HỢP ĐỒNG “KHÔNG HOÀN HẢO” VÀ SỰ CAN THIỆP CỦA TÒA ÁN

 PHẠM HỒ HOÀNG LONG – Văn phòng Thừa phát lại Phạm Hoàng, Thành phố Đà Nẵng.

PGS.TS. NGÔ QUỐC CHIẾN – Trường Đại học Ngoại thương

Khi giao kết hợp đồng, các bên luôn muốn thể hiện cụ thể nhất ý chí và mục đích giao kết hợp đồng thông qua nội dung của hợp đồng. Trên thực tế, rất nhiều hợp đồng được tạo ra rất sơ sài và thiếu đi những nội dung quan trọng là nền tảng của hợp đồng. Những điều khoản được đề cập đến có thể là điều khoản về đối tượng của hợp đồng, điều khoản về giá và phương thức thanh toán, điều khoản về chất lượng của tài sản, điều khoản về thời hạn và phương thức giao hàng. Những hợp đồng như thế có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, việc tuyên một hợp đồng vô hiệu không phải là giải pháp phù hợp nhất cho các bên, trong trường hợp các bên thực sự có thiện chí, có ý muốn và nguyện vọng thực hiện hợp đồng. Trong tình huống này, việc Tòa án can thiệp để điều chỉnh những thiếu sót của hợp đồng là phương án hợp tình, hợp lý, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên vẫn được tiếp tục diễn ra phù hợp với ý chí của các bên trong hợp đồng.

Hợp đồng “không hoàn hảo” có thể tồn tại dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên, hai trường hợp hợp đồng được xác lập không hoàn hảo phổ biến nhất thường gặp hiện nay. Đó là trường hợp một số điều khoản trong hợp đồng không được quy định cụ thể, rõ ràng và trường hợp hợp đồng hoặc một số điều khoản trong hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, hợp đồng cũng sẽ trở nên không còn hoàn hảo nữa trong trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đã thay đổi một cách cơ bản và vì vậy trở thành một lý do để tòa án xác định lại nội dung của hợp đồng.

Continue reading

PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

 LS. TRƯƠNG NHẬT QUANG – Công ty luật TNHH YKVN

TS. PHẠM HOÀI HUẤN – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Mức phạt vi phạm hợp đồng tối đa hiện được quy định có sự khác biệt trong các văn bản luật có liên quan điều chỉnh hợp đồng xây dựng, bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Luật Thương mại năm 2005 (Luật Thương mại 2005) và Luật Xây dựng năm 2014 (Luật Xây dựng 2014).  Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 48/BXD-KTXD ngày 3 tháng 9 năm 2019 (Công văn 48) giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp xoay quanh mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng đối với các công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước. Trong bối cảnh đó,  chúng tôi tập trung trình bày, phân tích về hai vấn đề pháp lý: i) Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật điều chỉnh hợp đồng xây dựng giữa BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 và ii) Mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng (bao gồm cả hợp đồng xây dựng của công trình sử dụng vốn nhà nước và công trình không sử dụng vốn nhà nước).

1. Bản chất của hợp đồng xây dựng và pháp luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng

Một cách khái quát, hợp đồng xây dựng có thể là một loại hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực đầu tư xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014, hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015, và/hoặc hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trước hết, bản thân hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc lĩnh vực chuyên ngành về đầu tư xây dựng và được quy định tại Luật Xây dựng 2014. Do đó, hợp đồng xây dựng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÍN DỤNG VÀ CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÁC TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI TAND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THS. HOÀNG NGỌC THÀNH – Chánh tòa Tòa Kinh tế, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại về Hợp đồng tín dụng và các tranh chấp khác liên quan đến Ngân hàng tại TAND thành phố Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra có một số vấn đề trao đổi kinh nghiệm như sau:

I. V tranh chp Hp đồng tín dng

1. V Hp đồng tín dng (sau đây viết tt là HĐTD) có đầy đủ nhng đặc đim vn có ca mt hp đồng dân s nói chung. Tuy nhiên, vi bn cht đặc thù ca HĐTD, nên nó mang mt s đặc trưng riêng bit có th khái quát chung mà trong thc tin gii quyết các v án này chúng tôi xin lưu ý như sau:

a. Phân bit loi tranh chp dân s hay kinh doanh thương mi, do chủ thể một bên tham gia HĐTD luôn luôn là Ngân hàng hoặc các Tổ chức tài chính được phép kinh doanh tiền tệ (sau đây gọi chung là Tổ chức tín dụng và viết tắt là TCTD) và bên kia có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Do đó, phải có sự phân biệt về thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi thụ lý vụ án về kinh doanh thương mại hay vụ án dân sự. Sự phân biệt về thẩm quyền ở đây là về chủ thể và mục đích vay vốn. Nếu chủ thể vay vốn là cá nhân có đăng ký kinh doanh hoặc tổ chức có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án kinh doanh thương mại. Đối với những trường hợp cá nhân không có đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn không có mục đích lợi nhuận thì Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Về luật áp dụng đối với các tranh chấp HĐTD là như nhau. Tuy nhiên, trước đây TAND thành phố Hà Nội và VKSND tối cao có hai ý kiến khác nhau về việc giải quyết loại án này liên quan đến lãi suất khi giải quyết vụ tranh chấp dân sự về HĐTD.

Continue reading

Thực tiễn xét xử các vụ án kinh doanh thương mại VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI ĐÀ NẴNG

 LÊ TỰ – Chánh Tòa kinh tê, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

1. Nhng vướng mc và bt cp

a. V áp dng th tc t tng

Th nht, thủ tục, thời hạn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ở cấp tỉnh là kéo dài, gây khó khăn cho việc giải quyết, xử lý tài sản thế chấp nhằm thu hồi vốn vay. Xuất phát từ đặc thù thẩm quyền giải quyết các loại vụ việc có yếu tố nước ngoài bao gồm chủ yếu là đương sự ở nước ngoài, tài sản bảo đảm ở nước ngoài, quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án phải thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài và ấn định thời hạn tiến hành phiên họp hòa giải, phiên tòa phải theo qui định tại Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn cử, thời hạn ấn định phiên tòa không được sớm hơn 9 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Mặc dù Tòa án đã tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ phục vụ cho công tác giải quyết vụ án, nhưng phải chờ đến hạn luật định mới có thể tiến hành hòa giải hoặc xét xử. Việc giải quyết vụ án vì thế mà kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ đến tương quan giữa giá trị nợ gốc, lãi vay và giá trị tài sản bảo đảm vào thời điểm giải quyết bằng bản án, quyết định. Chưa kể, việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhằm tống đạt văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ hiện nay, đối với loại tranh chấp này, gần như không có kết quả, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án được toàn diện, bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Th hai, đương sự, chủ yếu là bên vay, người bảo lãnh, hoặc chủ sở hữu tài sản thế chấp thiếu hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, cố tình vắng mặt, trì hoãn các phiên họp hòa giải, phiên tòa cũng như các phiên làm việc theo triệu tập hợp lệ của Tòa án; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về tình trạng quản lý, sử dụng tài sản thế chấp; có người thứ ba liên quan. Trên thực tiễn, đương sự là cá nhân bỏ đi nơi khác sinh sống, có dấu hiệu trốn nợ, tổ chức thường xuyên thay đổi địa chỉ trụ sở, địa chỉ nơi cư trú không thể xác định được địa chỉ cụ thể.

Continue reading

Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. LÊ THANH PHONG – Chánh án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

I. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực ngân hàng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trong 6 tháng đầu năm 2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý (sơ thẩm, phúc thẩm) 3.110 vụ án dân sự[1] (bao gồm án cũ chuyển qua), trong đó án kinh doanh thương mại là 677 vụ. Trong năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý (sơ thẩm, phúc) 2.042 vụ án dân sự, trong đó án kinh doanh thương mại là 376 vụ. Trong tổng số các vụ án dân sự và kinh doanh thương mại mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết thì án có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng chiếm hơn 25% tổng số vụ việc.

Theo số liệu tham khảo tại trang web Wikipedia thì hiện nay trên cả nước có khoảng 102 ngân hàng, quỹ tín dụng; trong đó có đến 31 ngân hàng thương mại cổ phần, và 61 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và văn phòng đại diện.

Với những số liệu nêu trên cho thấy, các giao dịch về tín dụng và giao dịch liên quan đến lĩnh vực ngân hàng là rất đa dạng và phức tạp cả về chủ thể tham gia lẫn nội dung giao dịch. Do đó, tranh chấp hợp đồng tín dụng và các tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực ngân hàng ngày gia tăng với nhiều nội dung khác nhau.

1. Một số loại tranh chấp hợp đồng tín dụng điển hình tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Continue reading

Một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

THS. NGUYỄN TUẤN VŨ – Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về tranh chấp bảo hiểm nhân thọ tại Tòa án như sau, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần đặc biệt lưu ý như sau:

1. Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện

Hình thức và nội dung đơn khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự. Một số Tòa án hiện nay thường không nắm vững tinh thần quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thường yêu cầu đương sự bổ sung nhiều giấy tờ không đúng như văn bản xác minh địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đúng.

V các tài liu np kèm theo đơn khi kin

– Đối với cá nhân: Phải có bản sao hợp lệ chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu; Sổ hộ khẩu gia đình hoặc xác nhận đăng ký tạm trú của công an phường, xã nơi đăng ký tạm trú.

– Đối với pháp nhân: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại thời điểm nộp đơn khởi kiện; Quyết định bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật; Điều lệ tổ chức và hoạt động; Giấy phép hoạt động (Đối với các ngành nghề kinh doanh có giấy phép riêng); Văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật cho người được ủy quyền; CMND hoặc hộ chiếu của người ủy quyền và người được ủy quyền.

– Đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh: Quyết định thành lập chi nhánh; Đăng ký kinh doanh chi nhánh; Quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh; Quy chế hoạt động của chi nhánh.

– Giấy chứng nhận bảo hiểm;

– Biên lai thu phí bảo hiểm; – Hồ sơ sự kiện bảo hiểm;

– Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng (nếu có);

– Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ (nếu có);

– Các công văn đòi nợ; Các công văn khất nợ, giãn nợ (nếu có);

– Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu phạt vi phạm, đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (nếu có).

Lưu ý: Khi thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nhiều Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự vì quá thời hiệu 03 năm quy định tại Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm “kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp” là không đúng với quy định tại Điều 184 và Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đề nghị tại Hội thảo ngày hôm nay, Tòa án nhân dân tối cao nên có Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất công tác xét xử các vụ án tranh chấp về bảo hiểm trong đó có quy định về thời hiệu.


TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY


SOURCE: Hội thảo “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ”, Tòa án nhân dân tối cao, Ngày 25/5/2018. Phú Quốc, Kiên Giang

MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

PHAN NGUYỄN DIỆP LAN – Trưởng Ban pháp lý BHNT Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Giám đốc pháp lý & tuân thủ Công ty BHNT Manulife

I. Các quy định đặc thù về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

1. Hp đồng bo him nhân th

1.1. Các quy định ca pháp lut

Bộ luật Dân sự năm 2005 có Chương XVIII về các hợp đồng dân sự thông dụng, Mục 11 về hợp đồng bảo hiểm bao gồm 19 điều. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 kể từ 01/01/2017 và không còn chương quy định riêng về hợp đồng bảo hiểm.

Luật Kinh doanh Bảo hiểm có Chương 2 quy định về hợp đồng bảo hiểm, bao gồm 19 điều quy định chung (từ Điều 12 đến Điều 30) và 9 điều quy định riêng cho hợp đồng bảo hiểm con người, trong đó có bảo hiểm nhân thọ (từ Điều 31 đến Điều 39).

Nghị Định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Kinh doanh Bảo hiểm.

Quyết định 35/2015/QĐ-TTg ban hành danh mục bổ sung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng mẫu.

Continue reading

VẤN ĐỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG TRƯỜNG HỢP BẤT KHẢ KHÁNG–COVID.19

 TRƯƠNG NHẬT QUANG & NGÔ THÁI NINH – Công ty luật TNHH YKVN

1. Pháp luật Việt Nam về sự kiện bất khả kháng

Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Bên cạnh BLDS 2015, định nghĩa sự kiện bất khả kháng cũng được quy định rải rác tại các văn bản pháp luật khác nhau. Một số văn bản pháp luật đưa ra ví dụ các trường hợp cụ thể được coi là bất khả kháng, bao gồm các sự kiện tự nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, cháy nổ, lũ lụt, sóng thần, bệnh dịch hay động đất hoặc các sự kiện do con người tạo nên như bạo động, nổi loạn, chiến sự, chống đối, phá hoại, cấm vận, bao vây, phong tỏa và bất kỳ hành động chiến tranh nào hoặc hành động thù địch cộng đồng nào. Các quy định này về cơ bản phù hợp với quy định tại BLDS 2015.

Hệ quả pháp lý trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS 2015, cụ thể: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

1.1. Các yếu tố cấu thành sự kiện bất khả kháng

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, một sự kiện sẽ được coi là bất khả kháng nếu: (i) xảy ra một cách khách quan, (ii) không thể lường trước được và (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ngoài ra, căn cứ quy định về hệ quả pháp lý trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS 2015, hệ quả về việc bên bị ảnh hưởng không thực hiện được đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng cũng cần được xét đến trong việc xác định một sự kiện có được coi là bất khả kháng đối với từng trường hợp cụ thể hay không. Như phân tích dưới đây, trong trường hợp Covid-19, hệ quả này có lẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc xác định Covid-19 có được coi là sự kiện bất khả kháng hay không.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO “DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG”, NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT–PHÁP, THÁNG 4 NĂM 2010

 Mt s nhn xét chung v d tho Lut bo v quyn li người tiêu dùng

Ông Alexandre DAVID

Nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng là một nội dung quan trọng và được đề cập ở các Điều 10, 11, 12, 13 của Dự thảo Luật. Điều 10 tập trung vào nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng, các điều còn lại quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh. Tôi cho rằng muốn bảo vệ người tiêu dùng, phải hành động trước khi có tranh chấp, thậm chí là trước khi giao kết hợp đồng để đảm bảo sự bình đẳng giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh và người tiêu dùng trước khi hợp đồng được ký kết, đồng thời ngăn cản và xử lý các phương thức bán hàng gây ảnh hưởng xấu không những đến người tiêu dùng mà đến toàn bộ những đối thủ cạnh tranh khác. Ở Pháp, các hành vi này có thể bị xử lý bằng các biện pháp dân sự (hủy hợp đồng) hay hình sự (đối với hành vi của cá nhân, tổ chức kinh doanh lợi dụng khách hàng).

Trước hết, tôi xin đề cập đến việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua nghĩa vụ cung cấp thông tin. Ở Pháp, quy định này đã tồn tại từ thời La Mã, và đến thời Trung Cổ, đã có nhiều nguyên tắc được thiết lập giữa thương nhân và người mua hàng, theo đó người bán có nghĩa vụ nêu rõ các điều kiện của hợp đồng. Nếu hợp đồng không rõ ràng thì điều khoản không rõ ràng phải được giải thích theo hướng có lợi cho người mua. Nội dung này cũng đã được đưa vào Bộ luật Dân sự của Pháp năm 1804. Nhà lập pháp của Pháp đã sớm ban hành nhiều quy định để bảo vệ quyền lợi các bên trong giao kết hợp đồng, chẳng hạn đối với hợp đồng mua bán sản nghiệp thương mại, đã có nhiều văn bản luật quy định những các điều khoản cần nêu rõ trong hợp đồng.

Continue reading

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ, NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/NQ-QH NGÀY 21/6/2017 CỦA QUỐC HỘI VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TS. TRẦN VĂN HÀ –  Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Tòa án nhân dân tối cao

Thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

1. Tình hình giải quyết

Theo số liệu Báo cáo của 47/64 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về tình hình giải quyết vụ án liên quan đến nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân các cấp nhận được 11 đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, trong đó số vụ án tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn là 05 vụ. Qua báo cáo của các Tòa án thấy rằng, số đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và số vụ án tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn là rất khiêm tốn.

Nguyên nhân là do việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với loại việc này phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Phần thứ tư của Bộ luật Tố tụng dân sự về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn. Các tranh chấp này thường liên quan hợp đồng tài chính tín dụng – một trong những lĩnh vực chuyên môn khó; khi đã khởi kiện đến Tòa án thì thường rất phức tạp, đương sự nại ra nhiều lý do để kéo dài thời gian giải quyết vụ án; việc xử lý tài sản bảo đảm gặp khó khăn chủ yếu do đương sự cố tình chống đối, các bên không thống nhất về giá tài sản, việc định giá tài sản mất thời gian, v.v. Đồng thời, trong bối cảnh, Thẩm phán, cán bộ Tòa án phải giải quyết số lượng vụ việc ngày càng lớn, gia tăng áp lực về thời gian, khối lượng công việc; chưa mạnh dạn triển khai thực hiện thủ tục rút gọn vì chưa có “tiền lệ”, tâm lý “sợ sai sót” trong quá trình xét xử đã phần nào dẫn đến số lượng vụ việc xử lý nợ xấu thông qua thủ tục rút gọn tại Tòa án chưa nhiều.

2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

2.1. Khó khăn, vướng mắc

Continue reading

NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI TÒA ÁN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

clip_image002THS. LS. PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Phó ban pháp lý BHNT Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Trưởng phòng Pháp chế & tuân thủ Bảo Việt Nhân thọ

I. Nhng vưng mc trong gii quyết tranh chp v bo him nhân thọ

1. Trưng hp khách hàng vi phạm nghĩa vụ cung cp thông tin khi tham gia bo him

Như được đề cập trong nội dung Chuyên đề 1 “Những quy định đặc thù của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm”, việc kê khai thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực của Bên mua bảo hiểm đóng vai trò vô cùng quan trọng – là điều kiện tiên quyết để Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) chấp nhận bảo hiểm và cấp Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng. Theo đó, nếu khách hàng thực hiện đúng nghĩa vụ này, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, DNBH có nghĩa vụ chi trả quyền lợi bảo hiểm đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm. Ngược lại, nếu khách hàng che giấu thông tin, kê khai thông tin không đúng, không đầy đủ về tình trạng sức khỏe hay nghề nghiệp của người được bảo hiểm, sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định thẩm định, chấp nhận phát hành hợp đồng bảo hiểm (“HĐBH”), thì sau đó cho dù rủi ro xảy ra với khách hàng vì nguyên nhân gì, DNBH cũng không chi trả quyền lợi bảo hiểm như Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định.

Continue reading

KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM

TS.TRẦN KIÊN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

NGUYỄN KHẮC THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Khái niệm hợp đồng

1.1 Thành tố của hợp đồng

Theo Vũ Văn Mẫu, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên kết ước. Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủ đích của sự ưng thuận[1]. Tìm hiểu khái niệm hợp đồng thông qua câu hỏi hợp đồng được tạo ra như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào chế định giao kết hợp đồng của mỗi nền pháp luật. Trong bài viết này, các phân tích về thành tố của hợp đồng chủ yếu đứng trên quan điểm của truyền thống pháp luật La Mã – Đức (Civil Law) mà Việt Nam bị ảnh hưởng trong thời kỳ Pháp thuộc và kéo dài cho đến tận ngày nay. Pháp luật hợp đồng Việt Nam do đó không có điều kiện bắt buộc về sự đối ứng (consideration)[2] khi hình thành hợp đồng như trong pháp luật hợp đồng của Common Law và sự đối ứng (consideration) cũng sẽ không được xem xét ở đây.

Chủ thể giao kết hợp đồng

Người kết ước, hay chủ thể giao kết hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong một quan hệ hợp đồng, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái). Một trái chủ có thể có nhiều thụ trái và ngược lại, một thụ trái có thể có nhiều trái chủ. Lưu ý rằng, có những trường hợp “các bên” trong quan hệ hợp đồng mang tính kỹ thuật pháp lý hơn là thực chất, khi mà một người giao kết hợp đồng với chính bản thân mình. Người đó thực hành hai (hoặc nhiều hơn) tư cách pháp lý khác nhau và giao kết hợp đồng giữa các tư cách đó[3]. Ví dụ như: một người được ủy quyền bởi cả hai bên trong quan hệ hợp đồng để giao kết hợp đồng; một người được ủy quyền giao kết một hợp đồng và giao kết hợp đồng đó với chính mình[4].

Continue reading

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

 NGUYỄN QUỐC TRƯỞNG – Tòa dân sự, TAND tỉnh Hà Nam

Hợp đồng được ví là luật của các bên trong quan hệ dân sự. Nói đến hợp đồng là nói đến hiệu lực hợp đồng, thực hiện hợp đồng và trách nhiệm pháp lý của các bên khi vi phạm hợp đồng. Trách pháp lý là hậu quả bất lợi đối với chủ thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật (khoa học pháp lý gọi là chế tài dân sự, trách nhiệm dân sự); bên vi phạm hợp đồng phải chịu hậu quả bất lợi tương ứng với mức độ hành vi vi phạm đó gây ra. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật Thương mại (LTM) năm 2005 quy định cụ thể các chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng, tuy nhiên thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp thương mại có lúc, có nơi nhà thực tiễn chưa nhận thức đúng về trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm hợp đồng làm cho chất lượng giải quyết vụ án chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

Quá trình thực hiện hợp đồng thương mại các bên có thể vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ trong hợp hợp đồng, thì bên vi phạm phải chịu hậu quả do chính hành vi của họ gây ra, hậu quả đó có thể được quy định trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Chế tài là các biện pháp bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, bảo vệ lợi ích chính của bên bị vi phạm, chế tài là công cụ để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đặc điểm của chế tài là có sau khi hợp đồng được giao kết, là hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ”, khoản 12 Điều 3 LTM 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”. Như vậy, các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại, theo đó bên có vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2020/TT-BTP NGÀY 03 THÁNG 03 NĂM 2020 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2015/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 02 NĂM 2015 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CẤP BẢN SAO TỪ SỔ GỐC, CHỨNG THỰC BẢN SAO TỪ BẢN CHÍNH, CHỨNG THỰC CHỮ KÝ VÀ CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH

Việc ủy quyền thỏa mãn đầy đủ các điều kiện như không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì được thực hiện dưới hình thức chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền với 04 trường hợp sau:

– Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền;

– Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp;

– Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa;

– Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

Đối với việc ủy quyền không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì không được yêu cầu chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền; người yêu cầu chứng thực phải thực hiện các thủ tục theo quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Thông tư 01/2020/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 20/4/2020.

Điều 20. Chứng thực hợp đồng, giao dịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

1. Trường hợp người yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, thì các bên phải ký trước mặt người tiếp nhận hồ sơ.

Continue reading

KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA từ thực tiễn các vụ án có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm

 HOÀNG ANH – Giám đốc Ban Pháp chế & Kiểm tra nội bộ, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt

1. Bn án s 100/2016/KDTM-ST ngày 10/11/2016 ca TAND Qun 7 TP. HCM và Bn án s 204/2017/KDTM-PT ngày 02/3/2017 ca TAND TP. HCM

+ Tóm tt vụ án

– Bảo Việt ký Hợp đồng bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt với Công ty TNHH Master Chemical Việt Nam với số tiền bảo hiểm 165.500 USD cho hàng hóa của Master Chemical ký gửi tại 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM, thời hạn bảo hiểm từ 21/7/2012 đến 21/7/2013.

– Kho hàng tại 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM được ký gửi vào kho của Tiếp Vận Xanh theo Hợp đồng ký gửi hàng hóa vào kho bãi số 079/HĐ/TVX-12 ngày 17/4/2012.

– Ngày 28/11/2012 tại Kho 920A đường Quốc lộ 1A, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP. HCM đã xảy ra vụ cháy hàng hóa của Master Chemical.

– Ngày 04/05/2013, Sở Cảnh sát phòng cháy chữa cháy TP. HCM đã ra Thông báo kết quả điều tra vụ cháy số 170/TB-PCCC-P11, trong đó đã kết luận nguyên nhân cháy: Continue reading

PHÂN BIỆT THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG VỚI THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU

 CHU XUÂN MINH – Thẩn phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong thực tiễn xét xử có một số bản án thể hiện có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này, thể hiện như: Tuyên bố hủy hợp đồng (một chế tài giành cho hợp đồng có hiệu lực) đối với hợp đồng vô hiệu; căn cứ vào việc chưa chuyển quyền sở hữu đề tuyên bố hợp đồng vô hiệu; căn cứ vào việc có vi phạm hợp đồng của hợp đồng có hiệu lực để tuyên bố hợp đồng vô hiệu… Do đó cần làm rõ ý nghĩa của việc phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng với thời điểm chuyển quyền sở hữu và rút kinh nghiệm về một số sai sót do sự nhầm lẫn giữa hai thời điểm này.

1.Thời điểm hợp đồng có hiệu lực

1.1.Quy định chung của pháp luật

Chế định pháp luật về hợp đồng quy định rõ hai giai đoạn là giai đoạn giao kết hợp đồng và giai đoạn thực hiện hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nên khi chưa có sự thỏa thuận thì chưa có hợp đồng. Tuy nhiên, nếu tranh chấp ở giai đoạn chuẩn bị giao kết mà chưa có thỏa thuận thì cũng phải áp dụng pháp luật về hợp đồng quy định cho giai đoạn này. Hợp đồng đã hình thành (đã thỏa thuận) nhưng chưa đủ các điều kiện có hiệu lực (chưa được công chứng theo quy định hoặc có vi phạm khác) là hợp đồng vô hiệu. Hợp đồng có đủ điều kiện có hiệu lực theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) thì có hiệu lực từ thời điểm giao kết (theo quy định tại Điều 401 BLDS). Sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là giai đoạn thi hành hợp đồng, trong đó có thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, thời điểm hợp đồng đã được hoàn thành. Cần lưu ý là “hợp đồng đã được hoàn thành” là một căn cứ để chấm dứt hợp đồng (khoản 1 Điều 422 BLDS), là trường hợp đã thi hành xong các điều khoản của hợp đồng, nhưng trong thực tiễn xét xử đã có sự hiểu sai “hợp đồng đã được hoàn thành” là trường hợp hợp đồng đã được làm đầy đủ thủ tục nên là căn cứ vào đó để công nhận hợp đồng hợp pháp.

Continue reading

PHÂN BIỆT HỢP ĐỒNG CÓ HIỆU LỰC VỚI HỢP ĐỒNG ĐÃ HOÀN THÀNH

 CHU XUÂN MINH – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong bài viết “Phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng với thời điểm chuyển quyền sở hữu” (Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 30/9/2019), tác giả đã nêu vấn đề có quy định khác nhau về giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng vô hiệu và hợp đồng có hiệu lực; phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng với thời điểm “hợp đồng đã hoàn thành”. Tuy nhiên, trong bài viết “Những vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở”(Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 14/01/2020) tác giả Huỳnh Xuân Tình đã phản ánh một thực tế là vẫn còn quan điểm cho rằng “hợp đồng đã hoàn thành” đồng nghĩa với hợp đồng có hiệu lực. Vì vậy, tác giả xin bàn lại kỹ hơn về vấn đề phân biệt hợp đồng có hiệu lực với hợp đồng đã hoàn thành.

1. Hợp đồng có hiệu lực

Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) quy định về hiệu lực của hợp đồng có quy định “ Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác”. Như vậy, hợp đồng có hiệu lực phải là hợp đồng được giao kết hợp pháp.

Continue reading

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM – NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN –  Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm thì các vụ án tranh chấp về bảo hiểm ngày càng tăng về số lượng và mức độ phức tạp đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết các tranh chấp này. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án cho thấy pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nói chung cũng như quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm nói riêng cũng còn một số hạn chế, bất cập. Trong phạm vi bài tham luận này, tôi sẽ đưa ra một số vướng mắc điển hình trong quá trình giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm tại Tòa án và nêu một vài kiến nghị để trao đổi tại buổi Hội thảo này như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Để bảo đảm yêu cầu như đã đề cập ở trên, đối với pháp luật về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm hiện hành phải xem xét một số quy định cụ thể mà trong đó cần có sự quan tâm đặc biệt đến những quy định tồn tại mang tính bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động thương mại đặc biệt này. Những quy định này mang tính cá biệt hoá nội dung pháp luật kinh doanh bảo hiểm so với nội dung pháp luật về các hoạt động thương mại khác. Nguyên tắc bình đẳng-tự do-tự nguyện cam kết, thoả thuận được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì nội dung của hợp đồng là hoàn toàn do các bên quyết định và phụ thuộc vào ý chí của các bên, các quy định về nội dung hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự chỉ mang tính chất khuyến nghị các bên trong quan hệ hợp đồng thoả thuận để hạn chế được phần nào những tranh chấp, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 13 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) có quy định: …Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm…” là bắt buộc, không thể thiếu, buộc các phải ghi nhận trong hợp đồng.

Continue reading

BẢN TỔNG HỢP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ LĨNH VỰC BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tại Tòa án và nội dung các bài tham luận tại hội thảo, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (Tòa án nhân dân tối cao) tổng hợp một số nội dung vướng mắc, bất cập như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được hiểu là “các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền hoặc không phải bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra”. Quy định về điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” là quy định bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm (khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm) nhưng thực tế còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc, cụ thể như sau:

– Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ đề cập đến khái niệm, nguyên tắc và trường hợp ngoại lệ của điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” mà không quy định giới hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm khi xác định những trường hợp được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của mình. Điều này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng quy định về các trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” như một trong các công cụ để né tránh nghĩa vụ chi trả khoản tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về hậu quả pháp lý đối với những hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Do Luật này không quy định hậu quả pháp lý nên gây lúng túng cho các chủ thể trong hợp đồng và gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi không thoả thuận về điều khoản loại trừ. Thực tế hiện nay tồn tại hai quan điểm khác nhau về việc xác định hậu quả pháp lý khi hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: Continue reading