NGHIÊN CỨU BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

TS HOÀNG BÁ THỊNH (Trường Đại học KHXH&NV)

TTCT – Trong vài năm trở lại đây, bạo lực gia đình – một vấn đề có tính toàn cầu – được xem là đề tài thu hút giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Có mấy vấn đề cần trao đổi về tình hình nghiên cứu bạo lực gia đình ở VN hiện nay:

1. Sự tuyệt đối hóa bạo lực giới một chiều: đúng là bạo lực giới nói chung và bạo lực giới trong gia đình nói riêng phần lớn là do nam giới gây ra với phụ nữ. Nhưng cần nhận thấy rằng cũng còn có bạo lực của phụ nữ đối với nam giới. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có khoảng 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là những bà vợ. Nhiều công trình nghiên cứu xã hội học trên thế giới cũng cho thấy đôi khi bạo lực giới trong gia đình là gần ngang nhau giữa nam và nữ.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH

LÊ THỊ LA

Thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ đã tháo gỡ được rất nhiều vướng mắc mà Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 còn chưa giải quyết được. Tuy nhiên vẫn còn một số vướng mắc cần phải có sự điều chỉnh và hướng dẫn kịp thời để việc áp dụng được thống nhất, đó là:

Vướng mắc liên quan đến đăng ký khai sinh:Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được đăng ký khai sinh, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con thì cha, mẹ, ông, bà hoặc những người thân thích khác phải có trách nhiệm đến UBND  cấp xã nơi cư trú của người mẹ để đăng ký khai sinh cho đứa trẻ, nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì UBND cấp xã nơi cư trú của người cha sẽ thực hiện đăng ký khai sinh.

Continue reading

TĂNG THỜI GIAN NGHỈ THAI SẢN LÊN 6 THÁNG?

LAN HƯƠNG

– Có nên tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng, khi vấn đề tử vong ở trẻ sơ sinh có liên quan đến việc bú mẹ và sức khoẻ của các bà mẹ? Bộ LĐ-TB&XH cùng Bộ Y tế đang chuẩn bị ngồi lại với nhau để bàn về vấn đề này.

Theo báo cáo mới nhất của UNICEF về tình hình trẻ em thế giới 2008, tại Việt Nam cứ mỗi ngày đi qua lại có khoảng 72 trẻ dưới 5 tuổi tử vong; trẻ sơ sinh chiếm hơn một nửa trong số đó.

Bà Đinh Thị Phương Hoà, Phó Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em (Bộ Y tế) cho biết, tiến độ giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh bị chậm lại là do sự quan tâm của các nhà chính sách, các nhà chuyên môn trong nước thời gian qua chưa đúng mức, đúng cách. Trẻ sơ sinh trong độ tuổi từ 0-30 ngày chưa được đầu tư tốt, đây là khoảng trống dẫn đến tỷ lệ tử vong cao.

Thậm chí con số báo cáo nói trên chưa phản ánh đúng thực chất. Theo một kết quả thống kê, chỉ có trên 80% trẻ dưới 5 tuổi có khai sinh, không có khai sinh hiển nhiên không có khai tử!

Theo bà Hòa, những quan niệm sai lầm về việc chăm sóc trẻ sơ sinh là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở trẻ. Chẳng hạn rất nhiều bà mẹ vẫn thường có suy nghĩ muốn làm việc đến tận lúc “lên bàn đẻ” để dành nhiều thời gian chăm sóc con sau này. Họ không hiểu rằng thời gian nghỉ trước sinh là vô cùng quan trọng. Nếu bà mẹ làm việc đến cận ngày sinh sẽ dẫn đến nguy cơ sinh ra những đứa trẻ nhẹ cân, làm tăng nguy cơ tử vong.

Để tạo điều kiện cho các bà mẹ có thêm thời gian chăm sóc con cũng như sức khoẻ bản thân, Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em và Vụ Trẻ em đang nghiên cứu và trình cấp trên về việc cho tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng.

Bà Hòa khuyến cáo: Việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng là điều kiện giúp các bà mẹ có cơ hội nghỉ 1 tháng trước khi sinh và có thể thực hiện việc cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời.

Ông Đặng Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Trẻ em, cho biết: “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc tăng thời gian nghỉ thai sản cho chị em phụ nữ bởi điều đó không chỉ giúp các bà mẹ có thêm nhiều thời gian nghỉ ngơi mà quan trọng hơn là giúp trẻ có cơ hội được chăm sóc tốt hơn từ chính bàn tay mẹ, giúp phát triển thế hệ tương lai một cách toàn diện và bền vững.

Nhưng việc nghỉ sinh liên quan đến sửa đổi Luật Lao động và liên quan đến chính sách bảo hiểm. Vì hiện nay, lương của những người trong thời gian nghỉ thai sản là do bảo hiểm xã hội chi trả. Bởi vậy, để giải quyết được vấn đề này phải có sự đồng tình của nhiều cấp cũng như nhận thức đúng tầm quan trọng từ phía các cấp lãnh đạo”.

Ngoài ra, cùng với việc tăng thời gian nghỉ sinh, các cơ quan chức năng cũng cần xem xét đến vấn đề giảm hơn nữa thời gian làm việc của các bà mẹ vào thời gian đầu mới đi làm lại. Đây chính là nguyện vọng của đa số các bà mẹ làm công ăn lương hiện nay.

SOURCE:  Lan Hương-Dân Trí

MỘT PHƯỜNG CÓ HƠN 400 TRẺ "VÔ DANH"

MINH TRÍ – BẢO PHƯỢNG

——————————————————————————————-

Bà Trịnh Thị Bích, Trưởng phòng Hộ tịch-Lý lịch tư pháp-Quốc tịch, Sở Tư pháp TPHCM, cho biết hầu hết các trẻ chưa đăng ký khai sinh là do vướng về vấn đề hộ khẩu. Sở đã gởi công văn đề nghị Bộ tháo gỡ vấn đề này.

——————————————————————————————-

Cứ năm này qua năm khác, các em được sinh ra, rồi lớn lên trong nỗi khổ thiếu giấy tờ tùy thân “cha truyền con nối”.

Hộ khẩu đã mở nhưng hộ tịch còn bó

Từ 1-7-2007, Luật Cư trú có hiệu lực. Theo luật này, “cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Thế nhưng Nghị định 158 năm 2005 vẫn gói gọn thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em tại ba nơi tuần tự như sau:

– Tại UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ.

– Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì đăng ký tại UBND cấp xã nơi cư trú của người cha.

– Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha thì UBND cấp xã nơi trẻ em đang sinh sống thực hiện đăng ký khai sinh.

Theo cách hiểu trước giờ trong đăng ký hộ tịch, “nơi cư trú” của người mẹ hoặc người cha là “nơi có hộ khẩu thường trú”. Trường hợp không có nơi có hộ khẩu thường trú thì phải có giấy xác nhận bị xóa hộ khẩu tại địa phương cũ mới được đăng ký hộ tịch tại nơi tạm trú. Trong 450 trường hợp trẻ em bị “treo” khai sinh tại phường Bình Hưng Hòa A, đa phần do cha mẹ của trẻ đều là dân nhập cư từ tỉnh, thành phố khác. Những người này đều có tình trạng hộ khẩu “lơ lửng”. Không những thế, nhiều người không có cả CMND lẫn giấy chứng nhận kết hôn. Vì thế cứ năm này qua năm khác, các em được sinh ra, rồi lớn lên trong nỗi khổ thiếu giấy tờ tùy thân “cha truyền con nối”.

Quê nhà quá xa xôi

Năm 1989, chị Trần Thị Đoàn và anh Trần Ích Thắng sinh con đầu lòng, đặt tên Trần Thanh Hồng. Chị Đoàn không có CMND lẫn giấy chứng nhận kết hôn. Đến năm 1992 chị mới làm các loại giấy tờ này và bắt đầu đi khai sinh cho con thì lại vướng hộ khẩu. Trước kia chị Đoàn ở Quảng Ngãi, từ khi lấy chồng thì vào TP.HCM làm ăn nhưng không thể chuyển hộ khẩu vào TP.HCM vì vướng quy định về hộ khẩu trước đây. Khi cha mẹ chị ở Quảng Ngãi qua đời, người anh chị làm lại hộ khẩu mới đã xóa tên chị trong hộ khẩu. Không còn hộ khẩu thì khai sinh cho con phải về quê xác nhận bị xóa hộ khẩu rất phức tạp nên anh chị… bỏ lơ luôn khiến các con phải sống trong cảnh “công dân vô danh”. Em Hồng đã lên lớp 11 nhưng vẫn chưa làm được CMND. Gặp chúng tôi trong căn nhà nhỏ xíu chưa đầy 10 m2, Hồng băn khoăn không biết sắp tới muốn thi vào đại học thì phải làm thế nào.

 

Cháu Phương Linh không được cấp bằng tiểu học vì chưa có giấy khai sinh.

Chị Nguyễn Thị Thơm (mẹ của em Ngô Minh Lâm) là người Ninh Bình, vào sống tại TP.HCM hơn 10 năm, một mình nuôi con. Chị dự định về Bắc để làm giấy khai sinh cho con mà không đủ tiền về. Chị phân trần: “Cứ dành dụm được chút tiền thì mẹ ốm hoặc con ốm lại tiêu hết. Vay mượn thì nghèo khó nên chẳng ai muốn cho vay. Tôi cũng chưa biết bao giờ thì về được mà lo giấy tờ cho cháu”.

Thiếu tiền nhà bảo sanh: Bị “ách” giấy chứng sinh!

Nguyên trước đây chị Mai có hộ khẩu tại quận 6 nhưng vì bán nhà trả nợ nên phải về quận Bình Tân mướn nhà ở tạm. Năm 1994, chị sinh một bé gái, đặt tên là Phương Ly Ly. Hiện Ly đang là học sinh lớp 3 của Trung tâm Chấp cánh (một trung tâm từ thiện ở phường Bình Hưng Hòa A). Chị Mai sinh cháu Ly tại nhà bảo sanh Cây Gõ (phường 9, quận 6), vì không có 300.000 đồng trả cho nhà bảo sanh nên chị không xin được giấy chứng sinh. Chị Mai buồn bã nói: “Mới rồi tôi quay lại nhà bảo sanh xin giấy chứng sinh cho cháu, họ lại đòi 500.000 đồng mới cấp lại giấy chứng sinh. Tôi chưa xoay đâu được tiền nên đành chịu”. Chị của Ly là cháu Hoàng thì có giấy chứng sinh nhưng do hộ khẩu chị Mai còn tại quận 6 nên buộc phải quay về quận 6 để khai sinh cho con. Bị chỉ lên chỉ xuống riết làm chị nản lòng, vẫn chưa khai sinh cho con được.

Lối vào đời quá hẹp

Tại lớp học tình thương Thiên Ân (phường Bình Hưng Hòa A, Bình Tân), phần lớn học sinh đều chưa có giấy khai sinh. Thầy Trần Kính Lữ, giáo viên lớp này, phân trần: “Chúng tôi dạy cho các em nhưng không được cấp bằng. Nếu các em muốn học lên thì phải có bằng, có học bạ, mà muốn được cấp học bạ thì các em phải có giấy khai sinh”. Lớp tình thương Thiên Ân chỉ dạy từ lớp 1 đến lớp 5. Để các em có thể học tiếp lên THCS, thầy Lữ đã xin Trường tiểu học Bình Thuận (nơi thầy đang giảng dạy) cuốn sổ học bạ cho các em học lớp 5. Thầy cũng xin thêm bản sơ yếu lý lịch có chứng nhận của UBND phường để các em có thể tham gia kỳ thi cuối năm lớp 5, có điểm và giấy tờ để xin vào học tiếp lớp 6 ở các trường THCS. Tuy nhiên, có trường chấp nhận, có trường từ chối.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT;

2. GIẤY KHAI SINH QUA THỰC TIỄN TƯ PHÁP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN;

3. Một số điểm mới trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;

4. NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

HƯƠNG NGUYỄN

Mới đây, trong 2 ngày (10-11/1)Hội nghị về đăng ký khai sinh (ĐKKS)và quốc tịch cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đã diễn ra tại Hà Nội do Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp chủ trì. Tham dự hội nghị có đại diện của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Công an và đại diện của các Sở tư pháp địa phương. Tại hội nghị, đại diện các bên đã đưa ra những thực tế, các giải pháp và kiến nghị để cùng nhau tìm ra phương pháp giải quyết những bất cập trong quá trình thực thi trong thời gian tới.

Những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong lĩnh vực ĐKKS bao gồm nhóm trẻ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn; nhóm  trẻ được sinh ở nước ngoài, có cha là người nước ngoài, cha mẹ  của trẻ có đăng ký kết hôn nhưng cha mẹ đã ly hôn hoặc ly thân, người mẹ đưa con về Việt Nam sinh sống; nhóm trẻ đang sống cùng mẹ trong trại giam do mẹ vi phạm pháp luật. Do đó điều mà các bên quan tâm đó là tình trạng pháp lý (phức tạp) cũng như thiếu cơ sở để các cháu được đăng ký kết hôn.

Trẻ sẽ được ĐKKS tại nơi cha hoặc mẹ đang tạm trú hoặc làm việc ổn định?

Đó là một trong những kiến nghị mà đại diện của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong bản báo cáo tham luận sáng qua tại hội nghị. Trên thực tế, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có đông dân cư nhất trong cả nước và là một trong những nơi có lượng hồ sơ hộ tịch và quốc tịch được giải quyết hàng năm là rất lớn. Do đó, thành phố này cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết đăng ký khai sinh và quốc tịch cho con lai của các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam và một số trẻ có cha hoặc mẹ là người Campuchia đang sinh sống và lao động tại đây. Các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam thường định cư tại nước ngoài, nhưng khi các mà mẹ quay trở về Việt Nam muốn xin ĐKKS cho con lại gặp nhiều vấn đề vì trẻ em là con lai lại thuộc trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Nhiều người khi muốn làm thủ tục ĐKKS cho con  nhưng lại không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch như không có giấy tờ chứng sinh, khai sinh hoặc có lại cố tình “dấu” đi…

Theo Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, các trường hợp cha mẹ trẻ định cư ở nước ngoài, gửi con về gia đình nuôi dưỡng cần đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho trẻ do cha mẹ làm việc tại các khu công nghiệp  trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng hộ khẩu ở các tỉnh thành khác được hưởng mọi quyền lợi, Bộ Tư pháp cho phép giải quyết ĐKKS theo sự lựa chọn nơi cư trú, thậm chí là tạm trú của cha hoặc mẹ. Để hạn chế việc ĐKKS cho trẻ ở nhiều nơi, thì sau khi ĐKKS, UBND cấp xã nơi đang ký tạm trú gửi thông báo cho UBND cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú của đương sự để biết và theo dõi.

Ngượng không dám ĐKKS cho con

Tình trạng này không phải là hiếm tại tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh có lượng lớn người kết hôn với công dân Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Theo ước tính, có khoảng 5000-6000  trường hợp kết hôn kiểu này tại Vĩnh Long, chiếm một nửa tỷ lệ của cả nước. Và cũng tại đây ngày càng có nhiều trường hợp trẻ sinh ra tại nước ngoài  nhưng do mẹ bị ngược đãi bỏ trốn về Việt Nam sinh sống và ly hôn tại Việt Nam hoặc ly hôn tại nước ngoài ( không mang theo giấy khai sinh hay các giấy tờ chứng minh) về Việt Nam nên không thể ghi chú khai sinh theo điều 55 của NĐ158.  Từ đó dẫn đến thực trạng nhiều trẻ em chưa có khai sinh. Nhiều người cảm thấy mặc cảm, ngượng vì đã bị ngược đãi tại nước ngoài nên  không trình báo với cơ quan nhà nước để xin ĐKKS hay nhập quốc tịch cho con. Một số trường hợp thì nghĩ con còn nhỏ chưa đi học nên chưa cần làm vội…

Cán bộ trại giam tự ĐKKS cho trẻ?

Theo chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua, nhiều nữ bị can, bị cáo, nữ bị kết án tù khi mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được các cơ quan pháp luật cho tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên trên thực tiễn, một số đối tượng này đã lợi dụng điều này để liên tục được “xếp” vào diện được hoãn, đình chỉ, hay tại ngoại. Và nhiều khi những đứa trẻ sinh ra tại trại giam không dễ dàng được UBND cấp xã ĐKKS cho. Tại nhiều địa phương, UBND cấp xã chỉ ĐKKS vì “tình cảm” chứ không theo “ nguyên tắc”, thậm chí còn “ khuyến khích’ cán bộ trại giam tự đi mà …ĐKKS lấy cho trẻ. Theo những uỷ ban này, khi bắt phạm nhân đến  cán bộ trại giam không đăng ký với họ  nên họ không quản lý. Các nguyên nhân của tình trạng này là do những người cha hoặc mẹ đứa trẻ khi bị giam bị bắt không mấy quan tâm đến việc ĐKKS cho con,  nhiều người không có giấy đăng ký kết hôn hay thậm chí không biết cha đứa trẻ là ai…UBND cấp xã chưa nắm vững được các quy định của pháp luật, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho người đến làm thủ tục khai sinh.

Chính những vướng mắc trên mà các đại biểu đều đưa ra kiến nghị cần sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ158 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Bên cạnh đó cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các ban ngành có liên quan như Bộ Công An, Bộ Giáo dục đào tạo… để ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết những bất cập nẩy sinh. Đồng thời nâng cao  hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để mọi người hiểu, nhận thức đúng và chấp hành tốt các quy định đó. Sắp tới, việc soạn thảo đề án sửa đổi Luật Quốc tịch sẽ có thể cho phép người có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng 2 quốc tịch.

Bên cạnh đó, các đại biểu tham gia Hội nghị cũng bàn luận về các vấn đề như thực tiễn việc ĐKKS cho trẻ  bị buôn bán, là nạn nhân bị buôn bán trở về, việc ĐKKS cho trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam, HIV, trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ. Kết thúc hội nghị, Vụ Hành chính Tư pháp nhất trí sẽ nhanh chóng sửa đổi NĐ158 cho phù hợp với tình hình hiện nay, tiến hành rà soát việc thi hành pháp luật về vấn đề ĐKKS cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tại một số tỉnh thành, phối hợp với các Bộ có liên quan đến ban hành các Thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn thi hành các vấn đề còn vướng mắc/.

Hương Nguyễn – MOJ.GOV.VN

NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” .

Trong tiếng Việt, chung thuỷ là vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi.

Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong quan hệ vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi. Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO LUẬT QUAN HỆ LAO ĐỘNG BANG NEWSOUTHWARE NĂM 1996 – AUSTRALIA

Quy chế lao động và Hợp Đồng Xí Nghiệp

Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động (Industrial Relations Commission) Tiểu Bang NSW có thể lập quy chế lao động và chuẩn y hợp đồng xí nghiệp quy định điều kiện làm việc cho nhân viên làm việc trong từng ngành.

Luật Quan Hệ Lao Động NSW 1996 (NSW Industrial Relations Act 1996) (gọi tắt là ” Luật “) quy định điều kiện nhân dụng ở Tiểu Bang NSW bằng cách giao cho Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (gọi tắt là “Uỷ Ban”) nhiệm vụ lập quy chế lao động và chuẩn y hợp đồng xí nghiệp quy định điều kiện làm việc cho nhân viên làm việc trong từng ngành.

Quy chế lao động là gì?

Quy chế lao động định rõ những quyền lợi và trách nhiệm của chủ nhân và nhân viên của mỗi ngành. Có nhiều loại quy chế lao động khác nhau, áp dụng cho những ngành nghề khác nhau.

Quy chế lao động định điều kiện làm việc, như số giờ làm việc, mức lương, mức lương ngoài giờ, lương phụ trội (loading), phụ cấp, ngày nghỉ, chế độ bảo vệ chỗ làm, và việc làm bán thời hay bất thường.

Lập quy chế lao động NSW như thế nào?

Uỷ Ban lập quy chế lao động tiểu bang áp dụng ở NSW (“NSW awards” [quy chế lao động NSW]). Thường thường, Uỷ Ban lập quy chế lao động khi những tổ chức đại diện các chủ nhân (“employer organisations”) hoặc nhân viên (“unions”, [công đoàn]) yêu cầu Uỷ Ban lập quy chế lao động. Uỷ Ban cũng có thể lập quy chế lao động để giải quyết tranh chấp lao động.

Quy chế lao động NSW áp dụng cho những ai?

Quy chế lao động NSW áp dụng cho tất cả chủ nhân và nhân viên trong ngành nghề thuộc quy chế lao động đó, dù có góp phần vào việc lập quy chế lao động hay không. Quy chế lao động NSW nào cũng có một điều khoản nêu rõ ngành hay nghề mà quy chế lao động áp dụng.

Luật buộc chủ nhân phải trưng phó bản của tất cả những Quy chế lao động NSW liên quan ở nơi làm việc.

Còn quy chế lao động liên bang thì sao?

Quy chế lao động liên bang áp dụng cho một số nhân viên làm việc ở NSW. Có khi cả quy chế lao động liên bang lẫn quy chế lao động NSW áp dụng cho cùng một nơi làm, nhưng áp dụng cho những loại nhân viên khác nhau.

Điều kiện làm việc ghi trong quy chế lao động NSW áp dụng cho tất cả nhân viên làm việc trong ngành nghề thuộc quy chế lao động đó, trừ khi những nhân viên hưởng quy chế lao động liên bang.

Quy chế lao động liên bang nêu rõ loại nhân viên mà quy chế lao động đó áp dụng, và cũng ghi rõ những chủ nhân nào được áp dụng quy chế lao động liên bang (hoặc cho từng chủ nhân, hoặc cho từng tổ chức mà chủ nhân đó là thành viên).

Muốn có chi tiết về quy chế lao động liên bang, xin liên lạc Federal Department of Workplace Relations (Bộ Quan Hệ Lao Động và Doanh Nghiệp Nhỏ Liên Bang), số 1300 363 264.

Hợp đồng xí nghiệp là gì?

Hợp đồng xí nghiệp cũng quy định quyền lợi và trách nhiệm của chủ nhân và nhân viên trong từng loại việc cụ thể trong xí nghiệp.

Chủ nhân và nhân viên hoặc công đoàn thay mặt nhân viên (“the parties”, các bên) có thể thương lượng để lập hợp đồng xí nghiệp.

Trong trường hợp có dị biệt, những điều khoản của một hợp đồng xí nghiệp có giá trị ưu tiên so với những điều khoản của quy chế lao động. Một hợp đồng xí nghiệp có thể liên quan tới một phần hay toàn bộ điều kiện làm việc áp dụng cho những nhân viên liên hệ.

Tuy nhiên, hợp đồng xí nghiệp phải tuân theo tất cả luật của NSW quy định quyền lợi và trách nhiệm về việc làm, như quyền được nghỉ nuôi con, nghỉ hàng năm, và nghỉ thâm niên.

Bất cứ hợp đồng xí nghiệp nào cũng phải lập thành văn bản và có chữ ký của các bên hay đại diện. Hợp đồng phải ghi tên các bên, và phải nêu rõ những nhân viên đối tượng của hợp đồng.

Thông thuờng, mọi hợp đồng xí nghiệp phải có hiệu lực trong khoảng thời gian nhất định từ một tới ba năm. Tuy nhiên, hợp đồng xí nghiệp tiếp tục có hiệu lực sau khoảng thời gian đó, trừ khi bị huỷ bỏ.

Hợp đồng xí nghiệp được chuẩn y như thế nào?

Có thể làm đơn nộp cho Văn Phòng Đăng Ký (Industrial Registrar) của Uỷ Ban xin chuẩn y hợp đồng. Hợp đồng xí nghiệp chỉ có hiệu lực sau khi được Uỷ Ban chuẩn y.

Khi nào Uỷ Ban chuẩn y một hợp đồng xí nghiệp?

Khi quyết định chuẩn y, Uỷ Ban phải đảm bảo là:

  • hợp đồng tuân theo tất cả những quy định của luật pháp;
  • nhìn chung, hợp đồng không làm cho nhân viên bị thiệt;
  • các bên hiểu rõ ảnh hưởng của hợp đồng;
  • các bên không bị cưỡng ép ký hợp đồng; và
  • hợp đồng không bất công loại trừ một số nhân viên nào đó.

Nhân viên có phải ký hợp đồng xí nghiệp không?

Không ai bị ép buộc ký hợp đồng xí nghiệp. Tuy nhiên, khi những nhân viên liên quan đã bỏ phiếu kín chấp thuận một hợp đồng, thì sau khi Uỷ Ban chuẩn y, hợp đồng cũng áp dụng cho cả những nhân viên đã không bỏ phiếu tán thành.

Tương tự, khi một nhân viên mới nhận chỗ làm ở một chủ nhân đã có hợp đồng xí nghiệp, thì sẽ được hưỏng hợp đồng đó trong những phần mà hợp đồng áo dụng cho công việc của mình.

Tuy nhiên, chủ nhân phải thông báo cho nhân viên mới được biết về hợp đồng đó và phải cung cấp cho nhân viên mới một bản tóm tắt hợp đồng.

Nghỉ nuôi con

Luật Quan Hệ Lao Động 1996 (Industrial Relations Act 1996) quy định chế độ tối thiểu để cho nhân viên hưởng nghỉ mẹ sinh con, cha nuôi con và nghỉ nuôi con nuôi.

Nghỉ nuôi con

Luật Quan Hệ Lao Động 1996 (Industrial Relations Act 1996) quy định ngày nghỉ tối tiểu cho nhân viên nghỉ nuôi con. Luật, quy chế lao động và hợp đồng làm việc có thể để nhân viên nghỉ nhiều hơn.

Nghỉ nuôi con là gì?

Nghỉ nuôi con là chế độ được nghỉ không lương, trừ khi quy chế lao động hay hợp đồng quy định khác. Nhân viên có thể nghỉ nuôi con dưới hình thức:

  • mẹ nghỉ, khi nhân viên có thai hoặc sinh con;
  • cha nghỉ khi vợ sinh con;
  • nghỉ khi nhận trẻ dưới 5 tuổi làm con nuôi.

Nhân viên không cần phải có hôn thú mới được nghỉ nuôi con.

Ai được hưởng nghỉ nuôi con?

Nhân viên nam nữ đều có thể được nghỉ nuôi con. Nhân viên toàn thời, bán thời hoặc bất thường được nghỉ nuôi con sau khi làm liên tục với chủ nhân của mình ít nhất 12 tháng.

Nhân viên sẽ được nghỉ nuôi con sau khi làm việc đều đặn và theo hệ thống với chủ nhân của mình ít nhất 12 tháng, và có hy vọng là tiếp tục đươc làm. Những người làm việc tạm thời khác và những người làm theo mùa không được nghỉ nuôi con.

Sau khi làm với một chủ nhân 12 tháng, thông thường nhân viên được nghỉ nuôi con mỗi lần có con.

Nhân viên được nghỉ nuôi con bao lâu?

Nhân viên được nghỉ tối đa 52 tuần lễ. Có thể nghỉ theo những cách sau đây:

  • mẹ nghỉ: một thời gian nghỉ liên tục trong lúc có thai hoặc sau khi sinh con;
  • cha nghỉ : một thời gian nghỉ liên tục nhiều nhất là một tuần lễ bắt đầu khi con ra đời (cha nghỉ ngắn ngày) và một thời gian nghỉ liên tục nữa để làm người săn sóc chính cho con (cha nghỉ dài ngày); hoặc
  • nghỉ nuôi con nuôi: một thời gian nghỉ liên tục nhiều nhất là ba tuần lễ bắt đầu khi nhận con nuôi (nghỉ ngắn ngày) một thời gian nghỉ liên tục nữa để làm người săn sóc chính cho con (nghỉ dài ngày).

Tất cả các hình thức nghỉ nuôi con phải chấm dứt trước sinh nhật thứ nhất của con hoặc ngày nhận con nuôi được một năm.

Nhân viên và vợ/chồng nhân viên không được nghỉ nuôi con cùng một lúc, trừ khi một trong hai người đang ở trong thời gian “nghỉ nuôi con ngắn ngày” hoặc “nghỉ nuôi con nuôi ngắn ngày”.

Có thể bắt buộc nhân viên nghỉ nuôi con không?

Không.

Chủ nhân phải cho nhân viên biết những gì?

Khi biết nhân viên hay vợ/chồng nhân viên có thai hoặc sắp nhận con nuôi, chủ nhân phải cho nhân viên biết quyền nghỉ nuôi con và nhân viên có trách nhiệm báo cho chủ nhân ý định nghỉ của mình.

Nhân viên phải báo trước bao lâu?

Nhân viên phải:

  • thông báo ý định nghỉ bằng thư ít nhất mười tuần lễ trước ngày dự định bắt đầu nghỉ; và
  • thông báo bằng thư ngày muốn bắt đầu và chấm dứt nghỉ ít nhất bốn tuần lễ trước ngày bắt đầu nghỉ nuôi con (14 ngày trong trường hợp nghỉ nuôi con nuôi).

Trước khi nghỉ, nhân viên phải đưa giấy bác sĩ chứng nhận có thai và ngày sinh dự đoán hoặc thư báo của cơ quan chuẩn nhận con nuôi có ghi ngày nhận con nuôi.

Trước khi bắt đầu nghỉ sinh con hoặc nghỉ nuôi con dài ngày, nhân viên phải trình:

  • tờ khai danh dự ghi xin nghỉ nuôi con mà người vợ/chồng xin; và
  • tờ khai danh dự ghi nhân viên là người săn sóc chính của cháu bé (chỉ cần trong trường hợp nghỉ nuôi con dài ngày và nghỉ nuôi con nuôi dài ngày).

Nhân viên có thể đổi ý về thời gian nghỉ không?

Nhân viên có thể kéo dài thời gian nghỉ nuôi con một lần mà không cần ưng thuận của chủ nhân, nếu báo trước ít nhất 14 ngày. Muốn kéo dài nữa, thì nhân viên và chủ nhân phải thoả thuận với nhau.

Có thể rút ngắn thời gian nghỉ nuôi con nuôi nếu nhân viên báo trước ít nhất 14 ngày và chủ nhân đồng ý.

Chủ nhân có thể yêu cầu nhân viên trở lại làm việc để giúp chủ nhân không?

Nếu chủ nhân yêu cầu, nhân viên có thể ngưng nghỉ nuôi con để trở lại làm việc toàn thời, bán thời hay tạm thời. Tuy nhiên, nhân viên không bắt buộc phải theo lời yêu cầu của chủ nhân.

Nhân viên vẫn có quyền trở lại nghỉ nuôi con sau khi đã làm việc theo yêu cầu của chủ nhân. Tuy nhiên, nhân viên vẫn phải ngưng nghỉ nuôi con trước sinh nhật thứ nhất của con hoặc ngày nhận con nuôi được một năm.

Nhân viên nên yêu cầu chủ nhân ghi bằng văn thư thời gian ngưng nghỉ nuôi con để làm việc thoả thuận giữa hai bên.

Nhân viên đang nghỉ nuôi con có thể làm việc có lương không?

Chủ nhân có thể yêu cầu nhân viên không làm việc cho các chủ nhân khác khi đang nghỉ nuôi con, nếu việc làm đó mâu thuẫn với việc làm chính.

Nhân viên có được nghỉ đặc biệt vì đau ốm không?

Nếu đau ốm vì có thai trong lúc đang làm việc, nhân viên có quyền nghỉ sinh con không lương hay dùng ngày nghỉ bệnh có lương (hay dùng cả hai loại nghỉ). Phải có giấy bác sĩ.

Nếu sẩy thai, con chết hoặc không xin được con nuôi thì sao?

Nếu nhân viên chưa bắt đầu nghỉ nuôi con, thì sẽ không đựợc nghỉ nữa. Tuy nhiên, nhân viên phái nữ được hưởng “nghỉ sản phụ đặc biệt” trong một thời gian. Nếu đang nghỉ, nhân viên có thể viết thư yêu cầu chủ nhân cho trở lại làm việc. Chủ nhân phải để nhân viên trở lại làm việc trong vòng hai tuần lễ kể từ ngày nhận thư yêu cầu.

Nhân viên còn được hưởng chế độ nghỉ nào khác không?

Nhân viên có thể dùng ngày nghỉ hàng năm, nghỉ thâm niên thay cho (hay cùng với) nghỉ nuôi con. Thời gian tổng cộng của tất cả các loại nghỉ không được hơn 52 tuần lễ. Dùng ngày nghỉ bệnh khi đang nghỉ nuôi con thì không được trả lương, trừ khi chủ nhân đồng ý trả.

Nhân viên muốn nhận con nuôi được hưởng hai ngày nghỉ không lương để dự những buổi phỏng vấn bắt buộc liên quan tới việc nhận con nuôi.

Nếu nhân viên nghĩ là chỗ làm nguy hiểm thì sao?

Nếu việc đang làm nguy hiểm cho người mang thai hay nuôi con bằng sữa mẹ, chủ nhân phải điều chỉnh điều kiện hay giờ làm việc, hoặc chuyển nhân viên sang làm công việc thích hợp. Chỗ làm mới phải có chức vị và lương bổng tương tự. Bác sĩ của nhân viên phán đoán về những nguy hiểm đó.

Nếu không thể chuyển nhân viên, nhân viên phải được hưởng ” nghỉ sản phụ đặc biệt “, theo yêu cầu của bác sĩ.

Nhân viên có quyền trở lại làm việc không?

Có. Nhân viên được quyền trở lại chỗ làm ngay trước khi nghỉ nuôi con. Nếu không còn chỗ làm đó, chủ nhân phải tìm cho nhân viên một chỗ làm tương đương về chức vị và lương bổng với chỗ làm trước.

Có thể sa thải nhân viên đang nghỉ nuôi con không?

Không. Sa thải nhân viên vì người ấy hay vợ/chồng nhân viên:

  • có thai hoặc xin nhận con nuôi;
  • sinh con hoặc nhận con nuôi: hoặc
  • xin hay đang nghỉ nuôi con là phạm luật.

Nhân viên cũng có thể nộp đơn khiếu nại sa thải bất công cho Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Industrial Relations Commission).

Nghỉ nuôi con ảnh hương đến quyền lợi làm việc của nhân viên như thế nào?

Nghỉ nuôi con không làm gián đoạn thời gian thâm niên của nhân viên đối với chủ nhân. Tuy nhiên, thời gian nghỉ việc sẽ không đươc kể khi tính nghỉ thâm niên hay những loại nghỉ khác.

Phải giữ sổ sách về nghỉ nuôi con bao lâu?

Chủ nhân phải giữ sổ sách về nghỉ nuôi con ít nhất sáu năm.

Chủ nhân có được dùng nhân viên thay thế không?

Chủ nhân có thể dùng người thay thế trong thời gian nhân viên nghỉ nuôi con. Chủ nhân phải để người thay thế đó biết là việc làm chỉ có tính cách tạm thời và nhân viên đang nghỉ nuôi con sẽ trở lại chỗ làm.

Chủ nhân có được kỳ thị nhân viên nghỉ nuôi con không?

Không. Nếu cho là bị chủ nhân kỳ thị vì có thai hoặc muốn nghỉ nuôi con, nhân viên có thể khiếu nại kỳ thị với Hội Đồng Chống Ky Thị NSW (Anti-Discrimination Board of NSW) hoặc Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Industrial Relations Commission).

Muốn biết thêm chi tiết

Tài liệu này chỉ tóm tắt một số điều khoản chọn lọc của Luật Quan Hệ Lao Động NSW 1996 (NSW Industrial Relations Act 1996). Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc:

  • tổ chức chủ nhân hoặc công đoàn của Quý Vị, nếu Quý Vị là thành viên.
  • Văn Phòng Đăng Ký của Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động (Industrial Registry)
    50 Phillip Street, Sydney, 2000
    Điện thoại (02) 9258 0866
    Website: http://www.lawlink.nsw.gov.au/
  • Bộ Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Office of Industrial Relations)
    Điện thoại : 131 628 (tiền gọi địa phương ở NSW) Website: http://www.industrialrelations.nsw.gov.au/
  • Hội Đồng Chống Ky Thị NSW (Anti-Discrimination Board of NSW)
    Level 17, 201 Elizabeth Street, Sydney 2000
    Điện thoại : (02) 9268 5544 hoặc 1800 670 812
    Website: www.lawlink.nsw.gov.au/adb

SOURCE: http://www.industrialrelations.nsw.gov.au

GIẤY KHAI SINH QUA THỰC TIỄN TƯ PHÁP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

Giấy khai sinh là căn cứ đầu tiên, là cơ sở pháp lý tin cậy nhất về một công dân, đặc biệt khi làm các giấy tờ khác liên quan đến quyền lợi của bản thân như: học tập, công tác, đăng ký hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, ở một số địa bàn vùng sâu vùng xa của tỉnh Điện Biên, việc làm giấy khai sinh đang gặp nhiều khó khăn và bất cập…

Tự do kết hôn và sinh con… tự do!?
Từ năm 2001 cuối năm 2006, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên đã tiến hành rà soát hơn 66.000 cặp hôn nhân thực tế và phát hiện gần 8.000 cặp không đăng ký hoặc không đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo luật định. Tính đến đầu năm 2007, tỷ lệ đăng ký kết hôn ở tỉnh Điện Biên đạt trên 80%, nhiều huyện như: Tuần Giáo, Mường Nhé tỷ lệ đăng ký kết hôn chỉ đạt từ 60% đến 70%. Trong đó, tại hai xã Mường Toong và Chung Chải của huyện Mường Nhé, cán bộ tư pháp phát hiện trên 600 cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn, nhưng đã có với nhau mấy mặt con!?
Kết hôn “thoáng” như vậy nên hiện nay, tỷ lệ sinh của toàn tỉnh ở mức xấp xỉ 2,6%, trong đó tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ ba chiếm gần 20%. Sinh nhiều, đẻ lắm kéo theo một thực tế đáng buồn là nhiều trẻ em ở một số xã, bản vùng sâu vùng xa không được đăng ký khai sinh. Làm việc với chúng tôi, ông Nhữ Văn Quảng – Phó chủ nhiệm Ủy ban DS-GĐ và TE tỉnh Điện Biên cho biết: “Hiện toàn tỉnh tỷ lệ đăng ký khai sinh cho các cháu mới đạt trên 60%. Năm ngoái, tại huyện Điện Biên Đông, qua rà soát trên 10.000 cháu thì còn hơn 6.000 cháu chưa được đăng ký khai sinh. Có những xã như: Keo Lôm còn 927 cháu, Pú Nhi 800 cháu, Phình Giàng 797 cháu chưa có giấy khai sinh
Việc không đăng ký khai sinh cho các cháu khiến công tác an ninh trật tự ở các địa bàn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn. Đại úy Vũ Mạnh Hà – Phó trưởng phòng Công tác Chính trị PX 15, Công an tỉnh Điện Biên cho biết: “Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, làn sóng di dân ở một số tỉnh ào ạt đổ về các xã giáp biên giới Việt- Lào (chủ yếu thuộc hai huyện Mường Nhé và Mường Chà). Qua các đợt ra quân tăng cường cơ sở, lực lượng công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành đăng ký hộ khẩu cho dân di cư tự do, phát hiện quá nửa trong tổng số 27.000 người không có giấy khai sinh…”. Cũng theo Đại úy Vũ Mạnh Hà, một trong những nguyên nhân khiến nhiều người không đăng ký khai sinh cho con em mình là do bị kẻ xấu tuyên truyền, kích động gây mất đoàn kết dân tộc, khiến cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Đâu là nguyên nhân?
Về mặt khách quan, do địa bàn miền núi, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn từ xã đến bản có nơi phải mất vài ngày đi bộ, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, nên nhiều người ngại không đi đăng ký khai sinh cho con em mình. Nhưng về mặt chủ quan, cũng thấy rằng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật của ta còn nhiều bất cập, việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức.
Theo bà Vũ Thị Bích Phượng, Trưởng phòng Hành chính – Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên, ngoài những nguyên nhân nói trên, còn do trình độ hạn chế của cán bộ tư pháp cơ sở. Số cán bộ tư pháp cơ sở chưa qua đào tạo trung cấp chiếm khoảng hơn 60%. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Điện Biên đã mở các lớp bồi dưỡng cấp tốc về nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp cơ sở, nhưng xem ra cũng không cải thiện được tình hình là mấy. Các xã vùng sâu, vùng xa vẫn phải sử dụng đội ngũ cán bộ không có trình độ tư pháp để làm việc. Và điều này cũng đồng nghĩa với việc công tác tư pháp ở một số cơ sở đang bị thả nổi, chưa thể giải quyết một sớm một chiều.
Do trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, nên tại một số địa bàn đã phát hiện nhiều sai sót trong việc đăng ký và cấp giấy khai sinh. Một số trường học vùng sâu, vùng xa mua biểu mẫu sau đó ra xã xin cấp đồng loạt giấy khai sinh cho các cháu để bổ sung vào học bạ. Kiểu “hợp lý hoá” này vô hình trung đã làm giấy tờ nhân thân bị sai lệch, sau này có việc liên quan đến học tập, công tác, chữa bệnh… dân chạy ngược chạy xuôi, gõ đủ các “cửa” nhưng vẫn không được giải quyết.
Điều 11 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (sửa đổi) quy định rõ: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”… Tuy vậy, nhiều trẻ em vùng sâu, vùng xa ở Điện Biên vẫn chưa được đăng ký khai sinh. Thiết nghĩ các cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc. Coi việc làm tốt công tác hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký khai sinh là một trong những tiêu chuẩn để được công nhận làng bản văn hoá. Bồi dưỡng, củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở ngày càng hoàn thiện về trình độ, nghiệp vụ; nghiên cứu cải tiến mẫu sổ, sách, giấy tờ về hộ tịch theo hướng đơn giản hoá, đảm bảo độ bền của giấy tờ hộ tịch trước tình hình thời tiết khắc nghiệt vùng cao. Nên chăng, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch cấp giấy khai sinh miễn phí cho tất cả trẻ em vùng sâu, vùng xa? Dù số tiền không nhiều, nhưng với bà con nghèo, đó cũng là nguồn động viên, mà hiệu quả xã hội của nó vượt ra ngoài giá trị vật chất.

Hoàng Thanh

BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004

BẤT HIẾU KHÔNG ĐƯỢC LÀM QUAN

Bất hiếu với bố mẹ, đối xử tệ với bạn đời đều không được đề bạt. đó là tiêu chuẩn đề bạt cán bộ vừa được công bố của thành phố Hà Tân, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Ngoài các qui định chung của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, thành phố Hà Tân qui định cán bộ được đề bạt nhất định phải hiếu thảo với bố mẹ, đối xử tốt với bạn đời, trung thực. Đạo đức, năng lực, liêm khiết, học thức là bốn tiêu chuẩn quan trọng trong việc đề bạt cán bộ. Theo cán bộ nhân sự của thành phố Hà Tân, ngoài việc điều tra trực tiếp của cán bộ phụ trách nhân sự, sẽ công khai niêm yết tên cán bộ được đề cử xem có đơn thư tố tụng hay không, nếu trong quá trình điều tra có nhiều ý kiến khác nhau sẽ mời bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm đóng góp ý kiến. Không hiếu thảo, đối xử tệ bạc với bạn đời sẽ không được làm lãnh đạo, còn những cán bộ tại chức thì không được đề bạt vào chức vụ quan trọng.

*********************************

C.CHÁNH (Theo Nhân Dân Nhật Báo)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)