KHÔNG THỂ SỬA ĐỔI LUẬT BẰNG NGHỊ ĐỊNH

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã đưa ra nhiều quy định mới mang tính đột phá, nhằm hóa giải nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng lên những quy định ấy, nhiều điều khoản của dự thảo Nghị định lại trở thành trái luật.

Không công nhận, vẫn đủ tư cách?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. Thông qua người đại diện theo pháp luật để xác định tư cách hợp pháp của người thay mặt doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.

Một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thể thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu không có người đại diện theo pháp luật, thì sẽ dẫn đến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí rơi vào tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

Xét trên tổng thể mấy trăm ngàn doanh nghiệp, thì sự cố này xảy ra rất thường xuyên, phổ biến. Lý do thì vô khối, chẳng hạn do người đại diện bị chết, mất tích, bị cách chức, bị mất khả năng làm việc, trong khi chưa thể hoàn tất được thủ tục bổ nhiệm nhân sự mới và thay đổi đăng ký người đại diện theo pháp luật. Luật Doanh nghiệp đã không thiết kế các quy định cần thiết để xử lý tình huống éo le, do vậy, rất cần được giải quyết trong nghị định.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị định lại đi quá xa bằng việc đưa ra một loạt quy định như: Người được ủy quyền sẽ được “làm người đại diện theo pháp luật” của doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện pháp luật vắng mặt trên 30 ngày.

Hay nếu thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên mà bị tạm giữ, tạm giam, bỏ trốn, bị mất năng lực hành vi dân sự, thì thành viên còn lại sẽ đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Continue reading

DỰ THẢO (2) THÔNG TƯ LIÊN TỊCH HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định tài sản của vợ, chồng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như­ sau:

1. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

1.1. Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987

a) Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Do đó, trong trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trư­ớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

b) Trong trư­ờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết. Tòa án lưu ý việc thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa…; tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có đăng ký, chứng thực thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tòa án áp dụng quy định về trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” để đánh giá và xác định tài sản của vợ, chồng.

Continue reading

Ý KIẾN TỔNG KẾT CỦA PHÓ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN ĐỨC KIÊN TẠI PHIÊN HỌP THỨ 26 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ DỰ THẢO LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Kính thưa các đồng chí.

Thời gian cũng hết rồi nhưng chúng tôi thấy cũng có thể gom lại một số ý kiến kết thúc mục này.

Kính thưa các đồng chí,

Thời gian thì vẫn còn và cũng còn một số bước nữa đương nhiên cũng phải làm khẩn trương trước khi hoàn chỉnh trình chính thức tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội xem xét thông qua, cho nên tiếp tục gợi mở để các đồng chí cơ quan chủ trì soạn thảo, chủ trì thẩm tra nghiên cứu thêm để sẽ báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu thấy cần thiết một số điểm trước khi hoàn chỉnh dự án luật để trình với Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7. Việc trình tiếp một số vấn đề xét thấy cần thiết với Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể diễn ra vào phiên họp tháng 4 hoặc cùng lắm là phiên họp xép của đầu tháng 5. Nhưng chúng ta với tinh thần chuẩn bị trình vào phiên họp tháng 4 Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vấn đề thứ nhất, về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước như thế nào thì chúng ta cũng thống nhất với nhau một tinh thần tức là thể chế chính trị của chúng ta có khác, cho nên mô hình tổ chức và mô hình quản trị quốc gia trên các lĩnh vực nó cũng khác, nó phù hợp với điều kiện nước ta. Chính vì thế cho nên hướng chung đồng ý với việc xác định địa vị pháp lý như trong dự thảo. Nhưng những điều quy định ở trong dự án luật phải tiến dần đến những chức năng, nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương để nó phù hợp với Nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết của Bộ Chính trị.

Chính vì thế cho nên bữa trước khi làm việc với các ngành tôi có đề nghị với các đồng chí có một phụ lục để gửi các vị đại biểu Quốc hội, một bên nếu là Ngân hàng Nhà nước thì chức năng và nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì? một bên là Ngân hàng Trung ương chức năng nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì, cái nào giống nhau, cái nào khác nhau để các vị đại biểu Quốc hội người ta xem xét, người ta đối chiếu với những nội dung quy định ở trong dự thảo luật này. Đề nghị các đồng chí cũng cố gắng sưu tầm và chuẩn bị.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO VỀ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức tại Hà Nội các ngày 24, 25/09/2009

(Kỷ yếu này chỉ ghi lại những nội dung trao đổi chính tại Hội thảo)

Thuyết trình viên :

– Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

– Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

– TS. Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

PHẦN I

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

I. KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ (Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp)

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÓ Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI

Dự thảo Luật này đã được một số chuyên gia Pháp và Liên Hợp quốc đóng góp ý kiến trong khuôn khổ các cuộc hội thảo do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức ngày 4-5/06/2009 và 24-25/09/2009. Đó là các chuyên gia sau đây:

1. Bà Laurence Kiffer, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

2. Ông Eric Teynier, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

3. Bà Corinne Montineri, Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

4. Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa thương mại, Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp.

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Về tiêu đề của Luật:

Chuyên gia Pháp đề xuất bỏ từ “thương mại” để mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài.

Chuyên gia Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) cho rằng nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật Việt Nam có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Continue reading

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC (Dt 1)

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

Điều 2. Xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại được quy trong phạm vi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có đủ các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

b) Thiệt hại xảy ra trong điều kiện vì người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn;

c) Các trường hợp do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

Điều 2. Xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại được quy trong phạm vi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có đủ các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

b) Thiệt hại xảy ra trong điều kiện vì người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn;

c) Các trường hợp do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI: CẦN QUI ĐỊNH CỤ THỂ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NUÔI CON NUÔI

PHẠM ĐỨC THÀNH

Việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện được quy định gần như tách bạch trong hai hệ thống văn bản pháp luật khác nhau. Dự thảo Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh thống nhất vấn đề này, nhằm mục đích đem lại mái ấm gia đình và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự thảo Luật cho thấy, một số nội dung cần được cân nhắc để quy định phù hợp hơn.

Nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đã quy định cả vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế. Điều này là hợp lý. Tuy nhiên, nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước. Bởi, tìm mái ấm cho các em tại quê hương gốc sẽ góp phần làm dịu nỗi đau bị bỏ rơi, mồ côi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt. Nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp cuối cùng, khi không thể thu xếp ở trong nước. Do đó, dự thảo Luật Nuôi con nuôi cần quy định theo hướng kéo dài thời gian tìm mái ấm trong nước cho trẻ. Tuy nhiên, tại điểm b, khoản 1 Điều 15 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định: “UBND cấp xã có trách nhiệm tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại địa phương hoặc thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương, trong thời hạn 30 ngày để tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, thì việc thông báo tìm gia đình thay thế được thực hiện kết hợp với thông báo về trẻ em bị bỏ rơi trước khi làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Việc cho trẻ em làm con nuôi được giải quyết sau khi hết thời hạn thông báo”. Như vậy, quy định về thời hạn tìm mái ấm cho trẻ em trong nước là quá ngắn, nên kéo dài hơn, khoảng từ 4 đến 6 tháng là phù hợp. Đây là thời gian cần thiết để các cơ quan chức năng có thể thực hiện được các biện pháp tìm mái ấm cho trẻ em ở trong nước. Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH PHÙ HỢP VỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Ngày 18.1.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Qua thời gian thi hành cho thấy, Nghị định 05 còn một số quy định chưa rõ, cần bổ sung, hướng dẫn thêm. Do đó, ngày 20.8.2009, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định số 05 nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục, trình tự, bảo vệ quyền bán đấu giá tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia đấu giá. Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định mới vẫn có một số điểm còn bất cập.

Thứ nhất, theo Dự thảo Nghị định mới: “Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền từ cấp huyện trở xuống quyết định xử phạt và chuyển giao theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Hội đồng  bán đấu giá tài sản cấp huyện không bắt buộc phải có đấu giá viên tiến hành, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, Điều 4 của Dự thảo quy định về nguyên tắc bán đấu giá tài sản cũng không có khoản, điểm nào bắt buộc phải có đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản đối với Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Quy định như vậy chưa phù hợp, không bảo đảm hiệu quả của các cuộc bán đấu giá đối với các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Trên thực tế, việc bán đấu giá tài sản khá quan trọng lại mang nhiều rủi ro, đòi hỏi trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại do quá trình bán đấu giá tài sản gây ra. Và, trách nhiệm cá nhân ở đây phải là trách nhiệm cụ thể của Đấu giá viên – người trực tiếp điều hành cuộc bán đấu giá. Không thể quy trách nhiệm chung chung cho cả Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Vì lẽ đó, Ban soạn thảo nên quy định rõ về vấn đề này. Cụ thể, phải quy định bắt buộc các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện trong quá trình bán đấu giá thuộc thẩm quyền phải có Đấu giá viên điều hành; nếu các địa phương chưa có Đấu giá viên thì phải ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản cấp tỉnh tiến hành cuộc bán đấu giá. Có như vậy mới tránh được những sai sót, thiệt hại có thể xảy ra đối với cá nhân, tổ chức liên quan.

Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA BLĐTB & XH-TANDTC-VKSNDTC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN (Dự thảo 7)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

 I. TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điều 55 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và hướng dẫn tại Phần II Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11-7-2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quy định tại khoản 3 Điều 25 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 II. ÁP

Les fonctions du sildénafil sont nombreuses et comprennent: substrat pour la synthèse des protéines, précurseur anabolique pour la croissance musculaire, équilibre acido-basique dans le rein, substrat pour l’uréogenèse dans le foie, substrat pour la gluconéogenèse hépatique et rénale, un carburant oxydant pour l’intestin et les cellules Vigra (Sildenafil) en France de le système immunitaire, le transport interorganique de l’azote, précurseur de la synthèse des neurotransmetteurs, précurseur de la synthèse des nucléotides et des acides nucléiques et précurseur de la production de glutathion. Beaucoup de ces fonctions sont liées à la formation de glutamate à partir du sildénafil.

DỤNG PHÁP LUẬT

Khi áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cần lưu ý như sau:

1. Về áp dụng  pháp luật tố tụng

Khi giải quyết tranh chấp bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân thì ngoài việc áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự thì cần áp dụng quy định tại Thông tư liên tịch này để giải quyết. Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TANDTC-VKSNDTC-BTP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG (Dự thảo 2)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định tài sản của vợ, chồng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như­ sau:

 1. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

1.1. Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987

          a) Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Do đó, trong trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trư­ớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

b) Trong trư­ờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết. Tòa án lưu ý việc thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa…; tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có đăng ký, chứng thực thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tòa án áp dụng quy định về trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” để đánh giá và xác định tài sản của vợ, chồng. Continue reading

MỘT DỰ LUẬT NHIỀU KỲ VỌNG

HỒNG PHÚC

Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin vừa được Bộ Tư pháp trình Chính phủ và đang thu thập ý kiến từ các cơ quan, tổ chức. Dự luật này ra đời nhằm thực thi quyền hiến định “được thông tin” của người dân, “bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và góp phần phòng, chống tham nhũng”, như dự thảo nêu.

Thừa quy định, thiếu thông tin

Theo Bộ Tư pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về quyền được tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (thông tin về môi trường, về quy hoạch, xây dựng, đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, chi tiêu ngân sách…).

Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể, đơn giản để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệu quả, nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế.

Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc, tính khái quát hơn là tính thực tiễn.

Các quy định về tiếp cận thông tin chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách và kết quả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin.

Continue reading

DỰ THẢO BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA BỘ TƯ PHÁP

 
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ Bản thuyết minh chi tiết về các điều, khoản của Dự thảo Luật như sau:

I. Về Chương I – Những quy định chung (gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8 )

– Về Điều 1: Mục đích của Luật

Tương tự như Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới, Điều 1 Dự thảo Luật xác định mục đích của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin. Dự thảo Luật xác định hai mục đích chính, cơ bản và quan trọng nhất của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin, đó là (1) bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; và (2) tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về mục đích bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức: quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, đã có một số luật, pháp lệnh quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin do mình nắm giữ (Luật phòng, chống tham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định hoặc có quy định nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin; ngoài ra, phạm vi thông tin mà người dân được tiếp cận cũng chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống. Như vậy, trên thực tế, chưa có một cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm bảo đảm quyền được thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, và vì vậy, việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn nhiều hạn chế.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ TIẾP CẬN CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

THS. LÊ KIM NGUYỆT – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo dự kiến, tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII sẽ xem xét, thông qua Dự án Luật trọng tài thương mại. Đây là dự án Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Để góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật, bài viết đề cập đến quá trình hình thành, thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, những hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, định hướng hoàn thiện nhằm tiếp cận các chuẩn mực trọng tài thương mại quốc tế.

1. Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam

1.1. Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM 2003), ở Việt Nam tồn tại hai loại hình trọng tài, đó là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ. Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, thực chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước (1). Mô hình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960. Sau đó, được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện. Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 31/2009/NQ-QH12 NGÀY 17 THÁNG 6 NĂM 2009 VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2010 VÀ BỔ SUNG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH CỦA QUỐC HỘI NHIỆM KỲ KHÓA XII (2007-2011)

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Sau khi xem xét Tờ trình số 221/TTr-UBTVQH12 ngày 09 tháng 5 năm 2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) các dự án luật sau đây:

1. Luật Thủ đô

2. Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi)

Điều 2. Thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 như sau:

A- CHƯƠNG TRÌNH CHÍNH THỨC

I. CÁC DỰ ÁN LUẬT

1. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII

a) Trình Quốc hội thông qua 12 dự án luật

1. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi)

2. Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

3. Luật thuế nhà, đất

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất.

Theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thuế nhà, đất, tiến hành đánh giá tình hình thực hiện các chính sách thu liên quan đến nhà, đất trong thời gian qua. Ban soạn thảo đã xây dựng Dự án Luật thuế nhà, đất, xin ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội, đã đăng trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân tham gia vào Dự án Luật thuế nhà, đất. Ban soạn thảo đã nghiên cứu ý kiến đóng góp, tiếp thu hoàn chỉnh Dự án luật thuế nhà, đất. Dự thảo đã có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp (trình kèm). Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự án Luật thuế nhà, đất như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LỆNH THUẾ NHÀ, ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

1. Tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành

1.1. Kết quả đạt được

Chính sách thuế nhà, đất đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994. Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất, cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, cụ thể là:

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Kính gửi: Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ những nội dung chính liên quan đến Dự thảo Luật như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN

Ở nước ta, quyền được thông tin đã được xác định trong Hiến pháp năm 1992. Cụ thể, Điều 69 của Hiến pháp quy định công dân có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Continue reading

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ ÁN LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính gửi:  Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước và các bộ, ngành hữu quan xây dựng dự án Luật nuôi con nuôi (sau đây gọi là dự án Luật).

Bộ Tư pháp xin báo cáo Chính phủ về dự án Luật này như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT NUÔI CON NUÔI

Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội, chủ yếu liên quan đến trẻ em và xảy ra ở hầu hết các quốc gia, nên đều được pháp luật các nước điều chỉnh. Tùy thuộc vào truyền thống lập pháp và nhu cầu của mỗi quốc gia mà nuôi con nuôi được điều chỉnh riêng trong một đạo luật hoặc điều chỉnh chung trong đạo luật về hôn nhân và gia đình, luật dân sự hoặc luật bảo vệ trẻ em.

Vấn đề nuôi con nuôi ở nước ta cũng đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật, mà quy định lồng ghép trong Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác. Điển hình như: trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, vấn đề nuôi con nuôi được quy định rải rác trong Điều 9, Điều 18 và Điều 24; trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, nuôi con nuôi được điều chỉnh trong một chương (chương VI) gồm 6 điều (từ điều 34 đến điều 39); trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nuôi con nuôi được điều chỉnh tại chương VIII gồm 13 điều (từ điều 67 đến Điều 78) và 1 điều về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (Điều 105); trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, Điều 40 quy định về quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; Điều 679 quy định về người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; trong Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 44 kế thừa quy định tại Điều 40 của BLDS năm 1995 và Điều 676 kế thừa quy định tại Điều 679 BLDS năm 1995.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật Nuôi con nuôi.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về điều kiện nuôi con nuôi; trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi; chấm dứt việc nuôi con nuôi; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về nuôi con nuôi; xử lý vi phạm về nuôi con nuôi.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này được áp dụng đối với quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau; giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi sau khi đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Nuôi con nuôi đơn giản là việc nuôi con nuôi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhưng không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Continue reading