THÔNG TƯ SỐ 10/2009/TT-BCT NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2009 VỀ THỰC HIỆN QUY TẮC XUẤT XỨ TRONG HIỆP ĐỊNH GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ ĐỐI TÁC KINH TẾ

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế, ký ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản;
Căn cứ Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;

Bộ Công Thương quy định việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1. Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế là hiệp định được ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản (trong thông tư này gọi tắt là Hiệp định VJEPA).

2. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Mẫu VJ (trong thông tư này gọi tắt là C/O) là C/O do Tổ chức cấp C/O cấp cho hàng hoá xuất khẩu thoả mãn các quy định nêu tại thông tư này.

3. Tổ chức cấp C/O Mẫu VJ của Việt Nam (trong thông tư này gọi tắt là Tổ chức cấp C/O) là các tổ chức được quy định tại Phụ lục 12.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 50/2009/TT – BTC NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán như sau
:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về nguyên tắc, thủ tục tổ chức giao dịch điện tử trong hoạt động giao dịch chứng khoán trực tuyến, hoạt động trao đổi thông tin điện tử liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

2. Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh bao gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK), tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian khác lựa chọn giao dịch trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán bằng phương tiện điện tử.

3. Giải thích từ ngữ

3.1. Giao dịch điện tử trong lĩnh vực chứng khoán là các giao dịch trong hoạt động, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện bằng phương tiện điện tử, bao gồm: hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN BAN HÀNH 11 THÁNG 01 NĂM 1994, CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 13/01/1994

(Bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003; bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

Continue reading

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM

I. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM

1. Khái quát chung

Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, điều này được thể hiện trong tất cả nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các kỳ Đại hội. Quan điểm nhất quán này được khẳng định cụ thể trong Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Bảo đảm an toàn thực phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân, nên cũng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành động cụ thể: Thành lập Cục quản lý chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm (tiền thân của Cục ATVSTP ngày nay) năm 1999. Ngay trong năm này, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 08 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm CLVSATTP; năm 2000 đã phê duyệt chương trình bảo đảm VSATTP là một trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia của Bộ Y tế; năm 2003 đã ban hành Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm ; năm 2004 ban hành Nghị định số 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh VSATTP; năm 2006 phê duyệt chương trình hành động bảo đảm VSATTP giai đoạn 2006-2010 theo hướng trở thành chương trình mục tiêu quốc gia độc lập; năm 2007, phê duyệt 6 dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm VSATTP giai đoạn đến 2010 với tổng kinh phí khoảng 1300 tỷ đồng. Năm 2008, ban hành Nghị định số 79/2008/NĐ-CP về hệ thống tổ chức quản lý và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác bảo đảm VSATTP; đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác bảo đảm VSATTP vào tháng 01/2007 và lần 2 vào tháng 3/2008; ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; chỉ đạo các bộ ngành liên quan đề xuất xây dựng dự án luật an toàn thực phẩm để trình Quốc hội vào năm 2009. Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành hàng loạt các Quyết định, Thông tư, Thông tư liên tịch … để hướng dẫn chi tiết thi hành các nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ cho lĩnh vực quản lý mới, đặc biệt quan trọng này.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 07/2009/QĐ-TTg NGÀY 15 THÁNG 1 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC THÀNH LẬP, ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG, SÁP NHẬP, CHIA, TÁCH, GIẢI THỂ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học.

2. Văn bản này áp dụng đối với các đại học, trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học), các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập trường đại học.

3. Thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học có sự đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài được áp dụng theo quy định tại văn bản này.

4. Việc thành lập các trường đại học trên cơ sở nâng cấp các trường cao đẳng đang hoạt động cũng được thực hiện theo các quy định tại văn bản này.

Điều 2. Điều kiện thành lập trường đại học

Việc thành lập trường đại học phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Phù hợp với Quy hoạch mạng lưới các trường đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2007.

2. Có Dự án thành lập trường đại học, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung, chương trình, ngành nghề, quy mô đào tạo, cơ cấu tổ chức, quản lý, quy hoạch đất đai, nguồn vốn xây dựng trường, kế hoạch và lộ trình đầu tư phát triển, bảo đảm phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và địa phương.

3. Việc thành lập các trường đại học phải được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi đặt trụ sở chính của trường cho ý kiến chấp thuận bằng văn bản và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án đầu tư thành lập trường đại học tư thục.

4. Có đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, phù hợp với ngành nghề đào tạo, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và trình độ đào tạo, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục; đáp ứng yêu cầu theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo: không quá 10 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo năng khiếu; 15 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học kỹ thuật và công nghệ; 25 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế – quản trị kinh doanh.

5. Có tổng diện tích đất xây dựng trường không ít hơn 5 ha; thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25 m2/1 sinh viên tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo cao nhất trong kế hoạch đào tạo giai đoạn 10 năm đầu sau khi thành lập; có cơ sở vật chất, thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường.

Continue reading

NHỮNG QUI ĐỊNH MỚI TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC QUỐC HỘI BAN HÀNH NGÀY 12/6/2008

VTCA

Về đối tượng nộp thuế TNDN. – Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 thì các đối tượng là cá nhân và hộ gia đình sẽ chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009. Vì vậy, đối tượng nộp thuế TNDN theo Luật mới chỉ còn bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh, có thu nhập.

2. Về thu nhập chịu thuế:
Luật hiện hành quy định thu nhập chịu thuế là phù hợp với thực tiễn tại thời điểm ban hành nhưng trước diễn biến thực tế của đời sống xã hội thì một số quy định không còn phù hợp, cần phải sửa đổi như sau:
– Về thu nhập chịu thuế từ thu nhập chuyển quyền sử dụng đất chuyển quyền thuê đất: Hiện nay Luật quy định thu nhập chịu thuế từ thu nhập chuyển quyền sử dụng đất ngoài việc nộp thuế theo thuế suất 25% còn phải nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần từ 0% đến 25% theo tỷ suất thu nhập còn lại trên chi phí. Là do: trước đây, các doanh nghiệp được giao đất để kinh doanh nhà, cơ sở hạ tầng theo giá thấp nhưng giá bán nhà, cơ sở hạ tầng cùng với việc chuyển quyền sử dụng đất theo giá thị trường nên có lợi nhuận siêu ngạch , việc nộp thuế như vậy là hợp lý. Nhưng từ năm 2005, khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực, các trường hợp được giao đất để kinh doanh bất động sản phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án, nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo giá đất sát giá thị trường, đồng thời nghiêm cấm việc phân lô, bán nền, chuyển nhượng đất thô để xây nhà ở nên doanh nghiệp không còn lợi nhuận siêu ngạch từ chuyển quyền sử dụng đất. Mặt khác, hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm cả việc bán nhà, tài sản gắn với việc chuyển quyền sử dụng đất nên khó có thể xác định riêng thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất với thu nhập từ bán tài sản trên đất.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 109/2008/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 2008 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VỀ BÁN, GIAO DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập và bán đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập.

Điều 2. Đối tượng và điều kiện áp dụng

1. Bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập không phụ thuộc vào quy mô vốn nhà nước trong các trường hợp sau:

a) Thuộc diện bán doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đề án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp 100% vốn nhà nước;

b) Thuộc diện cổ phần hóa trong Đề án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhưng không thực hiện cổ phần hóa được.

2. Bán đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, áp dụng đối với các đơn vị hạch toán phụ thuộc của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc các trường hợp sau:

a) Thuộc diện bán bộ phận doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đề án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động và khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bộ phận doanh nghiệp còn lại; Continue reading

NGHỊ ĐỊNH Số: 114/2008/NĐ-CP NGÀY 03/11/2008 HƯỚNG DẪN CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM, CHỨNG KHOÁN VÀ TÀI CHÍNH KHÁC

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về:

a) Danh mục doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác được áp dụng các quy định về phá sản của Nghị định này.

b) Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.

Các vấn đề khác liên quan đến việc phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác thực hiện theo quy định của Luật Phá sản và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm:

a) Các doanh nghiệp được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và thuộc danh mục quy định tại Điều 2 Nghị định này.

b) Các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Chinhphu.vn – Bộ Công Thương vừa có Thông tư hướng dẫn về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử. Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho thương nhân và khách hàng khi tham gia giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam.

Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

Thông tư đưa ra những quy định cơ bản của một hợp đồng thương mại điện tử; những điều khoản liên quan đến việc đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân, đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng và những quy định để đề nghị giao kết trở thành một hợp đồng thương mại điện tử, cũng như những quy định về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Để đảm bảo quyền lợi cho các khách hàng khi tham gia các website thương mại điện tử, bắt buộc các thương nhân phải công bố các điều khoản mua bán trên website của mình để khách hàng có thể xác định chính xác các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ trước khi đưa ra quyết định đặt mua.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 176/KHXX NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2006 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THI HÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******

Số: 176/KHXX
V/v: Triển khai thực hiện các Nghị định
của Chính phủ về thi hành Luật thương mại

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2006

Kính gửi : Các tòa án nhân dân và tòa án quân sự các cấp

Để thi hành Luật thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006  “Quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài” (sau đây viết tắt là Nghị định số 12) và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 “Quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện” (sau đây viết tắt là Nghị định số 59). Nghị định số 59 thay thế Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03/3/1999 “Về hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; hàng hóa dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện”.

Để nhận thức đúng và thực hiện thống nhất một số quy định trong Nghị định số 12 và Nghị định số 59, ngày 13/9/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức cuộc họp gồm đại diện của các cơ quan: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Thương mại, Văn phòng Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương 127/TW. Qua thảo luận, trao đổi, tất cả các đại biểu tham dự cuộc họp đều thống nhất các vấn đề cần được hướng dẫn và đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 12 và Nghị định số 59 của Chính phủ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự một số tội phạm.

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

LUẬT MẪU

VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Phòng Xây dựng Quy định

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trung tâm William Rappard

Rue de Lausanne 154

CH-1211 Geneva 21

Thuỵ sĩ

Mục lục

PHẦN I: CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC

Điều 1- Các định nghĩa

Điều 2 – Các nguyên tắc

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 81/2002/TANDTC NGÀY 10 THÁNG 6 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI ĐÁP CÁC VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ TRONG GIẢI QUYẾT HÌNH SỰ, DÂN SỰ, HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VÀ LAO ĐỘNG

Kính gửi: – Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp
– Các đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao

Trong thời gian chuẩn bị Hội nghị và tại Hội nghị triển khai công tác ngành Toà án năm 2002 và tập huấn nghiệp vụ (từ ngày 28 đến ngày 30-12-2001) cũng như trong thời gian vừa qua nhiều Toà án nhân dân địa phưng và Toà án quân sự các cấp đề nghị Toà án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

(Trích phần dân sự, hôn nhân – gia đình, tố tụng dân sự, hành chính và lao động)

II. Về dân sự

1. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 627 Bộ luật dân sự được xác định như thế nào?

a. khoản 2 Điều 627 Bộ luật dân sự quy định về chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trước đây Toà án nhân dân tối cao tạm hướng dẫn là: “Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, hoặc giao cho người khác sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hoặc người sử dụng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” (Xem Cuốn giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1999; trang 111). Nay Toà án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau:

Continue reading

Một số nội dung cơ bản của LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

NGUYỄN VĂN QUYNH

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (số 05/2007/QH12), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Trước khi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá nêu trên được ban hành, nước ta đã từng tồn tại một hệ thống căc văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ quy định về vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá, bao gồm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (ban hành năm 1999) và các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan ban hành để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về chất lượng chưa thống nhất và đồng bộ, đang ngày tỏ ra bất cập với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong tình hình mới.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được ban hành là bước quan trọng góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hướng vào mục tiêu nâng cao chất lượng của sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập; đổi mới vai trò điều tiết của Nhà nước kết hợp linh hoạt với điều tiết của thị trường nhằm định hướng và bảo đảm cho hoạt động chất lượng có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, giúp các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật trên cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu, đồng thời, bảo vệ được lợi ích quốc gia và người tiêu dùng trong nước thông qua các biện pháp kiểm soát chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; đổi mới cơ chế quản lý chất lượng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý kinh tế cũng như các tập quán quốc tế trong lĩnh vực chất lượng; bảo đảm tối đa quyền lợi người tiêu dùng thông qua cơ chế kiểm soát chất lượng chặt chẽ, toàn diện, kể cả các biện pháp mạnh từ phía Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng. Việc ban hành Luật này cũng nhằm tạo sự đồng bộ với hệ thống các quy định của Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội khoá X ban hành năm 2006 (Luật số 68/2006/QH11).

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA

NGUYỄN VĂN QUYNH

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (số 05/2007/QH12), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.

Trước khi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá nêu trên được ban hành, nước ta đã từng tồn tại một hệ thống căc văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ quy định về vấn đề chất lượng sản phẩm, hàng hoá, bao gồm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (ban hành năm 1999) và các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan ban hành để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về chất lượng chưa thống nhất và đồng bộ, đang ngày tỏ ra bất cập với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong tình hình mới.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được ban hành là bước quan trọng góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hướng vào mục tiêu nâng cao chất lượng của sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập; đổi mới vai trò điều tiết của Nhà nước kết hợp linh hoạt với điều tiết của thị trường nhằm định hướng và bảo đảm cho hoạt động chất lượng có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, giúp các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật trên cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu, đồng thời, bảo vệ được lợi ích quốc gia và người tiêu dùng trong nước thông qua các biện pháp kiểm soát chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; đổi mới cơ chế quản lý chất lượng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý kinh tế cũng như các tập quán quốc tế trong lĩnh vực chất lượng; bảo đảm tối đa quyền lợi người tiêu dùng thông qua cơ chế kiểm soát chất lượng chặt chẽ, toàn diện, kể cả các biện pháp mạnh từ phía Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng. Việc ban hành Luật này cũng nhằm tạo sự đồng bộ với hệ thống các quy định của Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội khoá X ban hành năm 2006 (Luật số 68/2006/QH11).

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 55/2008/ND-CP NGÀY 24/4/2008 QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

CHÍNH PHỦ
——-
Số: 55/2008/NĐ-CP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————–
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2008

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27 tháng 04 năm 1999;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng; và quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 122/KHXX CỦA TANDTC HƯỚNG DẪN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI MẮC NỢ; VIỆC HOÀN TRẢ LẠI TÀI SẢN CHO NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 36 LUẬT PHÁ SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 122/KHXX

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——-
Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2007

CÔNG VĂN

HƯỚNG DẪN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI MẮC NỢ; VIỆC HOÀN TRẢ LẠI TÀI SẢN CHO NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 36 LUẬT PHÁ SẢN

1. Về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người mắc nợ

Khi Tòa án giải quyết việc phá sản, nếu chủ nơ, người mắc nợ có khiếu nại, Viện kiểm sát có kháng nghị về danh sách chủ nợ, về danh sách người mắc nợ, về quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, mà Tòa án đã giải quyết theo đúng  quy định của pháp luật về phá sản, thì Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản có hiệu lực pháp luật.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ TỰ VỆ CỦA WTO

HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ

Các Thành viên,

Ghi nhớ rằng mục đích chung của các Thành viên là thúc đẩy và tăng cường hệ thống thương mại quốc tế dựa trên GATT 1994;

Thừa nhận sự cần thiết phải làm rõ và củng cố các  nguyên tắc của GATT 1994, và đặc biệt là các  quy định tại  Điều 19 (Hành động khẩn cấp về nhập khẩu một số sản phẩm đặc biệt), nhằm thiết lập lại sự giám sát đa phương trên cơ sở các biện pháp tự vệ và triệt tiêu các biện pháp nhằm né tránh sự giám sát này;

Thừa nhận tầm quan trọng của việc điều chỉnh cơ cấu và sự cần thiết phải tăng cường chứ không phải làhạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế; và

Thừa nhận hơn nữa, nhằm thực hiện những mục đích này,  về một hiệp định  toàn diện, áp dụng cho tất cả các Thành viên và dựa trên những nguyên tắc cơ bản của GATT 1994,

Bằng Hiệp định này, thoả thuận như sau:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG PHÁ GIÁ CỦA WTO

Hiệp định thực thi Điều VI của

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994

Các Nước Thành viên dưới đây thoả thuận như sau:

Phần I

Điều 1

Các nguyên tắc

Một biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong hoàn cảnh được qui định tại Điều VI của GATT 1994 và phải tiếp nhận việc điều tra được bắt đầu[1] và tiến hành theo đúng các qui định của Hiệp định này. Các qui định sau đây điều tiết việc áp dụng Điều VI của GATT 1994 khi có một hành động được thực thi theo luật hoặc các qui định về chống bán phá giá.

Điều 2

Xác định việc bán phá giá

2.1 Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG MALAYSIA NĂM 1999

Luật ban hành nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng, thành lập Hội đồng tư vấn người tiêu dùng quốc gia và Thiết chế giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng và các vấn đề liên quan. Luật được ban hành bởi Quốc hội Malaysia như sau:

PHẦN I : QUY ĐỊNH CHUNG

1. Tiêu đề và chú thích

2. Phạm vi áp dụng

3. Giải thích

4. Nguyên tắc áp dụng luật

5. Bảo đảm các quy định liên quan

6. Không được rút khỏi hợp đồng

7. Chỉ định thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan giám sát Continue reading