NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2018/NQ-HĐTP NGÀY 15 THÁNG 5 NĂM 2018 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU, TÀI SẢN BẢO ĐẢM CỦA KHOẢN NỢ XẤU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Điều 1. Phạm vi điều hỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu; một số quy định của pháp luật trong  giải quyết các tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/NQ-QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi là Nghị quyết số 42/NQ-QH14).

Điều 2. Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/NQ-HĐTP

1. Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo bẩm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu.

Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Để bảo đảm khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không giao. Tranh chấp này là tranh chấp “Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản của khoản nợ xấu.

Continue reading

HÀNH VI, SỰ KIỆN GÂY THIỆT HẠI VÀ QUAN HỆ NHÂN QUẢ

GS. PIERRE DELVOLVE – Đại học Panthéon-Assas,Paris, Cộng hòa Pháp

Xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả là một chủ đề vừa dễ lại vừa khó trình bày. Nếu chỉ dừng lại ở các nguyên tắc thì dễ, còn khó là vì trên thực tế, vấn đề này chỉ có thể được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể, tùy theo những tình tiết mà Tòa án có được. Trong quá trình xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả, có thể sẽ có những do dự, thậm chí e ngại, song dù sao, Tòa án cũng vẫn phải giải quyết.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại

Như nhiều đại biểu đã nhấn mạnh, hoạt động của các cơ quan công quyền mà trước hết là của Nhà nước trung ương luôn luôn thông qua hoạt động của các cá nhân là cán bộ, công chức nhà nước; tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng xác định được trong một cơ quan nhà nước thì cán bộ, công chức nào là người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại; không phải lúc nào hành vi gây thiệt hại cũng có thể quy cho một người cụ thể, mà chính cơ quan nhà nước nói chung là chủ thể gây thiệt hại. Vì vậy, hành vi gây thiệt hại có thể là một hành vi, sự kiện không xác định rõ danh tính chủ thể.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại có thể xuất phát từ nhiều loại quy định và xử sự khác nhau. Ở đây, tôi xin nêu ra hai trường hợp có thể truy cứu trách nhiệm bồi thường nhà nước, theo đó, trong một số vụ việc, Nhà nước có thể bị truy cứu trách nhiệm bồi thường do văn bản pháp luật, còn trong một số vụ việc khác, trách nhiệm bồi thường nhà nước lại phát sinh từ hành vi xử sự (có thể là hành động hoặc không hành động).

Continue reading

NHẬN DẠNG LỢI ÍCH GẮN LIỀN VỚI NGHĨA VỤ TRONG QUAN HỆ KẾT ƯỚC – KINH NGHIỆM CỦA ANH VÀ PHÁP

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

1. Dẫn nhập

Trong tư thế bình đẳng và với ý thức tự nguyện, bên giao kết hợp đồng tham gia vào quan hệ kết ước trong khuôn khổ tìm kiếm một hoặc nhiều lợi ích nào đó. Việc nhận dạng, xác định bản chất của lợi ích mà bên kết ước theo đuổi được người làm luật coi là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng của quan hệ kết ước được xác lập, từ đó, có thái độ phù hợp trong việc điều chỉnh quan hệ ấy bằng luật. Một hợp đồng được giao kết nhằm tìm kiếm các lợi ích trái pháp luật, phi đạo đức không xứng đáng được hưởng sự bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của luật pháp, công lực.

Tuy nhiên, tìm hiểu ý chí nội tâm của bên kết ước, xem họ mong muốn gì khi xác lập một giao kèo, là việc không đơn giản, nếu không muốn nói là rất khó. Vào thời La Mã cổ đại, người làm luật cũng như thẩm phán không quan tâm đến chuyện tìm hiểu căn cơ đích thực của nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ có nguồn gốc từ hợp đồng1: chỉ cần được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật, thì hợp đồng có hiệu lực ràng buộc; người ta không cần biết vì lý do gì hợp đồng được giao kết.

Đến thời Trung Cổ, luật giáo hội mới bắt đầu cân nhắc việc sàng lọc, phân loại các cam kết dựa theo ý chí của bên kết ước. Trong điều kiện việc xác định ý chí nội tâm gặp khó khăn, người làm luật chủ trương tìm kiếm các yếu tố được cho là sự bộc lộ, là biểu hiện bề ngoài của ý chí đó. Có hai yếu tố chính được ghi nhận: tính liên kết giữa các nghĩa vụ và động cơ xác lập nghĩa vụ. Tư tưởng chủ đạo là một mặt, một bên không phải giữ lời hứa của mình nếu bên kia không giữ lời hứa của họ; mặt khác, mục tiêu của việc xác lập quan hệ kết ước phải phù hợp với đạo đức. Nhiều quy tắc đã được xây dựng từ tư tưởng đó, cho phép vô hiệu hoá các hợp đồng bất bình đẳng hoặc được giao kết nhằm mục đích bất chính, phi đạo đức, như hợp đồng để giết người, cướp của, lừa lọc, mua bán đồ cấm,…

Continue reading

TỔNG QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP – Trong khuôn khổ Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật dân sự, phần các biện pháp bảo đảm, do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức các ngày 11 và 12 tháng 1 năm 2012, Giáo sư Michel Grimaldi đến từ Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp đã có bài trình bày tổng quát về pháp luật thực định của Pháp về các biện pháp bảo đảm. Dưới đây là tổng hợp một số nội dung chính trong bài trình bày của Giáo sư.

I. Một số vấn đề chung

Triết lý trái quyền và vật quyền trong Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự Pháp được thiết kế dựa trên hai chế định cơ bản là trái quyền và vật quyền. Trái quyền hay còn gọi là quyền đối nhân được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác. Vật quyền hay còn gọi là quyền đối vật là quyền của chủ thể tác động lên một vật.

Các biện pháp bảo đảm cũng được thiết kế theo triết lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền bảo đảm và trái quyền bảo đảm. Vật quyền bảo đảm có sức mạnh đặc biệt vì nó tạo ra quyền trực tiếp của chủ nợ có bảo đảm đối với giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm, thể hiện ở quyền theo đuổi và quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm. Quyền theo đuổi là quyền truy đòi tài sản bảo đảm dù tài sản đó không còn được con nợ nắm giữ. Quyền ưu tiên là quyền của chủ nợ có bảo đảm được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ không có bảo đảm.

Continue reading

XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN – ĐIỀU KIỆN ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM (Civillawinfor: Tham luận góp ý sửa đổi BLDS 2005)

1. Những điểm bất hợp lý của chế độ bảo đảm nghĩa vụ hiện hành

Bảo đảm nghĩa vụ: hạn chế quyền sở hữu. Trong luật Việt Nam hiện hành, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và, nói riêng, bảo đảm nghĩa vụ bằng thế chấp, cầm cố tài sản được xem lả các quan hệ pháp lý (có nguồn gốc từ hợp đồng) giữa hai con người, cụ thể là giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Luật Việt Nam không dung nạp khái niệm vật quyền, bởi vậy không hình dung khả năng phân biệt các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thành bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân như luật của các nước châu Âu. Có tác dụng xác lập nghĩa vụ bảo đảm, quan hệ bảo đảm nghĩa vụ trong luật Việt Nam có thể có đối tượng là một tài sản đặc thù, như trong trường hợp cầm cố, thế chấp, hoặc cả một khối tài sản thuộc về một chủ thể, như trong trường hợp bảo lãnh bằng tín chấp của ngân hàng hoặc của các tổ chức xã hội. Nói riêng về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng cầm cố hoặc thế chấp tài sản, trong khung cảnh của luật thực định, các biện pháp này không tạo ra quyền trực tiếp của chủ nợ có bảo đảm đối với tài sản được cầm cố, thế chấp, mà được cho là có tác dụng “treo” quyền định đoạt của chủ sở hữu hay đúng hơn nữa là đặt việc thực hiện quyền đó dưới sự giám sát nghiêm ngặt của chủ nợ1.

Continue reading

TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ “ĐẢM BẢO” – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

TRANG HÀ – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro, ngoài ngành nghề kinh doanh quy định trong Điều lệ được pháp luật cho phép thì hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động huy động và cho vay; hoạt động cho vay luôn tiền ẩn rủi ro, khách hàng vay vốn vì nhiều lý do không trả được nợ (bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi) dẫn đến Ngân hàng phải “gồng mình” vừa bù đắp cho khoản vay mà khách hàng không trả được theo Hợp đồng tín dụng đã ký, vừa phải trả lãi tiền huy động từ tổ chức và người dân dẫn đến hoạt động của Ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Cho vay vừa bảo toàn được nguồn vốn, vừa bảo vệ được nghề nghiệp luôn là yếu tố sống còn không chỉ với ngân hàng mà còn đối với cán bộ tín dụng tại Ngân hàng. Người ta thường nói, nghề tín dụng ngân hàng luôn là nghề khắc nghiệt, ranh giới giữa “anh hùng” và “tội phạm” là rất mong manh. Hiểu nghề, hiểu được những rủi ro trong nghề nghiệp của mình và biết cách vượt qua luôn là điều mà mọi cán bộ tín dụng mong hướng đến.

Có vay thì phải có trả, tuy nhiên, cũng vì nhiều lý do, hoàn cảnh, mà khách hàng vay đã không thể trả được nợ cho Ngân hàng dẫn đến các tranh chấp phát sinh mà không bên nào mong muốn, nhưng khi khách hàng đã không còn khả năng trả nợ thì Ngân hàng biết trông vào gì để thu hồi nợ từ khoản vay của khách hàng, đến đây thì mọi việc thu nợ đều trông chờ vào tài sản bảo đảm của khách hàng, cũng có thể tài sản bảo đảm là của bên thứ ba hoặc của chính khách hàng và chúng ta có thể khẳng định tài sản bảo đảm được coi là cứu tinh duy nhất cho khoản vay có nguy cơ mất vốn của khách hàng tại Ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tài sản bảo đảm đã được thế chấp tại Ngân hàng cũng có thể xử lý được theo đúng quy định, có những trường hợp, có những vụ việc Ngân hàng nhận thế chấp, đã đăng ký giao dịch bảo đảm, người đứng tên trên Giấy nhận quyền sử dụng đất đồng ý giao tài sản cho Ngân hàng để Ngân hàng xử lý phát mại nhưng Ngân hàng vẫn không xử lý được vì tài sản lại liên quan đến một vụ án hình sự hoặc liên quan đến một án dân sự của bên thứ ba nào đó và vì thế đang từ khoản vay có tài sản bảo đảm trở thành khoản vay không “đảm bảo”.

Continue reading

TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

ĐINH HẢI SƠN – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhưng lại mang nhiều rủi ro, có những rủi ro có thể thấy trước, nhưng cũng có rủi ro tiềm ẩn. Có những rủi ro xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, tăng trưởng dư nợ mà những người đứng đầu ngân hàng phải thực hiện để đạt chỉ tiêu kế hoạch được giao nhưng cũng có rủi ro liên quan đến pháp lý mà khi thực hiện ngân hàng không biết, chỉ đến khi vụ việc được cơ quan pháp luật thụ lý, giải quyết ngân hàng mới biết những sai phạm pháp lý xuất phát từ đâu, từ thời điểm nào.

Hàng ngày, hàng giờ những cán bộ tín dụng, những giao dịch viên tại ngân hàng phải thực hiện rất nhiều các giao dịch tiền gửi, giao dịch tiền vay với khách hàng. Có nhiều đối tượng khách hàng và cũng có nhiều loại giao dịch. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin chia sẻ những kinh nghiệm thực tế phát sinh khi ngân hàng thực hiện giao dịch tiền gửi, tiền vay liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.

Tình huống thực tế 1

Bà D là người đại diện theo pháp luật của Công ty X. Do Công ty X mở rộng kinh doanh nên cần vốn huy động từ những người trong công ty, bản thân bà D cũng đóng góp căn nhà thuộc sở hữu của mình (bà D là người duy nhất đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà) thế chấp vào Ngân hàng M để Công ty X vay vốn. Việc vay vốn đối với Công ty X được cán bộ tín dụng thẩm định và nhận thấy không có vấn đề gì bất ổn, tài sản thế chấp là ngôi nhà đứng tên sở hữu là bà D có giá trị và tính thanh khoản rất cao nếu Công ty X không trả được nợ việc xử lý tài sản thế chấp thu hồi vốn vay sẽ thuận lợi vì bà D đã cam kết giao tài sản cho Ngân hàng M xử lý nếu Công ty X không trả được nợ.

Continue reading

PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TIÊU DÙNG: CẦN NỖ LỰC TỔNG THỂ

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

Trong tương lai, đầu tư tài chính cho tiêu dùng sẽ tiếp tục phát triển mạnh góp phần giảm cho vay nặng lãi, tín dụng đen. Theo đó cần có nhìn nhận đúng về vai trò của các công ty tài chính cũng từ chính những người tiêu dùng cũng như cơ quan quản lý.

Vai trò của các công ty tài chính tiêu dùng

Hiện tại, do dịch vụ cho vay cầm đồ chủ yếu là cho vay nóng và luôn phải yêu cầu khách hàng cầm cố tài sản, còn các ngân hàng ít cho vay tiêu dùng, nên các công ty tài chính có vai trò quan trọng trong việc phát triển tín dụng và tiêu dùng.

Tín dụng đen phát triển mạnh do vấn đề cung cầu. Thứ nhất, nhu cầu vay vốn rất lớn, đa dạng. Thứ hai, ngân hàng cũng hạn chế cho vay tiêu dùng nhỏ lẻ vì nhiều lý do như năng lực, quan điểm kinh doanh và các nguyên tắc hoạt động của ngân hàng đòi hỏi yêu cầu cao nên khó cho vay tiêu dùng. công ty tài chính khi tham gia lĩnh vực cho vay tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu cho vay nhanh, dịch vụ cung cấp phù hợp thị trường nhưng lãi suất thường cao gấp đôi, gấp ba so với ngân hàng. Tuy nhiên, lãi vay tiêu dùng của công ty tài chính so với tín dụng đen thấp hơn và ít rủi ro hơn. Việc cho vay hợp pháp này nếu phát triển được sẽ đáp ứng nhu cầu xã hội, hạn chế được tín dụng đen.

Có thể nói gần như chưa có sự cạnh tranh giữa các công ty tài chính vì trên thực tế mới chỉ có gần một chục công ty tài chính cho vay tiêu dùng, trong đó một số chỉ cho vay chuyên biệt trong một lĩnh vực như mua ô tô, xe máy hoặc chỉ hoạt động trong một tỉnh và chỉ có 2 – 3 công ty tài chính hoạt động trên phạm vi rộng ít nhiều có sự cạnh tranh. Nhiều người phải đi vay tại các tiệm cầm đồ, thậm chí tìm đến cả tín dụng đen với lãi suất rất cao. Trong khi đó, hiện thị trường với 90 triệu dân nhưng chỉ có vài công ty công ty tài chính cho vay thôi và độ phủ sóng, mạng lưới, sản phẩm… còn hạn chế.

Continue reading

BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI: TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TIỄN

 KHUÊ NGUYỄN

Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 42 ngân hàng thương mại đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai cho khách hàng theo quy định tại Thông tư 13/2017/TT-NHNN. Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao. Song từ quy định tới thực tiễn triển khai đâu đó vẫn còn có những bất cập và vướng mắc cần tháo gỡ.

Tìm hiểu trên thị trường, cũng không hiếm các dự án bất động sản được ngân hàng cam kết bảo lãnh. Ngay từ năm 2015, BIDV và VietinBank ký kết hợp tác bảo lãnh dự án của Tập đoàn Đất Xanh, VPBank và SeABank ký kết bảo lãnh tại các dự án do Novaland triển khai. Năm 2016, TPBank cũng cam kết bảo lãnh cho người mua nhà tại dự án của Tập đoàn Nam Cường, PVcomBank bảo lãnh cho dự án Tabudec Plaza. SHB cũng cam kết bảo lãnh tiến độ siêu dự án Cocobay, cam kết bảo lãnh tài chính cho dự án Tara Residence…

Nhưng nếu so với con số 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai thì số dự án được ngân hàng bảo lãnh vẫn còn tương đối khiêm tốn. Điều này sẽ thay đổi trong thời gian tới. Bởi, nếu trước kia, các chủ đầu tư rao bán dự án nhà ở chỉ thông báo có ngân hàng đứng sau bảo lãnh thì nay cụ thể và rõ ràng hơn.

Continue reading

LÃI CHẬM TRẢ TIỀN TRONG ÁN LỆ NĂM 2016

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trong 10 án lệ được công bố, có án lệ liên quan đến lãi do chậm thanh toán (chậm trả) một khoản tiền. Đó là Án lệ số 08/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và án lệ số 09/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Xoay quanh hai án lệ này, chúng ta có một số câu hỏi đáng lưu ý sau: Thứ nhất, khoản tiền nào có thể làm phát sinh lãi chậm trả? Thứ hai, thời gian tính lãi chậm trả là bao lâu? Thứ ba, mức lãi để tính lãi chậm trả là bao nhiêu?

I. Về khoản tiền làm phát sinh lãi chậm trả

1) Khoản tiền được án lệ cho phát sinh lãi chậm trả

* Tiền hoàn trả từ hợp đồng vay

Hiện nay, chúng ta có hai loại vay là vay tín dụng[1] và vay dân sự thông thường[2]. Cả hai loại vay này đều làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản vay (thông thường là một khoản tiền) và trong trường hợp bên vay không hoàn trả tài sản vay đúng thời hạn thì bên vay phải chịu lãi chậm trả.

Trong Án lệ số 08/2016/AL, Nội dung án lệ được lựa chọn đã khẳng định: “…Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán”.

Nội dung trên cho thấy, việc chậm trả khoản tiền vay tín dụng làm phát sinh lãi chậm trả và điều này cũng hoàn toàn đúng với các khoản vay dân sự thông thường.

Continue reading

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CHO NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HỒNG HẢI

Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTPTANDTC về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại TAND đã ghi nhận về việc bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của người khác: “Trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của bên thứ ba mà bên được bảo đảm là doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cu mở thủ tục phá sản và đang trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyn thu giữ tài sản bảo đảm đó và xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong quá trình giải quyết phá sản theo quy định của pháp luật” – Civillawinfor.

Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hai cách tiếp cận: (1) Bảo đảm nghĩa vụ theo luật định[1] và Bảo đảm nghĩa vụ theo thỏa thuận[2]; (2) Bảo đảm nghĩa vụ không bằng tài sản[3] và Bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản[4]. Tuy nhiên, dù dưới cách tiếp cận nào thì một trong những vấn đề được các chủ thể trong giao lưu dân sự đặc biệt quan tâm là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác có được công nhận hay không? Nội dung pháp lý của vấn đề này như thế nào. Bài viết xin đề cập về vấn đề này.[5]

1. Khái niệm và sự cần thiết

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác là trường hợp người thứ ba[6] thỏa thuận với bên có quyền (chủ nợ) hoặc thỏa thuận với cả chủ nợ và bên có nghĩa vụ (bên nợ) về việc người thứ ba cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối nhân (bảo lãnh hoặc tín chấp[7]) hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối vật – bằng tài sản (thế chấp, cầm cố[8]) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho bên nợ. Quan hệ bảo đảm nghĩa vụ này gồm có ba chủ thể: Bên nhận bảo đảm (chủ nợ) – Bên bảo đảm (người thứ ba) – Bên được bảo đảm (bên nợ).

Continue reading

CẦM GIỮ TÀI SẢN, BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. HCM

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sử dụng từ khá lâu trong đời sống thực tiễn và phát huy tác dụng rõ rệt nhất là trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.Có thể nói rằng, các biện pháp bảo đảm đóng vai trò mang tính sống còn trong sự vận hành của lĩnh vực này.

Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại song song hai hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm, hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm nói chung áp dụng với tất cả các giao dịch dân sự và hệ thống các biện pháp bảo đảm áp dụng tại các tổ chức tín dụng. Trong đó, giao dịch bảo đảm giữ vai trò là nền tảng cơ bản. Từ BLDS đầu tiên của Việt Nam năm 1995 đến BLDS năm 2015, chế định này đã trải qua khá nhiều sự thay đổi (cả về tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng chế định cũng như các quy định cụ thể trong lĩnh vực này)[1].

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, như:

– Căn cứ vào đối tượng của biện pháp bảo đảm: Bảo đảm đối nhân, bảo đảm đối vật;

– Căn cứ vào sự hình thành của biện pháp bảo đảm: Biện pháp bảo đảm hình thành trên cơ sở hợp đồng, biện pháp bảo đảm hình thành trên cơ sở các quy định của pháp luật.

So với quy định của BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã có khá nhiều thay đổi liên quan đến các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, ở góc độ tổng thể, có thể thấy sự thay đổi rõ ràng nhất đến từ các quy định của pháp luật liên quan đến hai biện pháp bảo đảm, đó là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu.

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO PHÁP LÝ KHI CHO VAY VÀ NHẬN THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Đại học Paris 2, Cộng hòa Pháp

Trong thực tế cấp tín dụng hiện nay, việc tài trợ vốn có bảo đảm bằng bất động sản cho các dự án trong các khu công nghiệp ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, do khuôn khổ pháp lý về thuê đất khu công nghiệp khá phức tạp và còn có những hạn chế nhất định, cho nên việc tài trợ vốn này còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro đối với các tổ chức tín dụng.

Các hình thức có đất thực hiện dự án của chủ đầu tư

Khoản 3, Điều 90, Luật đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật đất đai 2003) quy định “Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc thu tiền thuê đất hàng năm đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp”.

Theo quy định tại khoản 2,Điều 149, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 (Luật đất đai 2013), “Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp […]”.

Như vậy, có thể thấy, nếu như theo Luật đất đai 2003, doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp (chủ đầu tư) có thể được giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thì đến Luật đất đai 2013, thuê đất là hình thức pháp lý duy nhất để chủ đầu tư có đất thực hiện loại dự án kinh doanh này.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI NHẬN BẢO ĐẢM NGAY TÌNH

PHẠM TUẤN ANH – Ban Kiểm tra và Giám sát, BIDV

Tài sản bảo đảm là một trong những công cụ quan trọng giúp cho các tổ chức tín dụng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nhưng thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, mặc dù đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhưng các tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận bảo đảm (1) vẫn không thể tránh khỏi nguy cơ bị mất quyền xử lý tài sản bảo đảm do trước khi mang đi thế chấp hoặc cầm cố, các tài sản này đã được chuyển giao cho bên bảo đảm (2) bằng một giao dịch không có hiệu lực pháp luật. Thông thường, dưới góc độ pháp luật, các trường hợp nhận tài sản bảo đảm này được gọi là nhận tài sản bảo đảm ngay tình, các tổ chức tín dụng khi đó được xác định là bên nhận bảo đảm ngay tình.

Người nhận bảo đảm ngay tình là một vấn đề không mới ở nhiều hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề này bắt đầu được đề cập trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm với việc đưa ra định nghĩa về “bên nhận bảo đảm ngay tình”. Cho đến nay, bên nhận bảo đảm ngay tình vẫn đang được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quyền lợi như là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 về giao dịch bảo đảm (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), đang có một số quan điểm trái chiều liên quan đến vấn đề nhận bảo đảm ngay tình, trong đó có cả những quan điểm cho rằng bên nhận bảo đảm ngay tình không phải là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Để làm rõ hơn vấn đề trên, bài viết sẽ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật liên quan đến bên nhận bảo đảm ngay tình, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của loại chủ thể đặc biệt này.

1. Khái niệm về người nhận bảo đảm ngay tình

1.1. Khái niệm về người thứ ba ngay tình

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2017/NÐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 2017 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Bộ luật hàng hải Việt Nam ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;

Căn cứ Luật nhà ở ngày 25 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đi, bổ sung một s điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam ngày 11 tháng 12 năm 2014;

Căn cứ Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Theo đ nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Chính phủ ban hành Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản (sau đây gọi chung là đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm); quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, pháp nhân có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm.

Hộ gia đình có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm; cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.

3. Cá nhân, pháp nhân khác có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

TRA CỨU TOÀN VĂN NGHỊ ĐỊNH TẠI ĐÂY

NHẬN BẢO ĐẢM BẰNG BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI TỪ CHỦ ĐẦU TƯ DỰ ÁN NHÀ Ở

 TS.LS. BÙI ĐỨC GIANG – Giảng viên Công ty TNHH tư vấn và đào tạo BankPro

Trong thực tế thực hiện các dự án nhà ở thương mại, việc huy động vốn từ các ngân hàng hết sức phổ biến. Do pháp luật nhà ở và kinh doanh bất động sản không có các quy định chuyên biệt giúp bảo vệ bên cho vay nên việc có các biện pháp bảo đảm hiệu quả từ chủ đầu tư là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng. Bài viết tập trung phân tích một số khía cạnh pháp lý của việc xác lập hợp đồng thế chấp bất động sản hình thành trong tương lai của chủ đầu tư dự án nhà ở cũng như việc giải chấp vốn đang đặt ra một số vướng mắc trong thực tế.

Mục đích và điều kiện thế chấp

Điều 147, Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (Luật nhà ở) quy định “chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở được thế chấp dự án hoặc nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn cho việc đầu tư dự án hoặc xây dựng nhà ở đó”. Như vậy, điều luật này cho phép chủ đầu tư có hai lựa chọn là thế chấp dự án hoặc thế chấp nhà ở tương lai thuộc dự án để vay vốn. Tuy nhiên, cần lưu ý bên nhận thế chấp chỉ có thể là các tổ chức tín dụng và mục đích thế chấp phải là để vay vốn cho việc đầu tư chính dự án hoặc xây dựng chính nhà ở đó. Nói cách khác, chủ đầu tư không thể sử dụng dự án hay nhà ở thuộc dự án này để thế chấp phục vụ cho việc vay vốn đầu tư vào một dự án khác hay nhà ở thuộc dự án đó. Nếu vi phạm, hợp đồng thế chấp có thể vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

Điều 148, Luật nhà ở cho phép chủ đầu tư thế chấp một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng nhà ở với điều kiện phải có hồ sơ dự án, có thiết kế kỹ thuật của dự án được phê duyệt và đã có giấy chứng nhận hoặc quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp chủ đầu tư thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai xây dựng trong dự án thì ngoài các điều kiện này, nhà ở thế chấp phải thuộc diện đã xây dựng xong phần móng theo quy định của pháp luật về xây dựng và không nằm trong phần dự án hoặc toàn bộ dự án mà chủ đầu tư đã thế chấp trước đó.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 152/TANDTC-PC NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, XỬ LÝ NỢ XẤU

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của một số Tòa án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức tín dụng và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam về vướng mắc khi giải quyết tranh chấp nhằm xử lý tài sản bảo đảm của các hợp đồng tín dụng.

Liên quan vấn đề nêu trên, ngày 19-6-2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản số 51/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2015; ngày 24-11-2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự năm 2015) và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016 trừ một số quy định có liên quan đến quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của các đạo luật này. Đặc biệt, ngày 21-6-2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, trong đó giao cho Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại Nghị quyết này.

Để bảo đảm giải quyết các tranh chấp hiệu quả, góp phần xử lý nợ xấu, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, các Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong đó, lưu ý một số nội dung sau đây:

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA QUỐC HỘI VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu).

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Continue reading

THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Continue reading