiện có thể.

Ngoài ra, để hoàn thiện phương pháp suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha mẹ và con theo Điều 28 LHNGĐ năm 1986, LHNGĐ sửa đổi cần quy định cụ thể để tránh nhầm lẫn về con cái.

Ví dụ: Tháng 1/1990 A và B kết hôn. Tháng 5/1990 A và B được tòa án cho phép li hôn bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

Tháng 6/1990 B kết hôn với C, tháng 9/1990 B sinh con là D. Vậy xác định ai là cha của D?

Nếu theo phương pháp suy đoán pháp lí tại Điều 28 thì:

– D được xác định là con của A (bởi B đã có thai trong thời kì hôn nhân với A).

– D được xác định là con của C (bởi B đã sinh con trong thời kì hôn nhân với C).

Có thể nói đây là trường hợp trong thực tế rất khó xác định đích thực ai là cha của đứa trẻ.

Cho nên LHNGĐ sửa đổi cần quy định theo hướng:

+ Bổ sung thêm trong điều kiện kết hôn vấn đề khám sức khỏe của hai bên nam, nữ để biết tình trạng sức khỏe của họ. Vấn đề này không những có ý nghĩa trong việc xác định quan hệ cha con mà còn mang tính xã hội hóa cao về việc ngăn ngừa những bệnh truyền nhiễm.

2. Vấn đề xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú

Đối với việc xác định cha cho con ngoài giá thú, Điều 29, 31 LHNGĐ năm 1986 và Điều 72, 73, 74, 75 Dự thảo LHNGĐ mới chỉ quy định phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu xác định mối quan hệ cha mẹ và con mà chưa quy định cụ thể những bằng chứng để xác định quan hệ đó. Hiện nay, loại án kiện này trên thực tế rất nhiều và hầu hết các tòa án vẫn áp dụng theo Thông tư số 15/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao nhắc lại đường lối xử li hôn một vài loại tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình.

Thông tư số 15/TATC quy định:

Trường hợp một người mẹ xin truy nhận một người là cha của đứa con chưa thành niên hoặc bản thân đứa con đó đã thành niên xin truy nhận một người là cha mình cần có đủ bằng chứng xác định những sự kiện sau đây:

+ Trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người này và người mẹ đã công nhiên sống với nhau như vợ chồng;

+ Hai người đã thương yêu nhau, hứa hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian có thể thụ thai đứa con đã ăn nằm với nhau như vợ chồng rồi sau khi sinh con thì bỏ không cưới nữa;

+ Người mẹ đã bị người này hiếp dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai đứa con;

+ Sau khi sinh con, người này đã chăm nom, săn sóc đứa con như là con mình;

+ Có thư từ người này viết xác nhận đứa con do người mẹ sinh ra là con của họ“.

Với các chứng cứ nêu trên cho thấy, hiện nay luật chủ yếu chỉ căn cứ vào thời gian người phụ nữ có thể thụ thai, người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông bị nghi vấn là cha của đứa trẻ hay không.

Dù rằng chỉ mang ý nghĩa tương đối nhưng trong LHNGĐ sửa đổi cần quy định những bằng chứng này. Ngoài ra, có thể quy định thêm các biện pháp y học cần thiết, điều này sẽ làm tăng độ chính xác trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con nói chung, đặc biệt là xác định quan hệ cha con đối với con ngoài giá thú.

Thực tế, qua trao đổi với một số bác sĩ cũng như cập nhật thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi được biết tại Trung tâm truyền máu và huyết học, việc xác định đứa trẻ là con của ai đã được thực hiện từ đầu năm 1997 nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiều người (năm 1997 có khoảng 30 ca). Theo các bác sĩ cho biết thì vấn đề xác định quan hệ cha con dựa trên cơ sở y học được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau với độ chính xác khác nhau như:

1. Phương pháp kháng nguyên hồng cầu (với phát minh khoa học của Landsteiner năm 1900).

Căn cứ vào tính chất di truyền của các nhóm máu A B O khi biết kiểu máu của mẹ và con có thể dự đoán được kiểu máu của người bố.

Mẹ nhóm máu B, con nhóm máu A thì những người đàn ông bị nghi là cha của đứa trẻ có nhóm B hoặc O bị loại trừ. Như vậy, bằng phương pháp này sẽ loại trừ được người đàn ông nào đó không phải là cha của đứa trẻ (khẳng định) hoặc người đàn ông nào đó có thể là cha của đứa trẻ (khả năng). Trên thực tế cho thấy diện những người đàn ông bị nghi là cha của đứa trẻ là không nhiều, nếu chỉ căn cứ vào lời khai của các bên thì rất khó xác định ai là cha của đứa trẻ, có trường hợp người mẹ đứa trẻ không biết ai trong số những người đàn ông mình đã quan hệ là cha của đứa con mình sinh ra. Hơn nữa, nhiều người đàn ông khi bị xác định là cha của đứa trẻ đã đề đạt nguyện vọng giám định quan hệ cha con bằng phương pháp y học.

Ví dụ: Tại Bản án số 77/DSPT ngày 11/11/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm vụ kiện xác định cha cho con giữa nguyên đơn là chị N (sinh năm 1973) và bị đơn là anh T (sinh năm 1967). Hoặc Bản án số 77/DSPT ngày 3/11/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ kiện xác định cha cho con giữa nguyên đơn là chị D (28 tuổi) và bị đơn là anh Đ (52 tuổi). Cả hai vụ kiện trên, bị đơn đều tha thiết yêu cầu tòa án trưng cầu giám định về máu nhưng đều không được chấp nhận.

2. Ngoài ra, còn một số phương pháp khác như phương pháp kháng nguyên bạch cầu, phương pháp xác suất thống kê sinh kì, phương pháp giám định gen (ADN). Với phương pháp giám định gen có thể xác định chính xác mối quan hệ cha con. Nhưng những phương pháp này đòi hỏi chi phí và điều kiện bảo quản nghiêm ngặt rất cao. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật thì vấn đề này có thể giải quyết được trong tương lai gần và nên chăng, trong LHNGĐ sửa đổi cần quy định thêm điều luật dự phòng để có thể áp dụng bất kì phương pháp giám định y học nào vào việc xác định quan hệ cha con (theo chúng tôi được biết, để tiến hành ca giám định thì chi phí trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với việc ra nước ngoài tiến hành). Điều đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí cho các bên chủ thể (giữa người yêu cầu giám định và người tiến hành giám định) với cùng mục đích là tìm kiếm người cha đích thực cho đứa trẻ.

Trên đây là một vài ý kiến nhỏ, hi vọng trong LHNGĐ sửa đổi sẽ có những quy định cụ thể hơn, tạo ra được hành lang pháp lí phù hợp với tình hình thực tế liên quan đến vấn đề xác định quan hệ cha mẹ và con nhằm đạt tới độ chính xác cao trong mối quan hệ cha con, từ đó làm ổn định các mối quan hệ khác trong gia đình./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON DƯỚI GÓC ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn vào ngày 18/12/1979 và có hiệu lực vào ngày 03/09/1981. Đây là một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền của phụ nữ. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới tham gia Công ước này. Nội dung các quyền của phụ nữ thể hiện sự bình đẳng giới được quy định rất cụ thể trong từng điều của Công ước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và gia đình mà trọng tâm là quyền xác định cha, mẹ, con trên cơ sở bình đẳng giới.

Điểm D Điều 16 của CEDAW đã quy định về quyền bình đẳng của nam nữ trong quan hệ với con cái như sau: “Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha, mẹ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ ra sao, về các vấn đề liên quan đến con cái họ. Trong mọi trường hợp lợi ích của con cái phải là điều quan trọng nhất”. Quan hệ giữa cha mẹ và con là mối quan hệ huyết hệ tự nhiên vốn rất thiêng liêng và nhạy cảm. Việc xác định mối quan hệ này có ý nghĩa trong mọi thời đại và được đặc biệt coi trọng bởi nó liên quan đến rất nhiều mối quan hệ khác về dân sự, hôn nhân gia đình. Dưới góc độ bình đẳng giới việc xác định cha, mẹ, con chủ yếu thể hiện ở quyền sinh con và xác định cha, mẹ, con.

Kể từ khi giành được chính quyền, Nhà nước ta rất chú trọng đến vấn đề bình đẳng giới. Điều đó được thể hiện rất rõ trong các bản hiến pháp qua các thời kì lịch sử của đất nước. Với vấn đề xác định cha, mẹ, con, hệ thống pháp luật về hôn nhân gia đình đã quy định tương đối đầy đủ. Trong những quy định này, sự bình đẳng về giới được thể hiện khá rõ nét.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ năm 2000) trên cơ sở kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đã dành hẳn một chương quy định về vấn đề xác định cha, mẹ, con (Chương VII từ Điều 63 đến Điều 66) bao gồm việc xác định cha, mẹ; quyền xác định con; quyền nhận cha, mẹ; chủ thể có quyền xác định cha, mẹ, con.

1. Bình đẳng giới trong việc xác định con chung của vợ chồng

Thứ nhất, khi người phụ nữ có hôn nhân hợp pháp, việc xác định quan hệ cha mẹ và con được thể hiện trong nguyên tắc suy đoán pháp lí quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng”.

Theo nguyên tắc suy đoán pháp lí này, mỗi khi sinh con người phụ nữ không cần phải chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ do mình sinh ra, cũng như không được ngăn cản chồng mình thực hiện quyền là cha của đứa trẻ do mình sinh ra. Người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và được thực hiện quyền làm cha của mình. Như vậy, có thể thấy rằng sự bình đẳng giới thể hiện rất rõ trong việc xác định con chung của vợ chồng. Pháp luật đã căn cứ vào thời kì hôn nhân của vợ chồng để suy đoán mối quan hệ cha mẹ và con. Khi nam nữ trở thành vợ chồng của nhau đều xuất phát từ yếu tố tình cảm; giữa họ phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lí theo luật định như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau… Mặt khác, do tác động của nhiều yếu tố khác như điều kiện kinh tế, xã hội… có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về tình yêu và hôn nhân gia đình nên không ít trường hợp người vợ có thai trước thời kì hôn nhân hoặc thậm chí sinh con trước thời kì hôn nhân thì đa số là do vợ chồng đã có quan hệ sinh lí trước thời kì hôn nhân nên pháp luật vẫn suy đoán là con chung của vợ chồng. Chính vì vậy, pháp luật không cần đưa ra định nghĩa thế nào là con được thai nghén trong thời kì hôn nhân như pháp luật thời kì trước. Điều này đảm bảo quyền lợi không chỉ của đứa trẻ mà còn bảo vệ quyền của người vợ, người mẹ trong gia đình. Ngay cả trong trường hợp sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt mà người vợ sinh con trong một thời gian luật định (trong vòng 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân) thì pháp luật vẫn xác định là con chung của vợ chồng. Điều đó đảm bảo ổn định quan hệ cha mẹ và con đồng thời giúp cho người phụ nữ yên tâm thực hiện thiên chức của mình.

Thứ hai, việc xác định lại quan hệ cha, mẹ, con, tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được toà án xác định”. Trong thực tiễn, khi người vợ sinh con, người chồng đã làm giấy khai sinh cho đứa trẻ, lấy họ tên mình là họ tên cha của đứa trẻ. Thậm chí, đứa trẻ đó về mặt sinh học không phải là con của người chồng nhưng về nguyên tắc trước tiên người chồng vẫn được xác định là cha, sự im lặng của người chồng được coi là sự mặc nhiên thừa nhận mối quan hệ cha con. Pháp luật không can thiệp sâu vào mối quan hệ này. Miễn rằng đứa trẻ được sống trong bầu không khí yêu thương và thông cảm, có cha, mẹ và người mẹ được chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn với chồng mình.

Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp, sau khi người vợ sinh con người chồng đã không thừa nhận đứa trẻ là con của mình do nghi ngờ sự chung thủy của người vợ và họ đã yêu cầu xác định lại quan hệ cha con. Trong trường hợp này, người yêu cầu phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh không có mối quan hệ cha con. Người vợ không có nghĩa vụ này. Nếu người chồng không xuất trình được chứng cứ chứng minh thì pháp luật vẫn mặc nhiên thừa nhận người chồng là cha của đứa trẻ.

Nếu người mẹ, không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì người mẹ cũng phải cung cấp chứng cứ để chứng minh. Vì trên thực tế có nhiều trường hợp do vô ý hoặc cố ý dẫn đến việc nhiều đứa trẻ bị lẫn lộn hoặc bị đánh tráo… Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản pháp luật có liên quan không có một hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này. Điều đó cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể.

2. Bình đẳng giới trong việc xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú

Trong trường hợp người phụ nữ sinh con mà không có quan hệ hôn nhân (tức là sinh con ngoài giá thú). Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định những chủ thể có quyền yêu cầu xác định quan hệ cha mẹ và con, mà không quy định cụ thể việc xác định này phải dựa trên cơ sở nào. Như trên chúng tôi đã phân tích nếu người phụ nữ có hôn nhân hợp pháp thì đó là thời kì hôn nhân là căn cứ để xác định quan hệ cha mẹ và con. Còn trong trường hợp này người phụ nữ lại không có hôn nhân hợp pháp, do vậy việc xác định quan hệ cha mẹ và con dựa trên cơ sở nào thì hiện nay pháp luật còn bỏ ngỏ. Khi người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con của mình thì về nguyên tắc họ phải chứng minh một người đàn ông nào đó là cha của đứa con mà mình đã sinh ra, họ có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen. Chúng tôi cho rằng quy định này chưa thật sự phù hợp mà cần quy định những biệt lệ nhất định. Bởi khi sinh con ngoài giá thú, người phụ nữ đã chịu rất nhiều sự thiệt thòi từ khi mang thai, sinh con và nuôi con một mình, bên cạnh đó là sự trốn tránh trách nhiệm của người cha của đứa trẻ. Việc họ yêu cầu xác định cha cho con của mình là một quyền chính đáng, vậy nên chăng nếu họ không xuất trình được đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con và phải yêu cầu giám định gen, trong trường hợp này nếu người đàn ông nào đó được xác định là cha của đứa trẻ thì người đó phải trả chi phí giám định hoặc ít nhất thì là một phần chi phí giám định vì đó là trách nhiệm chung của hai người với tư cách là cha, là mẹ của đứa trẻ. Như vậy mới thực sự đảm bảo sự bình đẳng về giới trong trường hợp này. Hoặc trong trường hợp rõ ràng các đương sự có khó khăn về kinh tế thì cần có cơ chế miễn, giảm chi phí giám định cho đương sự.

3. Bình đẳng giới trong việc xác định cha mẹ cho con sinh ra theo phương pháp khoa học

Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học được áp dụng theo Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 12/2/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học.

Quyền của người phụ nữ được đặc biệt bảo vệ trong trường hợp này. Đó là tạo ra một hành lang pháp lí giúp cho người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình, bảo vệ hạnh phúc gia đình cho họ khi họ không thể sinh con bằng con đường tự nhiên. Đối tượng được áp dụng trong trường hợp này là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Điều 20 Nghị định số 12/NĐ-CP quy định:

1. Trẻ ra đời do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”.

Điều 21 Nghị định trên còn quy định: “Con được sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi”.

Như vậy, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ này nhận noãn, tinh trùng hoặc phôi từ người khác. Giữa đứa trẻ và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không có mối quan hệ cha mẹ và con về mặt pháp lí. Mặt khác, pháp luật cũng quy định rất rõ một trong những nguyên tắc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản là phải thực hiện nguyên tắc bí mật. Tuy nhiên, theo chúng tôi, trong những trường hợp đặc biệt như để chữa bệnh thì cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân cần được biết những thông số cần thiết về người cho để đứa trẻ được bảo đảm sự an toàn cần thiết, người phụ nữ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân vẫn không bị tước đi quyền làm mẹ của mình.

Có thể nhận thấy một điều đặc biệt mới của việc sinh con theo phương pháp khoa học là pháp luật cho phép người phụ nữ độc thân cũng được áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản. Đây là một quyền lợi rất chính đáng của người phụ nữ khi họ không muốn hoặc không có cơ hội kết hôn mà vẫn có thể thực hiện được thiên chức của mình. Nếu như trước đây, khi chưa có cơ sở pháp lí cho vấn đề này thì người phụ nữ độc thân vẫn có thể thực hiện được thiên chức của mình nhưng điều đó có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của một gia đình khác, đặc biệt là có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người phụ nữ khác thì hiện nay, nếu áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản họ sẽ thực hiện được thiên chức của mình mà không còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác. Tuy nhiên, trong trường hợp này chỉ có quan hệ mẹ con duy nhất. Vì vậy, người phụ nữ sinh con và nuôi con một mình, điều đó thực sự là một khó khăn và thách thức đối với họ. Mặt khác, quyền lợi của đứa trẻ cũng phần nào bị ảnh hưởng. Do đó, về mặt xã hội, cần phải có những chính sách đặc biệt đối với trường hợp này.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, nếu người gửi tinh trùng bị chết thì cơ sở lưu giữ tinh trùng phải huỷ số tinh trùng của người đó (khoản 2 Điều 18 Nghị định số 12/NĐ-CP). Việc lưu giữ tinh trùng này được thực hiện trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, nếu người chồng không may chết mà cơ sở lưu giữ tinh trùng huỷ số tinh trùng của người đó liệu có phù hợp không khi không có sự bày tỏ ý chí của người vợ. Theo chúng tôi, nếu hai vợ chồng đã thể hiện sự đồng ý sinh con nhờ biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng văn bản thì khi người chồng chết, người vợ vẫn có quyền đề nghị tiếp tục thực hiện việc sinh con này, người vợ phải có quyền đối với số tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ. Và để bảo vệ quyền lợi của người vợ thì phải quy định những biệt lệ khi áp dụng thời gian sinh con tối đa trong trường hợp chấm dứt hôn nhân. Thông thường thời gian này là 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nhưng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học thì thời gian này có thể kéo dài hơn phụ thuộc vào quá trình thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản. Đứa trẻ ra đời vẫn được xác định là con chung của vợ chồng và quyền của người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được đảm bảo.

Điều kiện hạn chế li hôn có nên được áp dụng trong trường hợp mà cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản về việc sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản, trong quá trình tiến hành đã tạo được phôi nhưng chưa đưa vào tử cung của người vợ thì người chồng yêu cầu li hôn. Nếu xét thuần tuý về mặt pháp lí thì người vợ đang không mang thai nên người chồng không bị hạn chế quyền li hôn. Nhưng đây có thể coi là một trường hợp đặc biệt phải áp dụng sự hạn chế li hôn đối với người chồng để đảm bảo quyền lợi cho người vợ. Trong trường hợp này người chồng không thể đơn phương huỷ bỏ việc sinh con này nếu không có sự đồng ý của người vợ.

Một điều đặc biệt trong vấn đề này là không đặt ra vấn đề xác định lại quan hệ cha mẹ và con như những trường hợp thông thường khác. Quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được. Chẳng hạn, nếu cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng của người khác để người vợ sinh con thì sau này người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Trong trường hợp này, pháp luật quan tâm đến một người cha, người mẹ về mặt pháp lí hơn là về mặt sinh học.

Tóm lại, dưới góc độ bình đẳng giới việc xác định cha, mẹ, con chủ yếu thể hiện ở quyền sinh con và quyền xác định cha, mẹ, con. Những quyền này đã cụ thể hoá điểm D Điều 16 của CEDAW. Điều đó chứng tỏ Việt Nam là một quốc gia rất quan tâm đến quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng. Pháp luật đã tạo ra như những cơ chế tốt nhất để người phụ nữ thực hiện quyền của mình, đặc biệt trong việc thực hiện thiên chức của mình và những quyền liên quan đến thiên chức đó. Người phụ nữ trong xã hội hiện đại đã thực sự được quan tâm và trong tương lai dưới góc độ pháp lí, quyền của người phụ nữ cần được cụ thể hoá hơn nữa, loại bỏ hoàn mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 3/2006

NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Ngày 27/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 01/4/2006) thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Qua hơn 1 năm thực hiện đã được được một số kết quả bước đầu. Công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn đinh và đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất bước đầu được cải thiện. Người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sữa chữa, thêm, bớt. Tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Không còn tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây.

Cán bộ hộ tịch cấp xã đã xác định được tầm quan trọng của công tác này nên đã tuân thủ trình tự, thủ tục của Nghị định. Nghiệp vụ được nâng cao nên thụ lý giải quyết nhanh chóng, hướng dẫn rõ ràng cho dân nên không có khiếu nại về hộ tịch.

Kết quả một năm thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của thành phố Đồng Hới thể hiện qua số liệu cụ thể sau: UBND thành phố đã thực hiện cấp lại bản chính giấy khai sinh cho144 trường hợp; Thay đổi CCHT cho116 trường hợp. UBND xã, phường: đăng ký khai sinh 2852 ­­trường hợp; kết hôn: 990 tr­­ường hợp; Đăng ký tử: 560 trư­­ờng hợp. Đăng ký lại: 8 trường hợp và thay đổi cải chính hộ tịch: 156  tr­ường hợp.

So với Nghị định 83/CP thì Nghị định 158 đã tháo gỡ những vướng mắc trên thực tế mà Nghị định 83 chưa giải quyết được. Đó là: đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết công việc phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, thuận tiện cho người dân.

Để thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, trước hết phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết về mục đích, ý nghĩa của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; quyền và nghĩa vụ công dân về đăng ký hộ tịch… Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch có vai trò và ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công tác hộ tịch. Vì thế trước ngày Nghị định có hiệu lực phòng Tư pháp thành phố Đồng Hới đã tham m­ưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố tổ chức hội nghị triển khai và tổ chức lớp tập huấn cho lãnh đạo UBND, cán bộ Tư pháp-Hộ tịch cấp xã, đồng thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân trên địa bàn thành phố.

Nghị định 158 có nhiều điểm mới, đặc biệt việc phân cấp cho UBND các xã, phường  thực hiện việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân dưới 14 tuổi. UBND cấp huyện thực hiện việc cấp bản chính giấy khai sinh và thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân từ 14 tuổi trở lên.  Đây là việc mới, lần đầu thực hiện lại chưa có hướng dẫn cụ thể nên khi thực hiện còn gặp phải vướng mắc:

Nhiều tr­ường hợp cải chính họ tên, chữ đệm và các nội dung khác trong Giấy khai sinh là để hợp pháp hóa hồ sơ hiện tại do công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trước đây còn lỏng lẻo, do người dân chưa hiểu biết quy định pháp luật về hộ tịch. Không thụ lý giải quyết thì công dân rất khó khăn trong việc phải thay đổi tất cả các loại giấy tờ tuỳ thân. Nếu cho phép cải chính thì không đảm bảo nguyên tắc của Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP: “ Mọi giấy tờ đều phải phù hợp giấy khai sinh”.

.           Sổ đăng ký hộ tịch hiện đang lưu trữ ghi chép không đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhiều nội dung như: mục phần khai về cha mẹ trong sổ đăng ký khai sinh có đơn vị chỉ ghi về cha hoặc mẹ; cấp giấy khai sinh không ghi số, quyển số hoặc cấp bản chính nhưng không vào sổ hộ tịch. Số gốc và bản chính giấy khai sinh  không trùng nhau…

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân có nhiều nơi tạm trú khác nhau còn gặp nhiều khó khăn do không đủ điều kiện, thời gian để xác minh.

Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP chưa quy định cụ thể như:  Được cấp lại mấy lần bản chính Giấy khai sinh, nội dung xác nhận thay đổi, cải chính hộ tịch…

Về trách nhiệm phối hợp trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hộ tịch tại khoản 2 Điều 99 chỉ mới quy định Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp mà bỏ sót Bộ Giáo dục-Đào tạo trong khi trên thực tế việc điều chỉnh văn bằng, chứng chỉ cho phù hợp với giấy tờ hộ tịch là rất lớn. Do quy chế quản lý văn bằng chỉ cấp một lần nên khi có sai sót hoặc cần đính chính thì chưa được thụ lý giải quyết do chưa có văn bản hướng dẫn của ngành. Khó khăn cho công dân trong trường hợp có sai lệch giữa văn bằng, chứng chỉ với giấy tờ hộ tịch.

Việc đăng ký lại việc sinh theo quy định tại Đ 46 NĐ: chỉ giải quyết trong trường hợp sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được. Về thủ tục: trong trường hợp xuất trình được bản sao khai sinh hợp lệ thì không cần phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây. Như vậy, nếu công dân xin đăng ký lại tại nơi thường trú hiện tại để đảm bảo đúng nguyên tắc quy định tại Đ 46 NĐ thì cán bộ tư pháp phải trực tiếp đi xác minh hoặc gửi công văn đề nghị xác minh sẽ không đảm bảo về thời gian và kinh phí thực hiện. Bên cạnh những vướng mắc thì công tác đăng ký, quản lý hộ tịch công gặp phải một số khó khăn:

Khó khăn về con người thực hiện nhiệm vụ: Cán bộ t­­ư pháp ngoài nhiệm vụ đăng ký hộ tịch còn phải thực hiện chứng thực theo Nghị định 79/2007/ NĐ-CP trong khi hầu hết chỉ có 1 cán bộ t­ư pháp, đặc biệt có đơn vị Bắc Lý thành phố Đồng Hới có trên 13.000 dân vẵn chỉ có 01 cán bộ tư pháp trong khi Nghị định quy định trên 10.000 dân bố trí 02 cán bộ.

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc: phòng còn chật hẹp, thiếu bàn, ghế, máy vi tính nên ch­ưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân và còn ảnh hưởng đến chất lượng công tác này.

Về thời hạn giải quyết: Việc cấp bản sao hộ tịch quy định phải thực hiện trong ngày nhưng trên thực tế không đáp ứng được do điều kiện công tác của lãnh đạo địa phương. Mặt khác việc cấp bản chính giấy khai sinh từ Sổ lư­u đăng ký hộ tịch còn khó khăn do nhận chuyển giao Sổ l­ưu hộ tịch  từ Sở Tư­ pháp chỉ có từ năm 1995 đến nay, vì vậy đối với  nhu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh từ năm 1995 trở về tr­ước thì phải mất nhiều thời gian xác minh, yêu cầu UBND cấp xã cung cấp thông tin và xác nhận mới cấp đư­ợc bản chính. Sổ l­ưu đăng ký hộ tịch ở một số đơn vị  từ năm1965 đến 1980 do l­ưu trữ không cẩn thận, bảo quản  không tốt nên hiện nay nhiều sổ rách nát, nhiều trang không sử dụng đ­ược nên nhiều trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân.

Về kinh phí phục vụ cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch: Do chưa có quy định về đầu tư kinh phí cho công tác này nên lứng túng khi thực hiện. Các địa phương chưa cấp kinh phí ban đầu cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch nên còn luẩn quẩn trong việc nhận và thanh toán biều mẫu (Sở nợ nhà xuất bản, Phòng nợ Sở và UBND cấp xã nợ phòng). Nhận trước và thanh toán sau để kịp thời phục vụ, khi có tiền thu lệ phí biểu mẫu thì mới thanh toán do vậy cán bộ tư pháp phải mở sổ  theo dõi việc nhận và thanh toán biều mẫu, mất nhiều thời gian trong khi cả cán bộ phòng và cán bộ tư pháp cơ sở không có nghiệp vụ kế toán…

 Trước yêu cầu cần thiết của việc xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, nâng cao tính  chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và đẩy mạnh hiệu quả công tác hộ tịch; Trước những khó khăn, vướng mắc qua hơn một năm thực hiện Nghị định 158 xin mạnh dạn đề xuất, kiến nghị:

Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP và kịp thời ban hành công văn hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc thực tế của địa phương trong quá trình thực hiện.

Chỉ đạo các địa phương  bổ sung biên chế, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm công tác tư pháp.

 Hàng năm có kế hoạch tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã. Tổ chức tọa đàm tại cơ sở, lắng nghe ý kiến cơ sở để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

            Phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành Thông tư liên tịch để giải quyết các trường hợp liên quan đến hộ tịch ( phối hợp thực hiện việc điều chỉnh hồ sơ công dân theo Giấy khai sinh đối với những trường hợp không thuộc phạm vi cải chính hộ tịch) như Bộ Công an, Bộ nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục-Đào tạo và Bộ Tài chính để công tác này được thực hiện thống nhất, chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc./.

Hoàng Hồng

 HTTP://WWW. MOJ.GOV.VN

NICARAGUA CẤM PHÁ THAI TRONG MỌI TRƯỜNG HỢP

Với 52 phiếu thuận và không có phiếu chống, hôm qua quốc hội Nicaragua đã thông qua dự luật cấm phá thai ngay cả trong trường hợp tính mạng người mẹ bị đe dọa.

Nicaragua hiện đã có luật khá chặt chẽ chống lại việc phá thai, với quy định phụ nữ và các bác sĩ tham gia phá thai sẽ bị phạt tù đến 6 năm. Trong dự luật mới có điều khoản đề nghị gia tăng hình phạt lên đến 30 năm, tuy nhiên không được các nghị sĩ chấp thuận.

Theo hãng tin Reuters, hàng trăm người đã biểu tình phản đối bên ngoài tòa nhà quốc hội ở thủ đô Managua. Ho cho rằng luật này là án tử hình đối với khoảng 400 phụ nữ có mang ngoài dạ con ở Nicaragua mỗi năm. “Họ đang buộc nhiều phụ nữ và các em gái đi vào chỗ chết”, một người phản đối tên Xiomara Luna nói.

Các tổ chức bảo vệ quyền phụ nữ cũng chống đối quyết liệt. Một nhóm nhân quyền có tên Phong trào tự trị phụ nữ đang chuẩn bị đệ đơn xin lệnh cấm của tòa án để ngăn luật này.

Hiện dự luật còn phải chờ Tổng thống Enrique Bolanos ký thông qua. Tuy nhiên, theo biên tập viên khu vực châu Mỹ của BBC, một cuộc thăm dò ý kiến tại Nicaragua, với khoảng 85% người theo đạo Thiên chúa, cho thấy đa số người ủng hộ luật này.

**************************

T.VY (Theo BBC, Telegraph)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)