CÔNG VĂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 77/2003/KHXX

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2003

CÔNG VĂN

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÔNG BÁO VIỆC TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN NÊU TẠI ĐIỂM B MỤC 1 PHẦN II CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 01 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà phúc thẩm, Toà dân sự toà án nhân dân tối cao

Ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” (gọi tắt là Nghị quyết số 01). Theo hướng dẫn tại điểm b mục 1 Phần II của Nghị quyết số 01 đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

– Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý;

– Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2008/TT-BTP HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định khá chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các sự kiện hộ tịch trên tinh thần không ban hành Thông tư hướng dẫn.

Tuy nhiên, do Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp đăng ký một số sự kiện hộ tịch (mà theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch là thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nên khi tiếp nhận nhiều công việc mới, các địa phương đã gặp không ít vướng mắc. Để hướng dẫn rõ hơn các quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, ngày 02/6/2008 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BTP Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 61/2002/KHXX NGÀY 20 THÁNG 5 NĂM 2002 VỀ VIỆC CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 129/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 129/2002/KHXX NGÀY 27 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC TRAO ĐỔI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Kính gửi: Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

Sau khi nghiên cứu Công văn số 140/CV.TA năm 2002 của Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Ngoài một số nguồn nguy hiểm cao độ đã liệt kê, khoản 1 Điều 627 Bộ luật dân sự còn quy định “… các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”, quy định này được hiểu là khi pháp luật có quy định về các nguồn nguy hiểm cao độ khác ngoài các nguồn đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 627 thì mới được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, ngoài các quy định tại khoản 1 Điều 627 nêu trên, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định thêm về vấn đề này. Đối với các loại thuốc tân dược xét về bản chất, thành phần và công dụng, thuốc tân dược được dùng để điều trị bệnh nên không được coi là nguồn nguy hiểm cao độ theo tinh thần của Điều 627 Bộ luật dân sự.

2. Về trường hợp của bà Trần Thị Diên Hồng. Theo nội dung Công văn của quý Toà thì sau khi có kết luận của Tổ chức giám định pháp y trung ương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định đình chỉ vụ án hình sự đối với y sĩ Trần Thị Diên Hồng. Nay gia đình nạn nhân khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại; do đó, khi thụ lý để giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về dân sự của gia đình nạn nhân Mai Thị Kim Anh, Toà án cần lưu ý như sau:

Theo tinh thần quy định tại Điều 53 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30-6-1989, thì thầy thuốc vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh… nếu gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Cũng theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự thì người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng của người khác thì phải bồi thường. Như vậy, Toà án cần xác định và có kết luận y sĩ Trần Thị Diên Hồng có vi phạm các quy định về khám, chữa bệnh hay không, có được phép và có đủ năng lực để tiến hành nạo thai cho phụ nữ hay không, tai nạn xảy ra là tai nạn điều trị do sự kiện bất khả kháng hay do lỗi nghề nghiệp? Nếu có căn cứ xác định bà Trần Thị Diên Hồng không vi phạm, không có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng không phải bồi thường. Nếu xác định được bà Trần Thị Diên Hồng có vi phạm, có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, do bà Trần Thị Diên Hồng là công chức nhà nước cho nên cần làm rõ việc bà Hồng gây thiệt hại có phải trong khi thi hành công vụ hay không? Nếu bà Hồng gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ thì theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự, cơ quan nhà nước (trong trường hợp này là Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) phải bồi thường thiệt hại do công chức của mình gây ra. Việc bồi thường thiệt hại được giải quyết theo quy định tại Chương V Phần thứ ba Bộ luật dân sự và Nghị định số 47/CP ngày 3-5-1997 của Chính phủ “về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”. Nếu Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi phải bồi thường cho người bị thiệt hại thì sau khi thực hiện việc bồi thường thiệt hại xong phải có trách nhiệm yêu cầu bà Trần Thị Diên Hồng hoàn trả khoản tiền mà Trung tâm đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến trao đổi của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà nghiên cứu áp dụng, giải quyết tốt các vấn đề nghiệp vụ.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 131/2002/KHXX CỦA TANDTC VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 131/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 131/2002/KHXX NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Sau khi nghiên cứu Công văn số 65/DS ngày 14-5-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1 Điều 14 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ở Việt Nam giải quyết. Theo nội dung Công văn của quý Toà, thì chị Nguyễn Thị Hồng Diễm trước khi xuất cảnh sang Pháp định cư đã cư trú ở Bình Định; do đó, trong trường hợp này Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án xin thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Hạnh và chị Diễm là Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nơi cư trú cuối cùng của chị Diễm ở Việt Nam.

Bởi vậy, nếu quý Toà chưa thụ lý vụ án về việc anh Võ Duy Hạnh yêu cáu thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn thì quý Toà cần giải thích, hướng dẫn cho anh Hạnh nộp đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; nếu quý Toà đã thụ lý vụ án, thì căn cứ vào quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quý Toà cần chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền và thông báo cho anh Hạnh biết.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 112/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỤ LÝ VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi :

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp cụ thể. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 2337/CV-VKSTC ngày 12 tháng 9 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

1. Khi giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thời điểm thụ lý vụ án được xác định là trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết có xem xét, tham khảo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề mà Toà án đang giải quyết như hướng dẫn tại điểm c mục 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QHl0 ngày 9/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình".

a. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001 mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử sơ thẩm;

b. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm;

c Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

d. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị huỷ để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại.

2. Trong trường hợp khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án về hôn nhân và gia đình mà Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ toàn bộ các bản án hoặc quyết định về vụ án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền (có thể chính Toà án đã giải quyết sơ thẩm vụ án đó; có thể là Toà án khác cùng cấp; có thể là Toà án trên một cấp hoặc dưới một cấp) giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung, thì thời điểm thụ lý vụ án là ngày Toà án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm lại nhận được hồ sơ vụ án. Nếu từ ngày 01/01/2001 trở đi mới thụ lý, thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

3. Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình", thì trong mọi trường hợp đều áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn sửa đổi hoặc bổ sung.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)