NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN

(Nghị định thư VISBY 1968)

Các bên ký kết.

Xét thấy cần phải sửa đổi bổ sung cho Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn, ký tại Brussels ngày 25-08-1924.

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1.

Trong Điều 3. Mục 4, thêm:

“Tuy nhiên, khi vận đơn đã được chuyển sang bên thứ ba hành động với thiện ý thì chứng minh ngược lại sẽ không được thừa nhận”.

2. Trong Điều 3, mục 6, Tiểu mục 4 xóa bỏ và được thay bằng:

“Trừ quy định tại mục 6 bis, người chuyên chở và tàu, trong bất cứ trường hợp nào cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm đối với hàng hóa, trừ khi việc kiện cáo được đưa ra trong vòng một năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày đáng lẽ hàng được giao. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn này sau khi nguyên nhân kiện cáo phát sinh”.

3. Trong Điều 3, sau mục 6, thêm mục 6 bis như sau: “Việc kiện tụng đòi một người thứ ba bồi thường có thể đưa ra ngay cả khi hết thời hạn một năm quy định trong mục trên nếu việc đó được đưa ra trong thời gian được luật của Tòa án thụ lý vụ việc cho phép. Tuy nhiên, thời gian cho phép không ít hơn 3 tháng kể từ ngày người đứng ra kiện tụng đòi bồi thường đã thanh toán khiếu nại hoặc đã nhận được đơn kiện mình”. Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ GIỮA CÁC QUỐC GIA VÀ CÁC CÔNG DÂN QUỐC GIA KHÁC

Ðiều 1: Ðịnh nghĩa

(1) "Công ước" có nghĩa là Công ước về Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia khác được chuyển đến các chính phủ bởi Ban Giám đốc điều hành của Ngân hàng quốc tế về xây dựng lại phát triển ngày 18-3-1965 và có hiệu lực từ ngày 14-10-1965.

(2) "Trung tâm" có nghĩa là Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư được thành lập theo Ðiều 1 của Công ước.

(3) "Ban Thư ký" có nghĩa là Ban Thư ký của Trung tâm.

(4) "Quốc gia thành viên" là Quốc gia mà Công ước có hiệu lực áp dụng.

(5) "Tổng Thư ký" có nghĩa là Tổng Thư ký hoặc Phó Tổng Thư ký của Trung tâm.

(6) "Công dân của quốc gia khác" nghĩa là người không phải là công dân của quốc gia là một bên tranh chấp hoặc là người mà các bên tranh chấp thỏa thuận không coi là công dân của quốc gia là một bên tranh chấp.

Ðiều 2: Cơ chế bổ trợ

Ban thư ký của Trung tâm được ủy quyền quản lý theo các quy định của các quy tắc này các tiến trình tố tụng (xét xử) giữa một quốc gia (hoặc cơ quan, tổ chức địa diện của quốc gia) và công dân của quốc gia khác, thuộc các trường hợp sau đây:

(a) Các tiến trình tố tụng hòa giải và trọng tài giải quyết các tranh chấp mang tính pháp lý phát sinh trực tiếp từ việc đầu tư mà nó không thuộc thẩm quyền của Trung tâm bởi lý do một trong các bên tranh chấp không phải là quốc gia thành viên của Công ước;

Continue reading

VĂN KIỆN CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ NGƯỜI BIỂU DIỄN, NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, TỔ CHỨC PHÁT SÓNG

Làm tại Rome ngày 26/10/1961

Điều 1. Bảo đảm sở hữu cá nhân quyền tác giả

Sự bảo hộ theo Công ước này là thống nhất và không ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến sự bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Do vậy, không một quy định nào của Công ước này có thể được giải thích làm phương hại tới sự bảo hộ đó.

Điều 2. Sự bảo hộ theo Công ước. Định nghĩa đối xử quốc gia

1. Trong Công ước này, đối xử quốc gia được hiểu là sự đối xử theo luật quốc gia của Nước thành viên nơi có yêu cầu bảo hộ dành cho:

a) Những người biểu diễn là công dân của Nước đó, đối với các buổi biểu diễn được thực hiện, phát sóng hoặc định hình lần đầu tại lãnh thổ Nước đó;

b) Các nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của Nước đó, đối với các bản ghi âm được định hình lần đầu hay công bố lần đầu trên lãnh thổ Nước đó;

c) Tổ chức phát sóng có trụ sở tại lãnh thổ Nước đó, đối với các buổi phát sóng được truyền từ các đài phát đặt tại lãnh thổ Nước đó.

2. Đối xử quốc gia phải tuỳ thuộc vào sự bảo hộ được cấp cụ thể và các hạn chế quy định cụ thể trong Công ước này.

Điều 3. Định nghĩa: (a) Những người biểu diễn; (b) bản ghi âm; (c) nhà sản xuất bản ghi âm; (d) công bố; (e) sao chép; (f) phát sóng; (g) tái phát sóng

Trong Công ước này:

Continue reading

CÔNG ƯỚC BỔ SUNG CÔNG ƯỚC VÁCXAVA ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC LIÊN QUAN TỚI CHUYÊN CHỞ QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI MỘT NGƯỜI KHÁC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI CHUYÊN CHỞ THEO HỢP ĐỒNG.

Ký tại Guadalajara ngày 18-9-1961 (Công ước Guadalajara 1961)

Các quốc gia ký Công ước hiện tại nhận thấy rằng, Công ước Vácxava không bao gồm những quy tắc riêng liên quan tới vận chuyển quốc tế bằng đường hàng không được thực hiện bởi một người không phải là một bên thỏa thuận chuyên chở.

Cho rằng, cần đưa vào những quy tắc để áp dụng trong những trường hợp như vậy.

Thỏa thuận như sau:

Điều 1. Trong Công ước này:

a) Công ước Vácxava nghĩa là Công ước để thống nhất một số quy tắc liên quan tới chuyên chở quốc tế bằng đường hàng không ký tại Vácxava ngày 12-9-1929 hoặc Công ước Vácxava đã được sửa đổi tại Hague năm 1955, tùy thuộc vào việc vận chuyển theo hợp đồng nói tới ở đoạn b, được điều chỉnh bởi Công ước hay Công ước đã được sửa đổi.

b) Người chuyên chở theo hợp đồng nghĩa là một người về mặt nguyên tắc đã ký kết một hợp đồng chuyên chở được điều chỉnh bằng Công ước Vácxava với một hành khách hay một người gửi hàng hoặc với một người hoạt động thay mặt hành khách hay người gửi hàng.

c) Người chuyên chở thực sự nghĩa là một người không phải là người chuyên chở theo hợp đồng mà là người thực hiện một phần hay toàn bộ việc chuyên chở dự định ở đoạn b theo sự ủy thác của người chuyên chở theo hợp đồng nhưng khi chỉ thực hiện một phần thì không phải là người chuyên chở liên tục theo nghĩa của Công ước Vácxava. Sự ủy thác như vậy được coi là thiếu bằng chứng minh ngược lại.

Continue reading

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,

ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC

Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TẦU BAY

(Ký tại Geneva ngày 19.6.1948)

Xét rằng Hội nghị hàng không dân dụng quốc tế được tổ chức tại Chicago trong tháng 11 và tháng 12 năm 1944 đã khuyến nghị về việc sớm thông qua một Công ước giải quyết vấn đề chuyển nhượng quyền sở hữu tầu bay;

Xét rằng đây là sự mong muốn cao độ trong việc công nhận quốc tế các quyền đối với tầu bay vì lợi ích của sự phát triển ngành hàng không dân dụng trong tương lai;

Nhân danh Chính phủ của mình và được uỷ quyền hợp lệ, những người ký kết dưới đây đã thống nhất như sau:

Điều 1.

1. Các Quốc gia kết ước cam kết công nhận:

a. Quyền sở hữu đối với tầu bay;

b. Quyền thụ đắc tầu bay thông qua việc mua sắm gắn liền với quyền chiếm hữu tầu bay;

c. Quyền chiếm hữu tầu bay trên cơ sở hợp đồng thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên;

d. Thế chấp, cầm cố và các quyền tương tự đối với tầu bay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận như là một sự bảo đảm cho việc thanh toán một khoản nợ;

với điều kiện là các quyền nói trên

(i) Được thiết lập phù hợp với luật của quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch tại thời điểm thiết lập các quyền đó, và

(ii) Được đăng ký hợp lệ trong một sổ đăng ký công khai ở Quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch.

Continue reading

VĂN KIỆN THỎA ƯỚC MADRID VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

(Ban hành ngày 14.4.1891, được sửa đổi tại Brussel 14.12.1900, tại Washington 2.6.1911, tại La Hay 6.11.1925, tại London ngày 2.6.1934, tại Nice 15.6.1957 và tại Stockholm 14.7.1067, và thay đổi ngày 2.10.1979)

Điều 1. Thành lập Liên hiệp đặc biệt, nộp đơn đăng ký tại Văn phòng quốc tế, Xác định nước xuất xứ

1) Các nước mà Thoả ước này áp dụng thành lập Liên hiệp đặc biệt về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.

2) Công dân của tất cả các nước thành viên có thể đạt được sự bảo hộ tại các nước khác cho nhãn hiệu của mình đối với các hàng hoá và dịch vụ, đã được đăng ký tại nước xuất xứ , bằng việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đó tại Văn phòng quốc tế về Sở hữu trí tuệ ( sau đây gọi tắt là " Văn phòng quốc tế ") được quy định tại Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (sau đây gọi là " Tổ chức") thông qua sự trung gian của Cơ quan tại nước xuất xứ.

3) Nước được coi là nước xuất xứ là nước thành viên Liên hiệp đặc biệt mà người nộp đơn có cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh thực thụ và nghiêm túc , hoặc nếu không có các cơ sở đó trong phạm vi Liên hiệp đặc biệt thì nước thành viên của Liên hiệp đặc biệt mà người nộp đơn có chỗ ở cố định , hoặc nếu không có chỗ ở cố định trong phạm vi Liên hiệp đặc biệt mà là công dân của một nước thành viên của Liên hiệp, thì nước thành viên mà người nộp đơn là công dân .

Điều 2. áp dụng Điều 3 của Công ước Pari " đối xử với một số người như là công dân của nước là thành viên của Liên hiệp đặc biệt".

Continue reading

VĂN KIỆN NĂM 1991 CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG MỚI

(Thông qua ngày 2.12.1961, được sửa đổi tại Giơnevơ ngày 10.11.1972, 23.10.1978 và 19.3.1991)

Chương I. Các kháI niệm

Điều 1. Trong Văn kiện này:

Các khái niệm

(i) “Công ước này” dùng để chỉ Văn kiện hiện hành (năm 1991) của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới;

(ii) “Văn kiện năm 1961/1972” dùng để chỉ Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới ngày 2.12.1961, được sửa đổi theo Văn kiện ngày10.11.1972;

(iii) “Văn kiện năm 1978” dùng để chỉ Văn kiện ngày 23.10.1978 của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới

(iv) “ Nhà tạo giống ” dùng để chỉ:

– người tạo ra, hoặc phát hiện và cải tạo một giống cây,

– người thuê hoặc trả công cho những người nói trên để tạo ra, phát hiện và

cải tạo một giống cây, nếu luật pháp của các Bên ký kết liên quan quy định như vậy, hoặc

– người thừa kế hợp pháp của người nêu trên đây, tuỳ trường hợp.

(v) “Quyền của nhà tạo giống” dùng để chỉ quyền của nhà tạo giống được quy định trong Công ước này;

(vi) “Giống cây” dùng để chỉ một nhóm cây thuộc duy nhất một cấp phân loại thực vật thấp nhất, bất kể có đáp ứng đầy đủ hay không các điều kiện để công nhận quyền của nhà tạo giống, nhóm cây có thể:

Continue reading

VĂN KIỆN HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Ký ngày 15.4.1994

Các thành viên, Với mong muốn giảm bớt những lệch lạc và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế, lưu ý tới sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp;

Thừa nhận rằng để đạt được mục tiêu nói trên cần phải có các quy định và nguyên tắc mới liên quan đến:

a) khả năng áp dụng các nguyên tắc cơ bản của GATT 1994 và của các Thoả ước, Công ước quốc tế thích hợp về sở hữu trí tuệ;

b) việc quy định các tiêu chuẩn và nguyên tắc đầy đủ liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại;

c) việc quy định các biện pháp hữu hiệu và phù hợp nhằm thực thi các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, có tính đến sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật quốc gia;

d) việc quy định các thủ tục hữu hiệu và nhanh chóng nhằm ngăn ngừa và giải quyết đa phương các tranh chấp giữa các chính phủ; và

e) các quy định chuyển tiếp nhằm đạt được sự tham gia đầy đủ nhất vào kết quả của các cuộc đàm phán;

Thừa nhận sự cần thiết phải có một cơ cấu đa phương các nguyên tắc, quy tắc và trật tự nhằm xử  lý hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến hàng giả;

Thừa nhận rằng các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền tư hữu;

Continue reading

HIỆP ƯỚC LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

(Thông qua tại Geneva ngày 27.10.1994)

Điều 1. Thuật ngữ viết tắt

Với các mục đích của Hiệp ước này, trừ khi có tuyên bố khác một cách rõ ràng:

(i) "Cơ quan" là cơ quan được một Bên ký kết giao trách nhiệm về việc đăng ký nhãn hiệu;

(ii) "đăng ký" là đăng ký nhãn hiệu do một Cơ quan thực hiện; (iii) "đơn" là đơn đăng ký;

(iv) sự đề cập đến một "người " phải được hiểu là sự đề cập đến cả thể nhân và pháp nhân;

(v) "chủ sở hữu" là người được ghi nhận trong đăng bạ là chủ sở hữu đăng ký;

(vi) "đăng bạ nhãn hiệu" là tập hợp các dữ liệu tại một Cơ quan, bao gồm nội dung và dữ liệu liên quan đến tất cả các nhãn hiệu được đăng ký bất kể dữ liệu đó được lưu trữ trên phương tiện nào;

(vii) "Công ước Paris" là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, được ký tại Paris ngày 20 tháng 3 năm 1883, đã được sửa đổi, bổ sung;

(viii) "Bảng Phân loại Nice" là bảng phân loại theo Thỏa ước Nice về Phân loại quốc tế về Hàng hóa và Dịch vụ nhằm mục đích Đăng ký Nhãn hiệu, được ký tại Nice ngày 15 tháng 6 năm 1957, đã được sửa đổi, bổ sung;

(ix) "Bên ký kết" là bất kỳ Quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ nào là thành viên của Hiệp ước này;

(x) Sự đề cập một "tài liệu phê chuẩn" phải được hiểu là sự đề cập cả tài liệu chấp nhận và chấp thuận;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH MARAKESH THÀNH LẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI NĂM 1947

Các Bên Ký Kết Hiệp định này,

Thừa nhận rằng tất cả những mối quan hệ của họ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau,

Thừa nhận thêm rằng cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó,

Mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuận tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế,

Do đó, quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định, và khả thi hơn, bao gồm Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, kết quả của những nỗ lực tự do hoá thương mại từ trước tới nay và toàn bộ kết quả của Vòng Uruguay về Đàm phán Thương mại Đa biên,

Quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này,

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI NĂM 1958

New York, ngày 10 tháng 06 năm 1958

Điều 1.

Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.

Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.

Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý/ dù là quan hệ hợp đồng hay không. Được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.

Điều 2.

Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài. Thuật ngữ “thoả thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC NA UY VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Na Uy (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân;

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết;

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo pháp luật áp dụng tại nước đó.

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết.

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại đối tượng.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀCHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XLÔ-VA-KI-AVỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN CỦA HAI NƯỚC

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa X-lô-va-ki-a, (Sau đây gọi là các Bên ký kết),

Mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước,

Mong muốn hợp tác, trên cơ sở có đi có lại để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nhận trở lại những công dân cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia của Bên ký kết kia,

Cố gắng ngăn ngừa tình trạng di cư bất hợp pháp,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1

Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, theo yêu cầu của một Bên ký kết, Bên ký kết kia nhận trở lại công dân của mình nếu người này không hoặc không còn đáp ứng các quy định pháp luật về nhập cảnh hoặc cư trú trên lãnh thổ của nước Bên ký kết yêu cầu (sau đây gọi là "người trở về").

Điều 2

1. Phù hợp với các quy định tại Điều 1, mỗi Bên ký kết sẽ nhận trở lại, sau khi xác minh người trở về đáp ứng các điều kiện sau:

(a) Có quốc tịch của nước Bên ký kết được yêu cầu, không đồng thời có quốc tịch của nước Bên ký kết yêu cầu hoặc quốc tịch của bất kỳ nước nào khác;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN VỀ NHẬN TRỞ LẠI CÔNG DÂN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thụy Điển (sau đây gọi là “các Bên ký kết”),

Với mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hơn các quy định về di chuyển của cá nhân,

Nhận thức nhu cầu đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết,

Phù hợp với các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên,

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục đích của Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Thị thực” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và lưu trú trên lãnh thổ nước mình liên tục trong một thời gian được xác định theo luật pháp áp dụng tại nước đó;

b) “Giấy phép cư trú” là giấy phép có giá trị do cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết cấp cho một người cho phép người đó nhập cảnh và cư trú nhiều lần trên lãnh thổ nước đó. Giấy phép cư trú không phải là thị thực và không được xem là giấy phép cư trú tạm thời cấp cho người đang chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn hoặc đang chờ thủ tục trục xuất cho phép người đó được lưu trú trên lãnh thổ một Bên ký kết;

c) “Yêu cầu” là văn bản chính thức của Bên ký kết yêu cầu gửi cho Bên ký kết được yêu cầu đề nghị nhận trở lại một người;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN VỀ HỢP TÁC SONG PHƯƠNG NHẰM LOẠI TRỪ NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM VÀ GIÚP ĐỠ NẠN NHÂN BỊ BUÔN BÁN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan (dưới  đây được gọi là “hai Bên”);

Nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước và thúc đẩy hợp tác song phương để trấn áp nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em;

Nhận thức rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em là sự vi phạm thô bạo nhân quyền và chà đạp trắng trợn phẩm giá con người;

Lo ngại sâu sắc rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về thể chất, tinh thần, tình cảm, đạo đức của con người và làm phương hại đến nền tảng và các giá trị của xã hội;

Lưu ý rằng các băng nhóm và tổ chức tội phạm xuyên quốc gia đang tích cực tham gia vào việc buôn bán phụ nữ và trẻ em và loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia này không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam và Thái Lan mà còn ảnh hướng đến toàn khu vực và cộng đồng thế giới;

Khẳng định rằng hai Bên cùng quan tâm đấu tranh chống nạn buôn bán người có tính chất xuyên quốc gia như đã trình bày trong Tuyên bố Bangkok về Di cư bất hợp pháp đã được thảo luận tại Hội nghị chuyên đề quốc tế về di cư “Tiến tới hợp tác khu vực chống di cư bất hợp pháp/di cư lén lút” được tổ chức từ ngày 21 – 23/4/1999 tại Bangkok và “Hội nghị Bali về chống buôn người và vận chuyển người bất hợp pháp” tổ chức tại Bali từ ngày 26 – 28/02/2002; Bản Ghi nhớ về Hợp tác chống buôn bán người Khu vực tiểu vùng sông Mêkông ký tại Yangoon, Myanmar ngày 29/02/2004 và các hoạt động liên quan tiếp theo;

Tin tưởng rằng việc trấn áp tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em thông qua hợp tác song phương trong thực thi pháp luật và tố tụng hình sự là biện pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo công lý chống nạn buôn người; và

Cam kết rằng hai Bên sẽ hợp tác thật sự để loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, và để bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THUỘC HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN GIỮA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Chính phủ các nước Brunei Darussanlam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Indonesia, Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào, (“Lao PDR”), Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hòa Philippines, Cộng hòa Singapore, Vương quốc Thái Lan và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (“Trung Quốc”) được gọi chung là “các nước ký kết”, hoặc “nước ký kết” nếu chỉ nhắc tới một thành viên ASEAN hoặc Trung Quốc);

Nhắc lại Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (“Hiệp định khung”) giữa ASEAN và Trung Quốc do các vị lãnh đạo Chính phủ/Nhà nước của các quốc gia ASEAN và Trung Quốc ký tại Phnom Penh ngày 04 tháng 11 năm 2002;

Nhắc lại khoản 1 Điều 11 của Hiệp định khung về việc xây dựng các thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức phù hợp phục vụ các mục tiêu của Hiệp định khung trong vòng 1 năm kể từ ngày Hiệp định khung có hiệu lực;

Đã nhất trí như sau:

Điều 1. Định nghĩa

Vì mục tiêu của Hiệp định này, các định nghĩa sau đây sẽ được áp dụng trừ phi có quy định khác:

(a) Tất cả các định nghĩa trong Hiệp định khung sẽ được áp dụng trong Hiệp định này;

(b) “ngày” nghĩa là ngày theo lịch, gồm cả ngày cuối tuần và ngày nghỉ khác;

(c) “các bên trong tranh chấp”, “các bên tranh chấp” hoặc “các bên liên quan” nghĩa là bên khiếu nại và bên bị khiếu nại;

Continue reading

BÁO CÁO QUỐC GIA KIỂM ĐIỂM ĐỊNH KỲ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

I. Phương pháp soạn thảo Báo cáo Quốc gia.

A. Quy trình soạn thảo Báo cáo.

1. Báo cáo này được soạn thảo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (HĐNQ LHQ) nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam. Ban soạn thảo đã được thành lập theo cơ chế Nhóm Công tác liên ngành với sự tham gia của các cơ quan liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy các quyền con người: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Ban Tôn giáo Chính phủ (thuộc Bộ Nội vụ), Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Ủy ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Dân tộc, Toà án Nhân dân Tối cao và Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối soạn thảo Báo cáo.

B. Tổ chức tham vấn ý kiến về Báo cáo.

2. Việt Nam đã cử nhiều đoàn đi học hỏi kinh nghiệm quốc tế về soạn thảo báo cáo Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ (UPR) như tham dự Hội thảo tập huấn do Liên hợp quốc (LHQ) tổ chức và dự các phiên bảo vệ báo cáo UPR tại Hội đồng Nhân quyền; tổ chức các hội thảo trong nước có sự tham dự của chuyên gia LHQ và một số nước đã bảo vệ báo cáo nhằm giới thiệu về cơ chế UPR và kinh nghiệm làm báo cáo của các nước này.

Continue reading

HƯỚNG DẪN CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

I. Mục tiêu

Để thực hiện sự quan tâm đến quyền lợi người tiêu dùng trong tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển; ghi nhận rằng người tiêu dùng thường phải chịu sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thương lượng trong mua bán; và ý thức được rằng người tiêu dùng có quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý, bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng này nhằm thực hiện những mục tiêu sau đây:

(a) Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là người tiêu dùng;

(b) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng;

(c) Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng;

(d) Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng;

(e) Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập;

(f) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng;

(g) Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;

(h) Khuyến khích tiêu dùng bền vững.

II. Các nguyên tắc chung

Để thực hiện sự quan tâm đến những điều hướng dẫn sau đây, các chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc giữ vững các chính sách mạnh mẽ về bảo vệ người tiêu dùng. Để thực hiện được điều đó, chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra.

Những nhu cầu pháp lý mà bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:

a. Bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn;

b. Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;

c. Thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;

d. Giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;

e. Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng;

f. Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.

g. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Continue reading