TS. CHU HẢO: KHÔNG CÓ TƯ DUY PHẢN BIỆN, KHÔNG PHẢI LÀ TRÍ THỨC

282d BÙI HOÀNG TÁM (Thực hiện)

Nghị quyết TƯ 7 sau một tháng ban hành đang dần đi vào cuộc sống, đặc biệt là đối với đội ngũ trí thức nước nhà. Đây được coi là một cơ hội để từ đó, có thể hình thành một tầng lớp trí thức với đầy đủ tính năng, phẩm chất của nó…

Tuy nhiên, để Nghị quyết đi vào cuộc sống cần rất nhiều mồ hôi, công sức bởi cuộc sống luôn biến động và mọi chủ trương, đường lối phải bám sát những diễn biến của đời sống xã hội.

Làm thế nào để Nghị quyết đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng và sâu rộng, phóng viên báo Dân trí đã có cuộc phỏng vấn TS Chu Hảo, Giám đốc – TBT NXB Tri thức, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ & Môi trường.

Cần những phản biện mang tính xây dựng

Được mời tham gia đóng góp về công tác trí thức ngay từ khi Nghị quyết trong giai đoạn soạn thảo, với tư cách một nhà khoa học, ông có đánh giá gì về nội dung Nghị quyết này?

Trước khi Nghị quyết ban hành, Thường trực Ban bí thư có triệu tập một số anh em trí thức thuộc nhiều lĩnh vực đến để tham khảo ý kiến. Tại đây, đã có nhiều ý kiến tâm huyết, thể hiện rất cao tinh thần trách nhiệm với đất nước. Đối với cá nhân, tôi cho rằng việc ra đời Nghị quyết này là một bước tiến khá dài trong quan điểm của Đảng về công tác trí thức. Nhất là trong tình hình nóng bỏng của kinh tế như vừa qua, chúng ta vẫn gác lại để tập trung bàn về trí thức chứng tỏ Đảng rất quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, nó chưa phản ánh được hết những đòi hỏi bức xúc của giới trí thức hiện nay.

Continue reading

TRÍ THỨC CÓ VỊ TRÍ KHÔNG THỂ THAY THẾ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

educ-symbol  GS. TƯƠNG LAI

Trí thức luôn là câu chuyện thời sự, chẳng phải bây giờ người ta mới sôi nổi luận bàn mà đây là chủ đề xuyên thời gian. Thì các cụ ta xưa chẳng luôn bận tâm răn dạy con cháu “nhân bất học bất tri lý”đó sao. Có phải vì thế mà trong thang bậc giá trị xã hội, các cụ để kẻ sĩ đứng đầu. Nguyễn Công Trứ thì còn hào hùng hơn, trong “Luận kẻ sĩ”, ông khẳng định “Có giang san thời sĩ đã có tên”.

      Tác giả của “Luận kẻ sĩ” ấy từng là bậc kinh bang tế thế, một danh tướng cầm quân dẹp cường khấu ở Lạng Sơn, bắt Phiên tặc ở thành Trấn Tây, trừ Hải tặc ở ngoài Đông Hải … đồng thời cũng là người chỉ huy công cuộc lấn biển mở đất ở Kim Sơn, Tiền Hải, đắp đê ngăn mặn ở Hải Dương vùng châu thổ sông Hồng, rồi khơi dòng Mê kông ở Long Xuyên vùng đồng bằng sông Cửu Long…Cũng là một người “lấy chính đạo” để chống tham nhũng ngay giữa triều đình. Quả thật đúng như ông tâm nguyện “Trong lăng miếu ra tài lương đống, Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”. Về thơ văn, con người ấy cũng chiếm riêng một góc độc đáo trong lịch sử văn hóa nước nhà.
      Với tám mươi tuổi đời, tuyên ngôn của ông “Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh mà đối với núi sông” đã được sự nghiệp của ông chứng minh. Đương nhiên phải hiêèu chữ “danh” ông nói đây theo nghĩa rộng, vượt khỏi “vòng danh lợi” hạn hẹp và có khi thấp kém, mà “danh” là sự nghiệp làm nên sử sách, là sự cống hiến cho giang sơn tổ quốc. Cái “danh” ấy được khởi nguồn từ một ý tưởng cao cả: “Vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình.

Continue reading

TÍNH TRUNG THỰC CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU

VŨ CAO ĐÀM

Trong bài viết lần trước (Tia Sáng số 17 ngày 05.9.2008), tác giả bàn về khía cạnh đạo đức khi lựa chọn phương hướng nghiên cứu. Bài viết này góp phần bàn về một khía cạnh khác của đạo đức khoa học: Đó là tính trung thực của người nghiên cứu.

Những ví dụ nêu ra trong bài viết này chúng tôi cố ý chọn những sự kiện xuất hiện đã rất xa trong quá khứ, hầu như chỉ liên hệ với những người đã từ nhiệm, để tránh những điều tế nhị liên quan đến những người đang có địa vị đương thời. (Nói là những sự kiện đã xảy ra rất xa trong quá khứ, nhưng không phải không còn tồn tại trên đất nước ta). Dù vậy, chúng tôi vẫn gửi lời xin lỗi các bạn có liên quan đến các sự kiện được nêu.

Chúng tôi không có ý thức chỉ trích cá nhân, mà chỉ mong sao cộng đồng nghiên cứu, và nhất là các cơ quan hoạch định chính sách khoa học, rút ra được bài học từ những sự kiện này, để nền khoa học của chúng ta đi vào quỹ đạo lành mạnh của khoa học.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC CỦA KHOA HỌC

443909a-i1.0 VŨ CAO ĐÀM

Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, bao gồm khoa học, đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị. Trong lịch sử phát triển của mình, mối quan hệ giữa khoa học (là một hình thái ý thức xã hội) với các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị) luôn là một vấn đề nhức nhối, mà một nỗi đau xuyên suốt của khoa học, là các hình thái ý thức xã hội kia luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học.

Quan hệ đạo đức và khoa học là chủ đề được bàn đến từ lâu trên các diễn đàn khoa học. Trong số những học giả Việt Nam quốc nội và hải ngoại bàn về chủ đề này, chúng ta có thể gặp nhiều bài viết từ đủ các lĩnh vực chuyên môn và bàn về đạo đức khoa học từ nhiều góc độ khác nhau: triết học, Phật giáo, Thiên chúa giáo… Trên mạng hiện nay vẫn còn lại nhiều bài có thể đọc từ nhiều góc độ đó. Chỉ cần tìm sơ sơ cũng có thể gặp những tên tuổi có bài viết hoặc được trích dẫn trên mạng, như Nguyễn Đình Hòa (Hà Nội), Đặng Mộng Lân (Hà Nội, đã mất), Trần Chung Ngọc và Trịnh Xuân Thuận (Hoa Kỳ), Nguyễn Văn Tuấn (Australia). Bài này xin đóng góp một vài thiển kiến liên quan một số nội dung mà các tác giả đã bàn về đạo đức trong khoa học.

Continue reading

GIÁO DỤC, TRÍ THỨC VÀ NỬA ĐƯỜNG CÒN LẠI

NGÔ TỰ LẬP

image Giáo dục bằng tiếng Việt – Cuộc chiến hai ngàn năm

Chúng ta là người Việt, nói tiếng Việt, học tập, làm thơ, làm toán và viết luận án khoa học bằng tiếng Việt – điều đó có vẻ đương nhiên. Thực ra thì không phải thế. Là kết quả của một lịch sử phát triển lâu dài, nhưng để trở nên phong phú và chính xác như ngày hôm nay, tiếng Việt còn cần có những nỗ lực, những chiến công tuyệt vời của nhiều nhà văn, nhà khoa học, hoạt động xã hội, các nhà giáo và cả các nhà chính trị trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, mà cao trào là nửa đầu thế kỷ XX, với bước ngoặt quyết định là cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ðể cảm nhận hết điều này cần đem so sánh với rất nhiều thứ tiếng khác trên thế giới. Tiếng Arab chẳng hạn. Có ai ngờ rằng thứ tiếng của ‘Một nghìn một đêm lẻ’ tuyệt vời nhường ấy cho đến nay vẫn còn chưa được sử dụng như là ngôn ngữ chính trong giáo dục của chính các nước nói tiếng Arab! Tôi xin kể một câu chuyện cụ thể. Năm 1999, trong thời gian du học ở Paris tôi có quen với một giáo sư văn học người Morocco tên là Heddi Naima. Ông cho biết rằng trong trường phổ thông ở Morocco, tất cả các môn khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh vật đều phải dạy bằng tiếng Pháp. Trong trường đại học, môn duy nhất dạy bằng tiếng Arab là… văn học Arab! Ông cho tôi xem một tờ báo Morocco. Thật tình cờ có một đoạn nhắc đến Việt Nam, đại ý nói rằng từ một nước thuộc địa, chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam đã xây dựng được một nền giáo dục bằng quốc ngữ. Tờ báo viết: ‘Ngay cả những tác phẩm phức tạp như triết học của Hegel cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Chẳng lẽ tiếng Arab không đủ giàu có, chính xác và tinh tế để làm điều đó hay sao? Và ông bạn Morocco nói thêm vẻ chua chát: ‘Chúng tôi đang phải cố gắng Arab hóa xã hội Arab của chúng tôi! Ðó là một cuộc chiến đấu gay go mà chúng tôi đang thiếu những viên tướng giỏi.’ Continue reading

GIÁO SƯ PHAN ĐÌNH DIỆU "ĐỪNG VỘI NÓI CHUYỆN ĐÃI NGỘ TRÍ THỨC THẤP, CAO"

THANH PHÁCH – Báo Đại đoàn kết

imageTrao đổi về Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp  hóa- hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế” trình Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) tới đây, Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng, một khi chưa có quan niệm đúng đắn về trí thức và một cơ chế để tạo môi trường cho người trí thức phát huy hết năng lực thì rất khó bàn đến chuyện đãi ngộ thế nào là xứng đáng với những đóng góp của họ.

P.V: Thưa Giáo sư, một trong những điểm nhấn của Đề án là khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Cá nhân ông đặt kỳ vọng gì ở Đề án này?

Giáo sư Phan Đình Diệu: Trí thức không đơn giản là người lao động trí óc. Vấn đề “thế nào là người trí thức?” đã được thảo luận từ hơn một thế kỷ trước. Paul A. Baran, một nhà kinh tế học Mỹ theo chủ nghĩa Marx, trong một bài báo viết vào đầu những năm 1960, đã căn cứ vào một câu nói của Marx và viết: “trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”. Nói cách khác, thông qua lao động trí óc, người trí thức phải là người luôn suy nghĩ, và đưa những suy nghĩ, hiểu biết của mình đóng góp cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Do vậy, trí thức rất cần một môi trường tự do cho suy nghĩ, sáng tạo, và tự do trao đổi ý kiến, suy nghĩ với nhau để hình thành nên những đóng góp có ý nghĩa đối với xã hội..

* Nói như vậy, theo ông, tiêu chuẩn trí thức của thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế có điểm nào khác với trước đây?

– Thú thật, tôi cũng không thuộc lắm những tiêu chuẩn được đặt ra trước đây. Và về bản thân, tôi cũng chưa bao giờ dám tự xem là mình đã đạt được các tiêu chuẩn của một người trí thức. Còn nay, trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, thì tôi nghĩ nếu căn cứ vào các tiêu chí kể trên, chúng ta phải phấn đấu rất nhiều để có những đóng góp xứng đáng vào giai đoạn mới của sự phát triển đất nước, cả về phương diện nâng cao năng lực lao động riêng của bản thân cũng như rèn luyện năng lực và bản lĩnh để cùng đóng góp vào những vấn đề chung của đất nước.

* Trí thức cũng là sản phẩm của nền giáo dục. Nhưng nhìn vào những vấn đề “nổi cộm” của ngành giáo dục hiện nay, có thể hi vọng gì vào đội ngũ trí thức?

– Hy vọng vào đội ngũ trí thức hiện có hay vào đội ngũ tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ đào tạo ra? Tôi tin rằng đội ngũ trí thức hiện nay, nếu được huy động và phát huy mọi năng lực một cách đầy đủ, có thể có khả năng để vực dậy và phát triển dần một nền giáo dục đang yếu kém của chúng ta. Trong nhiều năm qua, ý kiến đóng góp cũng đã khá nhiều và phong phú, nhưng tiếc thay, nói thì nhiều mà nghe thì chưa được bao nhiêu. Còn về đội ngũ trí thức tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ góp phần quan trọng để đào tạo nên thì…. đành phải chờ xem!

* Thực tế, đội ngũ trí thức hiện nay chưa thể hiện hết vai trò quan trọng trước những vấn đề quan trọng của đất nước. Và qua hơn hai chục cuộc thảo luận, đóng góp cho Đề án này, rất nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân là chưa có một cơ chế mang tính đột phá để tạo ra động lực mạnh mẽ cho trí thức đóng góp hết khả năng cho sự phát triển của xã hội?

– Đúng! Cơ chế ở đây là phải tạo môi trường cho việc tranh luận, trao đổi ý kiến, suy nghĩ, sáng tạo để tìm ra giải pháp hữu ích. Trước đây, tôi cũng hay phát biểu về giáo dục. Cách đây vài năm, tôi cũng đã từng đề xuất với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức một hội nghị trí thức trong và ngoài nước góp ý kiến vào việc xây dựng, phát triển đất nước. Nhưng cuối cùng cũng không được tổ chức. Trí thức vẫn chưa có điều kiện tự do tạo ra những diễn đàn thực sự cho trao đổi ý kiến và tranh luận.

* Một vấn đề khác cũng được nhắc đến nhiều khi thảo luận về Đề án, đó là chính sách đãi ngộ trí thức hiện nay rất hạn chế?

– Khoan nói đến chuyện chế độ đãi ngộ cao hay thấp mà hãy nói đến sự tương xứng. Thẳng thắn nói rằng, với cung cách quản lý thế này thì năng suất hay sản phẩm do trí thức làm ra có thật cao không mà đòi hưởng đãi ngộ cao. Chừng nào hệ thống tổ chức chưa làm cho trí thức phát huy khả năng của mình thì chừng đó chưa thể tìm ra được phương thức đãi ngộ tương xứng với những đóng góp của họ.

* Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

SOURCE:  Báo Đại đoàn kết

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Dung_voi_noi_chuyen_dai_ngo_tri_thuc_thap_cao/

TRÍ THỨC VIỆT NAM

image ANH HÙNG LAO ĐỘNG.GS. VŨ KHIÊU

Nhìn lại trí thức thời xưa

Trí thức Việt Nam dù ngày xưa hay hiện nay đều chung một dòng chảy, qua mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc. Thời kỳ khác nhau có thể đem lại sự khác nhau giữa các thế hệ trí thức Việt Nam, về hoàn cảnh xã hội, về nhiệm vụ lịch sử, về cách thức tư duy và hành động…

Ngoài những dị biệt nói trên, lịch sử còn ghi lại những nét tương đồng giữa các thế hệ trí thức Việt Nam, thể hiện phẩm chất bất diệt của họ từ xưa đến nay. Ðó là: Sự gắn bó bằng máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của họ. Họ cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng lịch sử: hưng thịnh hay suy vong, vinh quang hay tủi nhục, thất bại hay thành công.

Tính liên tục của phẩm chất và đạo đức, tư duy và hành động ở trí thức Việt Nam khiến chúng ta có thể nghĩ rằng, trí thức thời nay đang tiếp tục sự nghiệp của trí thức thời xưa và trí thức thời xưa vẫn còn gửi lại người trí thời nay những hoài bão chưa thực hiện được và những lo lắng khôn nguôi về vận mệnh của đồng bào và Tổ quốc.

Cao Bá Quát ngày xưa chia trí thức thành ba loại:

– Loại người có chí lớn như chim hồng hộc bay tít trên mây xanh.

– Loại người thanh cao ở ẩn như chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi.

– Còn đáng khinh là loại người như những con hoàng điểu chỉ tìm chỗ kiếm ăn ở những nhà quyền quý.

Và ông đã kết luận rằng: Mình sẽ không bao giờ là những con chim hoàng điểu ấy.

Khi Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm 1442, ông đã lần đầu tiên nêu lên quan điểm chính thống của Việt Nam đối với trí thức: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống thấp”.

Ðặt người trí thức ở một vị trí cao như thế, Thân Nhân Trung cũng đòi hỏi rất cao về tài năng và phẩm chất của họ. Ông giải thích vì sao phải dựng bia đá để khắc tên của người thi đỗ và đặt ở Quốc Tử Giám? Ðó là nhằm cổ vũ mọi kẻ sĩ hãy trở thành hiền tài và thường xuyên rèn luyện danh tiết để hết lòng phục vụ Tổ quốc. Có như thế họ mới xứng đáng với lòng hâm mộ của nhân dân và sự tin cậy của nhà nước. Văn bia còn lên án những kẻ sĩ được trọng dụng nhưng rồi vì hối lộ mà hư hỏng và sa ngã. Ðó là những bọn gian ác không thể đứng trong hàng ngũ của những hiền tài.

Thực ra trong ba loại trí thức, chỉ có hai loại trên đáng gọi là trí thức. Bởi vì không thể gọi là trí thức những kẻ chỉ lo lắng cho bản thân mình và chỉ băn khoăn trước sự mất còn nhỏ nhặt của cuộc sống riêng tư. Không thể gọi là trí thức những kẻ không ra khỏi vỏ ốc của bản thân mình, không thấy được lẽ sống của nhân loại, không xác định được trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc và của nhân dân.

Cao Bá Quát khẳng định thái độ rõ rệt của mình trong bài thơ dài gửi cho người bạn là Nguyễn Trúc Khê khi ông này lên đường nhận chức Tri phủ Thường Tín. Ông nhắc bạn mình hãy chọn lấy một trong hai con đường: Bảo vệ dân hay bòn rút của dân? Làm chim diều, chim cắt hay làm chim loan, chim phượng? Ông nhắc bạn ông rằng phủ Thường Tín là nơi quê hương của Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Ðó là hai nhà trí thức tiêu biểu nhất cho trí thức Việt Nam. Ông nhờ Trúc Khê hãy vì ông mà đến lạy trước bàn thờ của hai vị danh nhân đó và hãy sống theo tấm gương tuyệt vời của hai ông và đừng bao giờ như những bọn quan lại đang sống một cách nhục nhã, chỉ biết vơ vét và áp bức nhân dân.

Sự phân biệt giữa trí thức chân chính với những người không đáng gọi là trí thức còn là cách nhìn nhận phổ biến trong dân gian. Nhân dân Việt Nam coi những bọn trí thức tham nhũng là bọn giặc cướp “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Người trí thức được mọi người quý trọng trước hết là những người tham gia bảo vệ Tổ quốc, chăm lo hạnh phúc của nhân dân. Sau là những người không có điều kiện thi thố tài năng thì lui về ở nhà đọc sách, dạy học hoặc làm thuốc cứu dân.

Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm khi có điều kiện thuận lợi thì hiến dâng tuổi trẻ, trí tuệ, tài năng và cả cuộc đời cho đất nước. Khi gặp trở ngại từ phía nhà nước hoặc trước những khó khăn thực tế không thể vượt qua thì các ông đành lui về: Nguyễn Trãi về Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm về Vĩnh Bảo, Ngô Thì Nhậm về chùa để nghiên cứu kinh phật. Nhưng ở các ông, tấm lòng ưu dân, ái quốc không bao giờ nguôi ở trong lòng. Nói như Nguyễn Trãi là:

Bui một tấm lòng ưu ái cũ
Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông

Nói chung, những người trí thức chân chính dù ở hay về, tiến hay thoái đều xuất phát từ tấm lòng suốt đời vì nước, vì dân.

Nghĩ về trí thức ngày nay

Trí thức thời nay tiếp tục truyền thống của ông cha trong một hoàn cảnh đã biến đổi sâu sắc. Từ hơn 60 năm trước, Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ sự thống trị 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp và hơn 1000 năm của chủ nghĩa phong kiến Việt Nam. Vận mệnh của Tổ quốc, đời sống của nhân dân không còn tùy thuộc vào nhà nước của giai cấp bóc lột. Mọi quyền lực về kinh tế, chính trị, xã hội được trả lại cho nhân dân, trong đó có tầng lớp trí thức. Ðiều này đánh dấu một bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử phát triển của trí thức Việt Nam.

Lịch sử ghi nhận sự đóng góp to lớn của giới trí thức trong Cách mạng Tháng Tám. Tinh thần trí thức ngày một cao trong các ngành giáo dục, khoa học, y tế và đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến. Theo tiếng gọi non sông và dưới ảnh hưởng của Bác Hồ, đông đảo trí thức Việt kiều về nước hoạt động và cùng với trí thức trong nước góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Ý thức được vai trò làm chủ đất nước, trí thức Việt Nam ngày một xác định trách nhiệm thiêng liêng và khả năng đặc biệt của mình. Họ đang cùng toàn thể nhân dân đứng trước những thử thách mang ý nghĩa tồn vong của cả dân tộc.

Trí thức thời xưa trong những phút hiểm nghèo nhất cũng không lường được những khó khăn mà trí thức ngày nay đang phải gánh trên vai.

Toàn cầu hóa đang lôi cuốn mọi quốc gia và dân tộc trên hành tinh này vào một cuộc chạy đua có ý nghĩa quyết định đối với số phận của mình: Tiến bộ hay lạc hậu, thất bại hay thành công, hạnh phúc hay bất hạnh.

Trước đây là cuộc đấu tranh để đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay là cuộc chiến đấu nhằm rút ngắn khoảng cách giữa giàu và nghèo, mạnh và yếu, tiến bộ và suy thoái giữa ta và nhiều nước trên phạm vi thế giới. Ngày xưa là sự đe dọa của nỗi nhục mất nước thì ngày nay là sự thách thức của nỗi nhục yếu kém.

Nếu như ngày xưa trong hoàn cảnh lịch sử của mình, trí thức Việt Nam đã trải trăm ngàn nỗi gian truân vất vả, ngày quên ăn, đêm quên ngủ để tìm đường cứu nước thì trí thức ngày nay cũng đang day dứt khôn nguôi về những nguy cơ đang đè nặng lên Tổ quốc.

Trong thời đại ngày nay, một sức mạnh chưa từng có trong lịch sử đã được đặt trong tay của cả nhân loại. Trí tuệ của con người đã phát triển đột biến và tạo ra sự thay đổi hằng tháng, hằng năm, hằng ngày trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự thành công của mỗi quốc gia, dân tộc không còn phụ thuộc bao nhiêu vào sự phong phú của thiên nhiên mà lại phụ thuộc vào trình độ trí tuệ của nhân dân, đặc biệt là của giới lãnh đạo, giới kinh doanh và người trí thức.

Làm thế nào để trong cuộc đua tranh quyết liệt này, trí thức Việt Nam có thể nhanh chóng vươn lên đỉnh cao của trí tuệ, đề ra được những kiến giải mầu nhiệm nhất cho mọi vấn đề lớn nhỏ, thực hiện được những hoài bão chung của cả dân tộc trên con đường tiến lên của đất nước?

Ngày nay, đất nước ta đã hội nhập toàn cầu về mặt kinh tế và chấp nhận cuộc chạy đua về mọi mặt giữa các dân tộc trên thế giới. Gia nhập WTO, chúng ta càng đi thẳng vào một trận địa mới đầy rẫy khó khăn. Ðó là khó khăn của những con thuyền từ dòng sông nhỏ đi ra biển cả, đương đầu với muôn trùng sóng gió.

Cuộc chạy đua trên toàn thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay không chỉ có thuận lợi mà còn đang diễn ra trong một tình trạng bất bình đẳng phổ biến và sâu sắc. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, mạnh và yếu, tiến bộ và lạc hậu đang ngày càng sâu sắc giữa các dân tộc và giữa các tầng lớp xã hội trong một quốc gia.

Hội nhập kinh tế là một thời cơ để các nước có điều kiện thâm nhập vào nhau, cùng bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Tuy nhiên điều này lại diễn ra trong sự đối lập từ hai phía: Giữa những nước thừa thãi về mọi mặt và những nước thiếu thốn ở cả những nhu cầu tối thiểu. Làm gì có sự công bằng giữa các nước lớn và nhỏ về những điều kiện tối thiểu để kinh doanh: Về tiền vốn, về kỹ thuật, về kinh nghiệm quản lý thị trường, về nguyên liệu và hàng hóa…

Toàn cầu hóa, sản phẩm của sự phát triển kinh tế, trước hết là của sự phát triển về khoa học, công nghệ, trình độ, trí tuệ của từng dân tộc mà trước hết là trình độ của giới trí thức. Cuộc đua trên lĩnh vực trí tuệ này càng là một cuộc đua bất bình đẳng giữa các dân tộc: Một bên có đầy đủ những phương tiện hiện đại nhất để nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, để luôn luôn có những phát minh kỳ diệu trước sự kinh ngạc của cả loài người. Còn bên kia là những nước có mức sống thấp nhất, không đủ cả cơm ăn, áo mặc, không đủ sức chống đỡ với thiên tai và bệnh tật, chưa kể đến những thành kiến, chia rẽ, phân biệt tôn giáo và sắc tộc đang tạo ra nhiều cuộc xung đột đẫm máu…

Cũng như trí thức thời xưa, đại bộ phận trí thức thời nay cũng ngày đêm suy nghĩ làm thế nào để dân tộc Việt Nam phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất, vượt mọi khó khăn, đạt được những thắng lợi vẻ vang trong cuộc chạy đua có tính chất toàn cầu này?

Tôi nghĩ tới hàng triệu và hàng triệu trí thức Việt Nam cả già và trẻ, cả trong nước và ngoài nước đang ngày đêm vừa học tập, vừa suy nghĩ, vừa phát minh, vừa tìm cách đóng góp nhằm tạo ra một sức mạnh kỳ diệu cho dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. Họ đang đứng trước sự trông chờ của toàn thể nhân dân trong cả nước và sự thách thức của cả thế giới đối với Việt Nam.

Những tâm tư, hoài bão của bao nhiêu thế hệ trí thức Việt Nam từ xưa tới nay lại trở về trong lòng họ càng sâu sắc hơn và nồng nhiệt hơn nữa.

Nếu như Nguyễn Du chờ đợi ở con người 300 năm sau, một giọt nước mắt khóc cho ông, khóc cho tâm trạng của trí thức thời xưa, thì trí thức thời nay không cần đáp lại bằng nước mắt mà bằng cả tâm huyết, trí tuệ, tài năng để đem lại phồn vinh và hạnh phúc cho nhân dân, trả lại vinh dự vẻ vang từ ngàn đời cho Tổ quốc Việt Nam anh hùng và văn hiến.

SOURCE:  Báo Nhân dân

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/NgamNghi-VietNam/Tri_thuc_Viet_Nam/

LUẬN BÀN VỀ TRÍ THỨC

image TS. NGUYỄN QUANG A

Vài tháng nay các trí thức Việt Nam (trong và ngoài nước) sôi nổi đóng góp cho Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” mà Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X, dự kiến sẽ thảo luận và thông qua.

Hàng loạt hội thảo, hội nghị đóng góp ý kiến đã được tổ chức. Ngày 19.5.2008 thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN đã có buổi làm việc với đại biểu trí thức về đề vấn này. Tôi chỉ muốn thảo luận hai vấn đề: Khái niệm trí thức và một biện pháp mà tôi cho là quan trọng để phát triển tầng lớp trí thức Việt Nam.

Không rõ về khái niệm thì cơ sở cho các chính sách sẽ không vững và chính sách sẽ không có mấy tác dụng. Không ít ý kiến cho rằng trí thức là những người lao động trí óc có trình độ học vấn cao (đại học và tương đương trở lên). Tôi nghĩ khái niệm được hiểu như thế là chưa ổn. Thứ nhất, nó quá thiên về một tiêu chí không cơ bản: bằng cấp, chứng chỉ. Nó phản ánh tư duy rất cổ, đã ám ảnh mọi người dân Việt Nam từ ngàn xưa, về trọng bằng cấp.

Căn bệnh quá trọng bằng cấp, chính sách nhân sự trọng bằng cấp đã gây ra bao tai hoạ cho sự phát triển của đất nước, đã tạo ra nạn “bằng giả”, “học giả bằng thật mà hoá ra bằng giả”, “tiến sĩ giấy”, và bao tiêu cực trong hệ thống giáo dục đào tạo mà xã hội từng lên án gay gắt. Rất tiếc, những người quan niệm như vậy vẫn chưa thoát khỏi căn bệnh thâm căn cố đế này.

Theo tôi, trí thức là người truyền bá tư tưởng, ý tưởng. Ý tưởng đó có thể là của chính họ (khi đó họ là các nhà tư tưởng đích thực) hay là các ý tưởng của những người khác mà họ coi là của mình (khi đó họ là những người bán ý tưởng của người khác). Họ truyền bá ý tưởng cho những người khác và muốn những người này chịu ảnh hưởng của các ý tưởng đó trong hoạt động của mình. Họ tạo dư luận.

Các ý tưởng có thể là các ý tưởng về chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, xã hội, v.v… Số các trí thức truyền bá ý tưởng, tư tưởng của riêng mình và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, của khoa học không nhiều; họ là các nhà tư tưởng, các nhà khoa học lớn. Phần đông hơn của các nhà trí thức đi truyền bá các ý tưởng của những người khác (và cũng có thể có một vài ý tưởng riêng của mình để bổ sung, minh hoạ, cải thiện các ý tưởng cũ), họ là những người mà Hayek gọi là những người “bán đồ [ý tưởng] cũ”.

Tôi thay từ “bán” bằng từ “truyền bá” để cho những người ghét từ “bán” dễ tiếp thu hơn. Nhưng vì không ai có thể biết mọi thứ, có nhiều loại ý tưởng mà một cá nhân chỉ có thể am hiểu hay có đóng góp đích thực cho một vài lĩnh vực mà thôi, nên tuyệt đại bộ phận các trí thức đều là người “bán đồ cũ”. Ngay cả những người lỗi lạc nhất khi truyền bá tư tưởng mà mình chấp nhận và nằm ngoài lĩnh vực sáng tạo của chính mình cũng là những người “bán đồ cũ”.

Hiểu theo cách này, trí thức chẳng hề gắn với bằng cấp nào cả. Vậy thì một số nhà lãnh đạo, nhà văn hoá không có điều kiện học hành để có bằng cấp, nhưng vẫn trở thành những vĩ nhân thì có là trí thức hay không? Theo cách hiểu này họ là trí thức, là các trí thức lớn. Còn hiểu theo quan niệm bằng cấp thì họ không là trí thức, vì họ chẳng có “bằng cấp” nào cả hay không được đào tạo theo các trường lớp “chính quy” nào cả. Thoát được căn bệnh “bằng cấp” kinh niên. Nó cũng không có sự phân biệt trong nước và ngoài nước, không phụ thuộc vào thời gian, vào hệ thống đào tạo.

Đấy là mấy ưu điểm của cách hiểu này mà cách hiểu của Đề án không thể có được. Hiểu theo cách này trí thức chắc chắn là người lao động trí óc, song không phải cứ lao động trí óc ắt là trí thức. Một kế toán viên cao cấp và chỉ đơn thuần làm đủ phận sự chuyên môn của mình là một người lao động trí óc, song không là trí thức; nhưng nếu anh hay chị ta dạy, hướng dẫn cho những người khác hay tranh luận về những ý tưởng kế toán, thì anh hay chị ta là trí thức.

Như thế các nhà giáo, các nhà văn, nhà báo, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị và một số nhà kỹ thuật, v.v… là những trí thức phù hợp với cách hiểu thông thường. Cho đến đây chúng ta vẫn chưa đưa ra phán xét giá trị (tốt-xấu; tiến bộ-phản động; v.v…) nào đối với khái niệm trí thức cả. Vì không gắn phán xét giá trị với khái niệm nên nó đủ rộng để phân tích (không chỉ bó hẹp ở những người “ưu tú”, “tiến bộ” hay “yêu chủ nghĩa xã hội” như có người kiến nghị).

Dân chủ, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, khuyến khích tranh luận, sự khoan dung, sự chấp nhận những ý kiến khác nhau là những điều kiện tiên quyết để phát triển tầng lớp trí thức mạnh nhằm góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Thực hiện tốt những điều này trên thực tế, chứ không chỉ trên lời nói, thì sẽ có “hiền tài” và quốc gia sẽ có “nguyên khí”, sẽ có “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng và văn minh”; ngược lại thì sẽ chỉ có những “trí thức” không góp được mấy (nếu không nói là làm hại) cho sự phát triển của đất nước và dân sẽ không giàu, nước không mạnh, xã hội không văn minh, công bằng.
SOURCE:  Lao động cuối tuần

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Luan_ban_ve_tri_thuc/

PHẢI THẬT SỰ CHẤP NHẬN PHẢN BIỆN

image GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN

Nâng “guồng máy cái” đào tạo trí thức

Để nghị quyết thiết thực đi vào cuộc sống, trước tiên việc đánh giá nguồn lực này là đóng góp một cách khách quan và trung thực là một yêu cầu bức thiết. Việc đánh giá phải dựa trên một thang giá trị cụ thể. Ngày trước, ông cha ta sắp đặt thang giá trị “sĩ, nông, công, thương” nhưng xã hội thời ấy đã bổ sung “Nhất sĩ, nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông, nhì sĩ”. Thang giá trị trong xã hội của chúng ta hiện nay “theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì và đang chuyển biến ra sao trong thời buổi hội nhập, đó là điều mà xã hội mong đợi ở Trung ương.

Nguồn nhân lực của chúng ta đang được đào tạo thế nào với một Luật Giáo dục (2005) rất “khung” cho tất cả các cấp đào tạo, trong đó rất nhiều điều khoản được triển khai theo “quy định của bộ trưởng” hoặc “do bộ trưởng quy định”? Ngành giáo dục đã và đang tiến hành khá nhiều cải cách, từ chữ viết, sách giáo khoa đến phân ban và các hình thức thi cử. Tất cả các việc làm đó đã mang lại hiệu quả như thế nào, thiết nghĩ cũng cần được đánh giá vì lĩnh vực trí tuệ đòi hỏi kiến thức thật.

Trong Quốc hội khóa XI, việc du học đại học ở nước ngoài ngày càng nhiều đã được nhiều đại biểu Quốc hội nêu lên nhằm cảnh báo về sự mất lòng tin của không ít người đối với nền đại học nước nhà. Tình hình trên hiện nay đã phát triển sang các cấp trung học và tiểu học, chưa kể phương thức “du học ngay trong nước” ở các cấp này. Du học để tiếp thu cái hay, cái chưa có ở trong nước rất khác với đi vì thiếu niềm tin vào nền giáo dục nước nhà. Nghị quyết cần phân tích thực trạng này và sớm nâng cao chất lượng của ngành giáo dục, guồng máy cái đào tạo những người trí thức tương lai.

Tình trạng chảy máu chất xám trong bộ máy nhà nước, trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng lãng phí chất xám có và có đáng lo hay không hay ở mức độ bình thường như ở các quốc gia khác? Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, với mức lương và với chính sách sử dụng cán bộ hiện nay, việc giữ được và bổ sung thêm những người có năng lực, ưu tú trong bộ máy của hệ thống chính trị cần được Trung ương đánh giá.

Đảng đã có hai nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào năm 1994 và 2004. Việc thực hiện chính sách và phát huy nguồn lực này đã làm được đến đâu, với tốc độ ra sao?

Chịu nghe những điều không thuận tai

Thực tế, xây dựng chính sách và quản lý nhà nước trong thời gian qua chỉ ra rằng cách tiếp cận bao cấp bắt đầu từ định nghĩa đối tượng – chi li nhất có thể được. Sau đó, đưa ra các chính sách đãi ngộ mà không quan tâm đúng mức đến đóng góp cho xã hội của đối tượng đó. Do đó, nghị quyết cần đổi mới cách tiếp cận, có chú ý “đầu vào” nhưng “đầu ra” mới quan trọng.

Nhiều bài viết đã nói rằng người trí thức tự trọng không muốn có một sự đãi ngộ nào đặc biệt ngoài đồng lương cho phép họ yên tâm nuôi gia đình và làm việc. Ngoài một điều kiện làm việc tránh cho họ cái cảnh phải “khuấy nước nên hồ” và một môi trường làm việc trung thực, cho phép họ sáng tạo và được đánh giá kết quả lao động công bằng. Nhiều địa phương đã có chính sách “trải thảm đỏ” để mời trí thức về địa phương làm việc nhưng kết quả không cao vì nhiều người vẫn e dè, thậm chí có người về rồi lại ra đi. Tại sao? Phải chăng bên cạnh việc chấp hành mệnh lệnh quyền uy, người trí thức còn cần được thuyết phục bằng lý lẽ, bằng sự tin cậy?

Chủ trương của Đảng là “phát huy quyền và trách nhiệm của trí thức trong tham mưu, thẩm định, phản biện các chủ trương, đường lối, chính sách, các dự án…”. Làm sao để thực hiện chủ trương đúng đắn này? Có ý kiến cho rằng cần một môi trường dân chủ, nghĩa là chí ít người được phản biện, góp ý, phải chịu nghe những điều không thuận tai; phải giải tỏa các âu lo “thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt” bằng hành động cụ thể. Mong rằng nghị quyết sẽ khẳng định Đảng, với phương thức lãnh đạo đổi mới, xem việc có nhiều ý kiến để xây dựng đất nước là một điều quý giá và hạnh phúc cho dân tộc.

Có đánh giá cho rằng “một bộ phận không nhỏ trí thức hám danh, hám lợi, hám quyền, hám chức”. Có hay không? Và tại sao có thể xảy ra được tình trạng này khi tuyệt đại bộ phận đội ngũ trí thức hiện nay đã trưởng thành trong chế độ ta, đã được đào tạo, tuyển chọn, cơ cấu, cất nhắc; cộng đồng trí thức không thể tự phong hay tự ban cho mình danh, lợi, quyền và chức? Tại sao có tình trạng “mất đoàn kết, thiếu tinh thần hợp tác, thậm chí cơ hội ở một mức độ nhất định”? Nguyên nhân nào là chủ quan, nguyên nhân nào từ cơ chế, chính sách sử dụng cán bộ, từ thang giá trị đã được áp dụng để đánh giá?
Chú trọng tính thực thi của chủ trương

Người trí thức sống không chỉ trong môi trường trí thức mà còn trong lòng xã hội. Vì vậy, chính sách đối với trí thức là phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ xã hội. Thông thường khi đề ra các chính sách đối với một đối tượng, chúng ta xét riêng đối tượng đó và đề ra rất nhiều biện pháp, chính sách hết sức thuận lợi để vận động. Nhưng sẽ còn lại bao nhiêu là khả thi và được thực thi khi vấn đề trí thức được xem xét trong mối quan hệ tổng thể, không tách biệt? Một số không ít chính sách sẽ “nằm trên giấy” mà đến khi kiểm điểm không biết trách nhiệm đó quy về cho ai ngoài… “cơ chế”!

“Ôm nhiều thì siết không chặt”. Tôi xin kiến nghị với Trung ương xem và phân tích sâu các nguyên nhân và có kế hoạch khắc phục cụ thể, có địa chỉ, nhiệm vụ và giải pháp hàng đầu để phát huy nguồn lực tri thức của đất nước, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những điểm mấu chốt, tính khả thi và thực thi.

Người ta vẫn nói rằng “Nhìn thấy được nguyên nhân là đã giải quyết được phân nửa vấn đề”. Nếu các nguyên nhân của những thành tựu và nhất là của những thiếu sót, yếu kém được Trung ương phân tích thẳng thắn, sâu sắc, có địa chỉ thì nghị quyết chắc chắn sẽ sớm đi vào cuộc sống, sẽ ít đi “khoảng cách giữa nói và làm” và sẽ không còn nghe lặp lại khi kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết rằng “chủ trương, chính sách đúng nhưng việc thực hiện còn nhiều yếu kém”.

TRÍCH DẪN TƯ: http://www.phapluattp.vn/news/can-canh/view.aspx?news_id=221049