VỚI CÁI SAI

NGUYỄN VĂN BÌNH

Về căn bản thì có sai mới có đúng. Nếu không có sai thì chúng ta chưa chắc đã nhận ra cái đúng nó thế nào. Vậy đó. Con người ta sống có lúc đúng, có lúc sai. Từ cái sai để rút kinh nghiệm tới cái đúng thì cái sai đó là có ích. Nhưng nếu cái sai vẫn mãi mãi được bảo tồn là cái sai thì nó là cái nguy hại.

Cái sai đầu tiên không quan trọng, cái sai thứ hai cũng chẳng quan trọng đến cái sai thứ ba thì cần phải xem lại, vì như thế có nghĩa là bạn để cái sai dẫn đường một cách cố ý. Mọi sai lầm của bạn đều có thể tha thứ, đến như tội giết chúa còn được tha huống hồ những nhỏ nhặt thường ngày, tất nhiên kèm theo đó là điều kiện quan trọng, bạn phải thực sự hối lỗi. Người ta đánh kẻ chạy đi, nào ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Nếu bạn ngoan cố khi không biết mình sai thì nó sẽ đi một nhẽ, bạn thuộc loại bảo thủ, gàn. Nhưng nếu bạn biết mình sai mà vẫn cố cãi cho bằng đúng, chả những thế mà còn đổ lỗi cho người khác thì quả thực phải coi lại nhân cách của bạn.

Trong kinh doanh, anh làm sai hẹn với thời gian ghi trong hợp đồng thì hiển nhiên anh phải chịu hậu quả và phải đứng ra giải quyết hậu quả đó. Thế nhưng đằng này anh lại gân cổ cãi, cãi chày cãi cối, cãi lấy được bảo rằng không phải anh lỡ hẹn mà bởi vì người khác lỡ hẹn với anh, cho nên hà cớ gì lại trách anh. Ô hay, tôi ngạc nhiên quá, anh ký hợp đồng với tôi là đến ngày này, ngày kia ra sản phẩm, còn anh liên kết ở đâu tôi thèm gì biết. Ai sai hẹn với anh tôi thèm gì biết, tôi chỉ biết tôi với anh ký với nhau và anh sai. Vậy thì anh phải nhận lỗi với tôi chứ. Sao anh lại lôi cái đối tác sau anh ra, nó thuộc về phần hậu trường của anh cơ mà. Thế nhưng anh vẫn cố tình không hiểu. Chả những thế, nhân thể anh còn lu loa rằng như thế là xúc phạm anh, không tin anh và anh vờ bực tức phá bỏ luôn hợp đồng. Nghĩa là anh cố cãi để chuyển bại thành thắng, chuyển sai thành đúng. Cái kiểu làm ăn như thế của anh thì chắc chắn với tôi chỉ được một lần, còn lại thì cạch tới già. Trên đời này không ai lại có thể hợp tác với loại chuyen đi đổ lỗi cho người khác. Giá như anh xin lỗi đàng hoàng, thành thực tôi có thể bỏ qua cho và cả hai cùng giải quyết hậu quả. Nhưng cái hành động cả vũ lấp miệng em của anh khiến tôi nghĩ mình đúng là ngờ nghệch cho nên đã đâm đầu vào cái kẻ vốn đã làm ăn bê bết, chả ra gì mà còn giỏi đổ lỗi vấy vạ.

Continue reading

LỜI CHÚC MÙA TỐT NGHIỆP NĂM 2010

Chúc các em sinh viên K31 Đại học Luật Hà Nội và sinh viên năm cuối các cơ sở Đào tạo Luật đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp năm 2010. Một tương lai rộng mở, nhưng đầy khó khăn, thử thách đang ở trước và rất gần. Nó có thể đưa mỗi em đi những con đường khác nhau, điểm đến khác nhau. Song, cánh cửa cuộc sống sẽ rộng mở, khi  các em vững tin vào những gì mình đã lựa chọn, năng lực của bản thân và cái tâm của con nhà luật.

CIVILLAWINFOR

ĐỂ CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU KHI KHÔNG CÓ THỜI GIAN

P.C.

Đối với những người sắp sửa nghe bạn nói thì việc bạn có 10 ngày hay chỉ có 10 phút để viết bài phát biểu cũng chẳng ảnh hưởng gì tới họ. Bạn sẽ vẫn phải phát biểu. Dưới đây là những mẹo giúp bạn chuẩn bị bài phát biểu của mình một cách nhanh chóng khi không có nhiều thời gian.

Bạn càng có địa vị cao, thì người ta càng trông chờ bạn sẽ có bài phát biểu trong những dịp xuất hiện trước công chúng, và thường trong những dịp như thế bạn có rất ít thời gian chuẩn bị. Vậy bí quyết để có một bài phát biểu hoàn hảo trong một thời gian ngắn là gì?

Điều đầu tiên bạn cần phải làm trước khi phát biểu là xác định được thông điệp chính bạn muốn đưa ra.

Thông điệp của bạn chính là những gì sẽ còn đọng lại trong người nghe sau khi bạn đã kết thúc bài thuyết trình đồng thời cũng là câu chốt lại những gì bạn đã trình bày. Họ sẽ có ấn tượng với những gì mà bạn nói. Ấn tượng đó có thể tốt hoặc không tốt. Người nghe có thể ấn tượng mạnh về bản thân bạn, phong cách phát biểu, hoặc nội dung bài phát biểu của bạn. Nếu bạn muốn họ nhận ra và ghi nhớ đúng thông điệp – tức là thông điệp chính mà bạn muốn đưa ra – trước hết bạn phải xác định được điều bạn tin tưởng và viết chúng ra.

Một khi đã viết được câu tóm tắt cho những gì mình muốn nói, tức là bạn đã sẵn sàng đưa ra những ý kiến, lý lẽ, các câu chuyện và thông tin làm dẫn chứng cho bài phát biểu của mình. Hãy loại bỏ những gì không phục vụ cho thông điệp của bạn.

Cuối cùng, hãy xây dựng những tài liệu bạn có theo các cấu trúc sau:

– Quan điểm – lý do – ví dụ – quan điểm. Bạn hãy đưa ra yêu cầu của bạn (có vẻ rất giống với thông điệp chính) và sau đó đưa ra những lý do để bạn yêu cầu như vậy. Tiếp đó bạn đưa ra một ví dụ thuyết phục và kết thúc bằng cách lặp lại quan điểm của bạn.

Continue reading

MỤC TIÊU – MỤC ĐÍCH SỐNG

SƯU TẦM

Image

Mục đích sống của tôi là gì? Và làm thế nào để xác định được mục đích sống?

Tìm ra câu trả lời hoàn toàn không hề dễ một chút nào. Bằng chứng là số người nhận ra được mục đích sống của mình còn quá ít. Và chỉ duy nhất bạn mới có thể biết đâu là câu trả lời đích thực.

Những người may mắn nhất là những người đã nhận ra được mục đích sống của mình. Cuộc sống của họ là cuộc hành trình có định hướng rõ ràng. Tràn ngập niềm vui, sự bình an, và mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng con đường thành công đã rộng mở trước mắt họ.

Dưới đây là một trong những cách thức để có thể nhận ra mục đích sống:

– Đầu tiên, bạn phải tập thói quen suy ngẫm về bản thân hàng ngày. Suy ngẫm một cách khách quan, không bị các cảm xúc chi phối.

– Sau đó, bạn phải tập thói quen tĩnh tâm hàng ngày. Và lắng nghe “tiếng nói từ trái tim” mình (luyện tập thiền, yoga là những phương pháp bổ trợ rất hữu hiệu). Hãy liên tục tìm hiểu và khám phá bản thân hàng ngày qua các câu hỏi.

– Cuối cùng, đến một thời điểm nào đó, bạn sẽ nhận ra được mục đích sống của mình.

Thời gian có thể là vài tháng, cũng có thể là vài năm, thậm chí vài chục năm, tuỳ thuộc vào khát khao tìm hiểu, khám phá bản thân của bạn.

Continue reading

THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ

image GS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc

Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới. Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.

Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”. Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.

Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.

Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Continue reading

NHU CẦU VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU KHIỂN HÀNH VI

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading

NHU CẦU và vấn đề điều khiển hành vi

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading

VÀI CHIA SẺ VỀ XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHAN KIM NGỌC

Trong điều kiện năng lực nghiên cứu và phát triển còn thấp, tính liên kết và cạnh tranh khoa học chưa cao, kinh phí nghiên cứu khoa học còn ít ỏi và dàn trải như ở Việt Nam, mô hình nghiên cứu khoa học (NCKH) theo nhóm sẽ có tác dụng khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo ra những bước đột phá trong một số lĩnh vực cần tập trung phát triển. Vậy làm thế nào để xây dựng được nhóm NCKH mạnh? Dưới đây, tác giả chia sẻ một số ý kiến và kinh nghiệm về vấn đề này.

KHÁI NIỆM VỀ NHÓM NCKH

Nhóm NCKH không giống với một cơ quan hành chính (nhà nước), cũng không giống với cấu trúc nghiệp đoàn. Nhóm làm việc trên tinh thần không có lương cơ bản. Các khoản thu, chi của nhóm phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phụ thuộc vào các đề tài/dự án khoa học. Do vậy, cấu trúc của nhóm cần gọn nhẹ, linh hoạt tối đa.

Nhóm NCKH có vai trò như một yếu tố có tính chất quyết định tới hình thức, quy mô và chất lượng của một hoạt động khoa học, công nghệ nào đó. Đồng thời là nền tảng quan trọng bậc nhất trong đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học (đối với các trường đại học). Trong đào tạo, nhóm NCKH chính là môi trường ươm tạo người tài, mảnh đất sinh sôi nảy nở các thủ lĩnh khoa học trong tương lai. Bên cạnh đó, nhóm NCKH còn là đơn vị cơ sở cho các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt thuận lợi đối với công nghệ cao.

Nhìn chung, có thể hiểu nhóm NCKH là một tập thể các nhà khoa học và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp, sự chân thật trong công việc (honesty), có khát vọng định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ chức, giao tiếp, tập hợp…; có văn hóa nhóm riêng biệt. Nói một cách khái quát, mọi thành quả của nhóm phải xuất phát từ năng lực nội sinh.

Continue reading

ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Trước các tổn thất vô hình và hữu hình mà xã hội đã chịu, vấn đề trách nhiệm cá nhân đang được công luận nêu lên. Qua hai lý do trình bày dưới đây, độc giả có thể chia sẻ lo ngại của tôi rằng vấn đề này còn phải mất nhiều năm nữa mới trở thành hiện thực.

Tâm lý cá nhân

Ta thấy ở trẻ em khoảng một tuổi có hai biểu hiện xuất hiện song song và rõ nét ấy là sự đòi hỏi (muốn hết cái này đến cái khác) và sự xấu hổ (bị mẹ hay anh chị lêu lêu). Như là một sự sắp đặt của tạo hóa trong tâm lý chúng ta cái sau kìm hãm cái trước. Sự đòi hỏi tạo nên tính tham lam sau này, còn sự xấu hổ là cội nguồn của trách nhiệm cá nhân. Nói về cái sau ta thường nghĩ nó là một cái, một thứ nằm trong lĩnh vực lý trí, nhưng thực ra nó là một tình cảm và khi bị đụng đến nó sẽ gây đau đớn trong lòng chúng ta. Nó là một sự tổn thương tình cảm và do đó là một sự trả giá trong cuộc đời mà ta phải chịu đựng để được thăng bằng về tâm lý.

Tính chất tình cảm của trách nhiệm cá nhân được nêu lên ở đây là vì nếu có dịp so sánh ta với người ở những nước khác, bạn sẽ nhận ra rằng, người Việt chúng ta hiền hòa. Quả vậy, chúng ta chiến đấu khốc liệt với ngoại bang, nhưng giữa chúng ta với nhau – lúc bình thường – chúng ta nhường nhịn, chín bỏ làm mười. Bởi thế khi phải nêu ra trách nhiệm cá nhân của một ai thì chúng ta thường ngại ngùng vì sợ làm mất lòng họ. Sự ngại ngần đó gây ra một hệ quả là khi không chỉ ra lỗi của người khác thì ta cũng ít nhận lỗi của mình để mà nói đến trách nhiệm cá nhân.

Tình cảm ấy lại được thúc đẩy bởi hoàn cảnh kinh tế. Đã có một thời gian dài chúng ta sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất, ở đó tài sản chung và riêng lẫn lộn. Thí dụ chủ của một biệt thự phải nhận hai ba gia đình vào ở chung. Trong cảnh thiếu thốn người ta không ngần ngại chia sẻ cái mình có, do vậy ít có ai tranh giành cái này là của tôi, cái kia là của anh để có một sự rạch ròi về mình và người trong ý nghĩ.

Continue reading

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NGUYỄN HOÀNG ÁNH

Nếu văn hoá là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, thì văn hoá kinh doanh (VHKD) chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, muốn đảm bảo sự phát triển bền vững cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc nào hết, chúng ta cần có sự tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo về lĩnh vực này, để có thể góp phần định hướng đúng đắn cho kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh. Có nhiều cách hiểu khác nhau về VHKD, chủ yếu tập trung hai xu hướng: xu hướng thứ nhất, coi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp, do đó VHKD là văn hoá doanh nghiệp (corporate culture) hay còn gọi là văn hoá tổ chức (organizational culture). Xu hướng thứ hai, đang ngày càng phổ biến hơn khi coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội, nên VHKD là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, còn văn hoá doanh nghiệp chỉ là một thành phần trong VHKD. Qua xem xét, nghiên cứu các định nghĩa về VHKD của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong khuôn khổ bài viết này, xin đưa ra định nghĩa: "VHKD là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hoá dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh". Định nghĩa này tương đối bao quát và rõ ràng, theo đó, văn hoá tổ chức hay văn hoá doanh nghiệp sẽ chỉ được nghiên cứu với tư cách là một thành phần trong VHKD của một quốc gia.

Nhận diện VHKD cổ truyền Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển của nước ta, hoạt động kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp. Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng "trọng nông ức thương" rất phổ biến, chính vì vậy mà rất ít người giỏi về kinh doanh. Lương Văn Can, một nhà cách mạng, đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, khi phân tích nguyên nhân không phát triển của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm. Đó là:

Continue reading

CON NGƯỜI MỚI VIỆT NAM: VỪA CÁCH MẠNG VỪA KHOA HỌC

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

"Con người mới Việt Nam: Vừa cách mạng vừa khoa học" – Đó là phẩm chất, đồng thời cũng là năng lực cần phát huy. Để thực hiện được mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, chúng ta phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thường xuyên đổi mới tư duy, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ. Với nội dung chủ đạo này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước, đã có bài viết với tựa đề "Đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật" đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 10/1986. Tạp chí xin trân trọng giới thiệu phần III của bài viết đã đăng gần 20 năm trước, song vẫn mang tính lý luận sâu sắc, tính thời sự và thuyết phục.

Tôi muốn nhấn mạnh: Trong những nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước tiến lên, con người là nhân tố quan trọng bậc nhất, là nhân tố quyết định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải có con người XHCN". Chúng ta sẽ tiến lên, sẽ chiến thắng trong cuộc thách thức mới của thời đại, chủ yếu là bằng sức mạnh sáng tạo của con người Việt Nam XHCN.

Bởi vì, đối tượng của sự thách thức chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, và người đứng ra gánh vác nhiệm vụ phải giành thắng lợi trong cuộc thách thức ấy cũng không phải là ai khác, mà chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Con người luôn đứng ở trung tâm của mọi quá trình lịch sử, trên đất nước ta đã như vậy, ở các nước khác trên thế giới và trong toàn bộ lịch sử loài người cũng như vậy.

Con người Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo ra lịch sử của dân tộc, làm nên những sự tích phi thường, xây dựng nên truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Con người ấy sớm có tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước nồng nàn, chí khí đấu tranh bất khuất, dũng cảm và thông minh trong chiến đấu, cần cù và sáng tạo trong lao động.

Continue reading

TA LÀ SẢN PHẨM CỦA CHÍNH MÌNH

image GIẢN TƯ TRUNG

Định nghĩa lại sự học luôn là khởi nguồn cho mọi cuộc cách mạng về giáo dục. Do đó, điều quan trọng nhất hiện nay là nỗ lực tạo nhận thức cho người học để mỗi người hiểu rằng, họ mới chính là "ông chủ" của quá trình giáo dục, là "nhà quản trị" sự học của bản thân, với tâm thế: "Ta là sản phẩm của chính mình!".

Thêm một góc nhìn về giáo dục

Con người là sản phẩm của giáo dục. Hệ thống giáo dục bao gồm nhiều nhân tố, từ chính sách của nhà nước, đến nhà trường, nhà giáo… và gần gũi nhất là từ gia đình và các tác nhân ngoài xã hội.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, đồng thời với quá trình chịu tác động của hệ thống giáo dục này, con người còn là "sản phẩm" của chính mình, của một quá trình "giáo dục tự thân" . Nghĩa là, người học vừa là nguyên liệu, vừa là sản phẩm và cũng lại là trung tâm của cả quá trình giáo dục. Người học cần phải biết nắm lấy sự chủ động cao nhất trong toàn bộ quá trình này. Và mọi sự đổi thay, mọi sự cải cách hay mọi cuộc cách mạng về giáo dục đều bắt đầu từ sự học, chính xác là bắt đầu từ "cách mạng sự học" của bản thân mỗi người.

Một số người vẫn bảo rằng, rất nhiều người trong số chúng ta là những sản phẩm bị "lỗi" của nền giáo dục Việt Nam. Nhưng có một thực tế khác: đâu phải tất cả những ai thụ hưởng nền giáo dục trong nước đều bị "lỗi". Vẫn có rất nhiều người thành nhân và thành tài mà chưa hề thụ hưởng một nền giáo dục nào khác ngoài những điều đã được học, được dạy trong nhà trường Việt Nam. Tìm hiểu những kinh nghiệm của họ, sẽ rất dễ nhận ra, điểm khác nhau chính là ở nhận thức về sự học và quá trình tự học, tự rèn luyện, tự thân vận động của họ. Phải chăng, đã đến lúc người học cần ý thức được vai trò "làm chủ" của mình trong toàn bộ quá trình giáo dục – mà ở đó mọi tác nhân khác như nhà nước, nhà trường hay nhà giáo… chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung và cung cấp thông tin, kiến thức cho người học để họ tự hoàn thành mục tiêu học tập của chính mình?

Continue reading

“GIẢ THUYẾT” VÀ “GIẢ THIẾT” TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

image VŨ CAO ĐÀM

“Giả thuyết” và “giả thiết” là hai khái niệm có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau trong nghiên cứu khoa học (NCKH). Đáng tiếc, trong thực tế vẫn có nhiều nhà khoa học còn sử dụng lẫn lộn hai khái niệm này. Trong bài viết dưới đây, tác giả mong muốn làm rõ sự phân biệt về ý nghĩa và cách sử dụng trong NCKH, góp phần phát triển những cơ sở lý thuyết về phương pháp luận và kỹ năng NCKH ở nước ta.

Một hiện trạng đáng báo động

Một vị chủ nhiệm khoa của một trường đại học lớn ở Hà Nội, đồng thời là chủ tịch một hội đồng khoa học và đào tạo cấp khoa, có chức danh khoa học, luôn lớn tiếng mắng đồng nghiệp khi họ nêu giả thuyết cho nghiên cứu của mình. Vị chủ nhiệm khoa này nói: “NCKH của các anh cần gì phải có giả thuyết” (!). Tại một viện nghiên cứu khác ở Hà Nội, ban lãnh đạo của viện đã phân vân, có nên yêu cầu các nghiên cứu sinh và học viên cao học viết giả thuyết trong luận văn của mình nữa không, vì các vị cho rằng, viết thì thừa, không viết thì thiếu!

ở một khoa khác trong một trường đại học lớn, một vị phó giáo sư bắt mọi luận văn, luận án (thạc sỹ và tiến sỹ) phải viết giả thuyết dưới dạng “Nếu …, thì …” một cách rất khô cứng, chẳng hạn, bản luận văn thạc sỹ do chính ông hướng dẫn, đã viết “giả thuyết” thành “giả thiết”, và được viết như sau: “Nếu có được biện pháp quản lý chất lượng đào tạo thích hợp, thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực”.

Hầu hết văn bản hướng dẫn viết luận văn sau đại học của nhiều trường đại học ở nước ta hiện nay không đòi hỏi và hướng dẫn các tác giả phải trình bày “giả thuyết”. Khảo sát tại một cơ sở đào tạo sau đại học của ngành y, chúng tôi được các thầy /cô khẳng định: Nghiên cứu của ngành y không cần giả thuyết. Đến khi chúng tôi đưa cho các vị xem cuốn sách của GS, BS Tôn Thất Tùng, trong đó, ông luôn nói: “Tôi đặt giả thuyết này…”, “Tôi đặt giả thuyết kia…” thì các vị mới “ngã ngửa” ra rằng, trong nghiên cứu của ngành y, đến bác sỹ Tôn Thất Tùng, cũng đã phải viết giả thuyết.

Continue reading

“GIẢ THUYẾT” VÀ “GIẢ THIẾT” trong nghiên cứu khoa học

PGS.TS. VŨ CAO ĐÀM – Viện Chính sách và Quản lý (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Giả thuyết” và “giả thiết” là hai khái niệm có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau trong nghiên cứu khoa học (NCKH). Đáng tiếc, trong thực tế vẫn có nhiều nhà khoa học còn sử dụng lẫn lộn hai khái niệm này. Trong bài viết dưới đây, tác giả mong muốn làm rõ sự phân biệt về ý nghĩa và cách sử dụng trong NCKH, góp phần phát triển những cơ sở lý thuyết về phương pháp luận và kỹ năng NCKH ở nước ta.

Một hiện trạng đáng báo động

Một vị chủ nhiệm khoa của một trường đại học lớn ở Hà Nội, đồng thời là chủ tịch một hội đồng khoa học và đào tạo cấp khoa, có chức danh khoa học, luôn lớn tiếng mắng đồng nghiệp khi họ nêu giả thuyết cho nghiên cứu của mình. Vị chủ nhiệm khoa này nói: “NCKH của các anh cần gì phải có giả thuyết” (!). Tại một viện nghiên cứu khác ở Hà Nội, ban lãnh đạo của viện đã phân vân, có nên yêu cầu các nghiên cứu sinh và học viên cao học viết giả thuyết trong luận văn của mình nữa không, vì các vị cho rằng, viết thì thừa, không viết thì thiếu!

ở một khoa khác trong một trường đại học lớn, một vị phó giáo sư bắt mọi luận văn, luận án (thạc sỹ và tiến sỹ) phải viết giả thuyết dưới dạng “Nếu …, thì …” một cách rất khô cứng, chẳng hạn, bản luận văn thạc sỹ do chính ông hướng dẫn, đã viết “giả thuyết” thành “giả thiết”, và được viết như sau: “Nếu có được biện pháp quản lý chất lượng đào tạo thích hợp, thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực”.

Hầu hết văn bản hướng dẫn viết luận văn sau đại học của nhiều trường đại học ở nước ta hiện nay không đòi hỏi và hướng dẫn các tác giả phải trình bày “giả thuyết”. Khảo sát tại một cơ sở đào tạo sau đại học của ngành y, chúng tôi được các thầy /cô khẳng định: Nghiên cứu của ngành y không cần giả thuyết. Đến khi chúng tôi đưa cho các vị xem cuốn sách của GS, BS Tôn Thất Tùng, trong đó, ông luôn nói: “Tôi đặt giả thuyết này…”, “Tôi đặt giả thuyết kia…” thì các vị mới “ngã ngửa” ra rằng, trong nghiên cứu của ngành y, đến bác sỹ Tôn Thất Tùng, cũng đã phải viết giả thuyết.

Continue reading

VĂN MINH GIAO TIẾP THỜI HỘI NHẬP

DIỆU TRANG

Chuyện thứ nhất. Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ gần đây của một đoàn doanh nghiệp Việt Nam, trên đường về, tại một sân bay ở Nhật, một doanh nhân của ta bước vào duty–free shop (cửa hàng miễn thuế). Anh này thản nhiên cầm một cái ví da hiệu Cartier, không cần xem giá, mang ra quầy tính tiền. Và kết cục là anh phải trả lại cái ví hơn 700 USD đó vì giá cao hơn anh tưởng nhiều…

Chuyện thứ hai. Trong một chuyến đi làm việc tại Thái Lan, một nữ doanh nhân có kinh nghiệm của Việt Nam đã phạm một sai lầm đáng tiếc. Chị vào siêu thị, chọn một cái kính, như người ta thì phải cầm ở tay cộng khai trước khi ra bàn thanh toán, đằng này chị lại "tiện tay" cho vào túi xắc và "quên" không trả tiền. Ra đến cửa mới nhớ thì sợ quá, chị không biết xử trí thế nào đành… vứt vào sọt rác. (Điều này thể hiện rằng chị không có ý ăn trộm). Theo hệ thống camera giám sát, bảo vệ siêu thị đã tìm ra chị và sau lời phân trần đã chấp nhận “hộ tống” cho chị ra thanh toán tiền. Chuyện có lẽ đã xong nếu anh em trong đoàn không nhìn thấy và nóng vội, chưa hiểu đầu đuôi thế nào đã lớn tiếng với người bảo vệ khiến anh này tức quá gọi cảnh sát tới. Kết quả là chị phải ở lại mấy tháng chờ xét xử xong, về nước cũng "thân bại danh liệt".

Hai câu chuyện với hai thời gian, hai điạ điểm và hai chủ thể hoàn toàn khác nhưng lại có nhiều nét tương đồng. Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội từng có nhiều chuyến công du đến các nước đã dành cho Tạp chí Truyền hình một cuộc nói chuyện thú vị về một điều "nhỏ mà không nhỏ": ứng xử văn minh trong môi trướng quốc tế. Đi công cán nước ngoài sao cho văn minh – đó là vấn đề cần được quan tâm trong thời buổi hội nhập như hiện nay. Câu chuyện dưới quan sát sắc sảo của một người làm công tác đối ngoại có lẽ sẽ làm nhiều người phải suy nghĩ.

Continue reading

TAI HỌA TỪ LÒNG NGHEN TỴ

NGUYỄN VĂN TRỌNG

Tính ghen tỵ đã được biết đến từ lâu như một thói xấu mang tính phổ quát của con người. Văn chương của nhân loại đưa ra biết bao điển hình sinh động của thói xấu ấy dẫn đến những tội ác làm kinh động lòng người. J.S. Mill nhận xét rằng tính ghen tỵ ở phương Đông là ghê gớm nhất, một người có đứa con kháu khỉnh dễ thương cũng có thể là lý do để thành đối tượng bị hàng xóm ghen ghét.

Tính ghen tỵ tuy có thể có xuất xứ từ bản năng con người, nhưng biểu hiện xã hội của nó có mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của cộng đồng. Một cộng đồng có nhiều người có tâm thế tích cực với khát vọng được làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác thì cơ may xuất hiện người tài trong cộng đồng ấy là rất cao, tính ghen tỵ trong cộng đồng ấy cũng rất thấp. Ngược lại, một cộng đồng mà đam mê cai trị người khác mạnh hơn nhiều so với ham muốn có độc lập cá nhân để làm những công việc sáng tạo, thì đó chính là một cộng đồng săn tìm địa vị theo cách gọi của J.S. Mill.

Một cá nhân trung bình trong cộng đồng này sẽ ưu tiên lựa chọn cơ hội, dù có xa vời và khó xảy ra đến đâu đi nữa, được chia phần đôi chút về quyền lực để áp đặt lên đồng bào của mình, hơn là lựa chọn sự tự do để được làm công việc mình yêu thích. Ở một cộng đồng như thế chỉ có sự bình đẳng là được quan tâm chứ không phải sự tự do. Trong cộng đồng săn tìm địa vị, tính ghen tỵ thường thể hiện ra ở mức độ cao.

Trong tiến trình lịch sử của mọi dân tộc đều diễn ra sự phân tầng xã hội với kẻ giàu và người nghèo, kẻ nắm quyền uy và người bị cai trị. Xung đột xã hội luôn luôn xảy ra. Các bậc hiền triết của nhân loại thuộc mọi thời đại đều bận tâm tìm kiếm một hình thức chính thể tối ưu để giảm thiểu thấp nhất các xung đột xã hội mà vẫn tạo cơ hội cho người tài xuất hiện đặng thúc đẩy xã hội phát triển.

Nhiều học thuyết khác nhau xuất hiện với các biện giải vô cùng phức tạp. Học thuyết nào càng gây chú ý nhiều thì càng có nhiều cách biện giải khác nhau được đưa ra. Rất khó để nắm bắt được thực chất của các cách biện giải khác nhau ấy và chẳng có mấy người dám nói là nắm được vấn đề này.

Continue reading

LƯƠNG VÀ TÂM

SAGA.VN

Phàm ở đời, nhận hay cho đều gắn với chữ Tâm. Chữ Tâm tròn hay khuyết, mỏng hay dày đều xuất phát từ tâm thế, mục đích của người cho và nhận vậy. Lương (thu nhập, nhận) cũng không ngoài sự ràng buộc ấy. Soi chiếu việc này với việc một số sếp của các doanh nghiệp nhà nước nhận lương cao tới mức gây sốc cho dư luận, lại băn khoăn đi tìm vị trí chữ Tâm.

Nhận lương như thế mà để lỗ, lúc đó chữ Tâm có ngủ yên? Kinh doanh nguồn tiền khổng lồ của nhà nước, “buôn tài không bằng dài vốn”, nhưng “vốn dài” mà lợi nhuận thu về ngắn, có khi lại âm, thế nhưng lương tháng chẳng âm bao giờ.

Vừa mới đây, báo chí lại thông tin Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang nhận lương mỗi tháng 232 triệu đồng trong khi cả năm Cty này chỉ nộp ngân sách 4,7 tỷ đồng! Và lương công nhân chỉ bằng mươi cân cá kèo. Lúc đó chữ Tâm trong họ chắc đang ngủ yên?

Lương không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với Tâm. Câu chuyện các cô giáo mầm non ở xã Long Thành, huyện Yên Thành nhận mức lương mỗi tháng sáu trăm nghìn đồng, có khi lương được trả bằng lúa, bằng lạc, bằng cả ổ chó con. Nhưng các cô vẫn say nghề, yêu trẻ vô điều kiện.

Biết bao cán bộ công nhân viên chức đang nhận những đồng lương khốn khó mà vẫn hăng say lao động, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Lương chịu sự điều chỉnh của cơ chế, chính sách nhưng lương cũng chịu sự chi phối của chữ Tâm. Tâm thể hiện ở việc đưa ra một chế độ tiền lương công bằng, nhân sinh của những người hoạch định chính sách.

Continue reading

BÀI DIỄN VĂN HAY DÀNH CHO SINH VIÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI HÀNH NGHỀ LUẬT

Diễn văn của luật sư George Graham Vest tại một phiên tòa xét xử vụ kiện một người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire của báo The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1.000 năm qua. 

Thưa quý ngài hội thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù quay ra chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưõng với tình thương yêu hết mực rồi ra có thể là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và trung thành.

Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lở vận.

Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió ông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được! Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta, như thái dương trên bầu trời.

Continue reading

SỐNG ĐỂ ĐƯỢC . . . GHÉT?

LS. ADRIAN TAN – Singapore (TRẦN LÊ ANH MINH dịch và giới thiệu)

Đừng đặt cuộc sống trong giới hạn của những người trung bình

Thật là một vinh dự lớn lao khi được dành mười phút phát biểu tại đây mà chẳng lo bị phản bác, mỉa mai hay trả thù. Tôi nói điều này với tư cách một người Singapore và hơn hết là với tư cách một người chồng.

Vợ tôi là một người tuyệt vời, hoàn hảo ở mọi khía cạnh duy chỉ ngoại lệ một điều. Cô ấy là biên tập viên của một tờ tạp chí. Cô ấy kiếm sống nhờ "sửa lưng" người khác. Cô ấy đã mài dũa kỹ năng chuyên môn của mình hơn một phần tư thế kỷ, chủ yếu nhờ luyện tập tại nhà qua những cuộc trao đổi giữa hai vợ chồng.

Nói dễ hiểu hơn, tôi là một luật sư tranh tụng. Tôi dành thời gian mỗi ngày để chỉ ra sai lầm của người khác. Tôi kiếm sống bằng việc phản bác.

Dẫu vậy đời sống hôn nhân của chúng tôi vẫn cực kỳ hạnh phúc. Đơn giản vì mỗi khi có cuộc tranh cãi giữa một biên tập viên và một luật sư, kẻ chiến thắng không ai khác ngoài vợ.

Và chính thế nên tôi muốn bắt đầu bài này bằng một lời khuyên nhỏ cho cánh mày râu: một khi đã chinh phục được trái tim nàng, bạn chẳng nhất thiết phải chinh phục nốt mấy cuộc tranh luận.

Hôn nhân được coi là một dấu mốc của cuộc đời. Một số trong các bạn đã kết hôn. Một số chưa từng kết hôn. Một số sẽ kết hôn. Một số rất thích tận hưởng trải nghiệm này và sẽ kết hôn nhiều, nhiều lần nữa. Cũng tốt thôi.

Dấu mốc lớn tiếp theo trong cuộc đời các bạn là ngày hôm nay: lễ tốt nghiệp. Kết thúc quá trình giáo dục. Hoàn tất việc học.

Continue reading