THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN ĐƯỢC KHỞI KIỆN?

THANH VÂN – Báo Pháp luật TP.HCM

Một người được ủy quyền để giao dịch các quyền về tài sản nhưng lại đứng đơn khởi kiện tranh chấp tài sản, khiến mỗi tòa hiểu một kiểu.

Có ủy quyền thì mới được kiện

Theo luật sư (LS) Nguyễn Văn Nhàn, Đoàn LS TP.HCM, Điều 134 BLDS 2015 quy định đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Về phạm vi đại diện, Điều 141 BLDS 2015 quy định người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Theo hợp đồng ủy quyền, bà Linh chỉ ủy quyền cho bà Trinh thực hiện các quyền của chủ sở hữu tài sản chủ yếu mua bán, tặng cho, cho thuê tài sản… Nội dung ủy quyền này không có quyền khởi kiện hoặc tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án. Tòa án cấp phúc thẩm không thể tự suy luận là có ủy quyền chuyển nhượng thì khi xảy ra tranh chấp được quyền khởi kiện, như vậy là quá phạm vi ủy quyền của đương sự. Việc tòa hủy quyết định đình chỉ vụ án là sai về pháp luật tố tụng và cả luật nội dung.

Đồng tình, LS Chu Văn Hưng, Đoàn LS TP.HCM, cũng cho rằng bà Trinh không có quyền khởi kiện vì khi có tranh chấp là đã nằm ngoài nội dung ủy quyền. Các đương sự trong vụ án nên khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm để tòa án cấp trên xem xét lại quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ: VỢ XÂM NHẬP TÀI KHOẢN EMAIL CỦA CHỒNG

T. THỦY (Theo WWWN)

Một phụ nữ người Thụy Sĩ đã xâm nhập vào tài khoản email của chồng mình vì nghi ngờ chồng lừa dối mình. Cuối cùng người vợ tá hỏa phát hiện chồng đã lừa dối cô để ngủ với nhiều cô gái khác. Điều đáng nói, người phụ nữ này sau đó đã bị chồng kiện ngược vì xâm phạm riêng tư.

Một phụ nữ sống tại bang Aargau (Thụy Sĩ), với danh tính không được tiết lộ, đã bị tòa án kết tội xâm phạm riêng tư trái phép và bị xử phạt số tiền 10.000USD và phải trả cho chồng cô số tiền 5.000USD vì đã hack vào tài khoản email của chồng mình.

Theo điều tra của cảnh sát thì người phụ nữ này và chồng đã kết hôn được vài năm. Tại nhà, cả hai sử dụng chung một máy tính và một tài khoản email.

Tuy nhiên khi người phụ nữ này phát hiện ra chồng mình âm thầm mở một tài khoản email khác cho riêng mình, cô đã bắt đầu nghi ngờ đang bị chồng lừa dối.

Người vợ đã thử xâm nhập vào tài khoản email của chồng mình để rồi sốc khi nhận ra chồng đang lừa dối mình

Vào một ngày khi chồng cô đi vắng, người phụ nữ này đã thử đăng nhập vào tài khoản email thứ 2 của chồng. Cô đã sử dụng thử mật khẩu tài khoản email dùng chung của hai người và đã bất ngờ đăng nhập thành công.

Sau khi đăng nhập vào email của chồng, cô đã rất sốc khi phát hiện ra chồng cô đã sử dụng tài khoản email này để tán tỉnh nhiều cô gái khác và thậm chí đã “lên giường” với nhiều cô gái trong số đó.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ NHẬN NUÔI CON NUÔI: THẾ NÀO LÀ “NGƯỜI CÔ ĐƠN”

PHƯƠNG LOAN

Một người già yếu cô đơn nhận người 31 tuổi làm con nuôi. 17 năm sau, cháu ruột của cụ kiện yêu cầu hủy quyết định vì khi nhận con nuôi, cụ không có tên trong danh sách người cô đơn ở địa phương. Tuy nhiên, tòa cho rằng không có tên trong danh sách này không có nghĩa là không phải người cô đơn tại thời điểm nhận con nuôi…

71 tuổi nhận con nuôi 31 tuổi

Năm 1988, cụ Nguyễn Thị Huệ (sinh năm 1928) gặp bà Lê Thị Bé Âu (sinh năm 1968, ở Lai Vung, Đồng Tháp, khi đó mới 20 tuổi) khi làm công quả trong chùa. Một năm sau, cụ Huệ đưa bà Âu về ở chung nhà với cụ ở phường 1, TP Vũng Tàu, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cụ Huệ không chồng, không con nên nhận bà Bé Âu làm con nuôi. Tháng 5/1999, UBND xã Tân Hòa (huyện Lai Vung, Đồng Tháp) ra quyết định công nhận nuôi con nuôi giữa cụ Huệ – khi đó 71 tuổi và bà Âu – khi đó 31 tuổi.

Quyết định ghi nhận: Cụ Huệ có đơn xin nhận con nuôi, cha mẹ bà Âu có giấy thỏa thuận cho con làm con nuôi; hai bên có các quyền và nghĩa vụ của mẹ con theo pháp luật về hôn nhân và gia đình…

Tháng 7/1999, bà Âu nhập hộ khẩu vào nhà cụ Huệ. Hai mẹ con chung sống với nhau được 16 năm, đến tháng 8-2015 thì cụ Huệ mất. Quá trình chung sống, cụ Huệ đã truyền nghề làm bánh bò cho con gái nuôi. Hai mẹ con sống bằng nghề làm bánh bò bỏ mối ở các chợ.

Continue reading

TÌNH HUỐNG TỐ TỤNG: THAY MẶT NGƯỜI ĐANG Ở CANADA KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG?

PHƯƠNG LINH – PLO

Tháng 12-2016, ông Trịnh Hoài Phương (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Điền (trú TP Nha Trang, Khánh Hòa) được quyền khiếu kiện đòi tám sào đất ruộng mà theo ông Phương thì ông N. đang quản lý, sử dụng. Giấy ủy quyền này được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam.

Người được ủy quyền ký đơn

Căn cứ giấy ủy quyền này, ban đầu ông Điền ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại UBND phường. Sau đó, do hòa giải không thành nên UBND phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra tòa.

Ngày 21-6, ông Điền ký đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho TAND TP Nha Trang. Trong đơn khởi kiện ông Điền ghi họ và tên người khởi kiện là chính mình và ký tên vào cuối đơn khởi kiện. Thực tế thì ông Điền chỉ là người đại diện ủy quyền của ông Phương theo giấy ủy quyền tại Canada. Hơn một tháng sau, TAND TP Nha Trang thông báo thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền.

Phía người bị đòi đất là ông N. có đơn gửi tòa phản đối yêu cầu khởi kiện của ông Điền. Theo ông N., từ trước đến nay gia đình ông không biết ông Điền hay ông Phương là ai. Việc tòa thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền buộc ông phải giao trả tám sào đất ruộng là không có căn cứ vì gia đình ông không sử dụng mảnh đất này.

Cũng theo ông N., tòa thụ lý vụ kiện và xác định ông Điền là nguyên đơn là trái luật. Vì ông Điền chỉ là người đại diện theo ủy quyền của ông Phương đang cư trú tại Canada. Nội dung trong giấy ủy quyền của ông Phương và nội dung đơn kiện ký tên ông Điền cũng không xác định được vị trí cụ thể tám sào ruộng ở đâu, ai đang quản lý để kiện đòi. Ông N. cho rằng việc ông Điền khởi kiện là không có căn cứ pháp luật, tòa thụ lý vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Continue reading

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: BẤT CẬP VỀ VI PHẠM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ THEO KỲ

HUỲNH MINH KHÁNH – Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Vào đầu năm 2015 bà Tuyết mượn bà Lan 70 chỉ vàng 24k để xây dựng nhà ở, hai bên lập biên nhận và thoả thuận trong hạn sáu tháng sẽ thanh toán đầy đủ. Đến hạn, bà Tuyết trả cho bà Lan được 5 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 65 chỉ vàng 24k. Đến ngày 15/12/2015, do bà Tuyết  làm ăn thua lỗ nên không thực hiện theo thoả thuận trả nợ được, hai bên lập văn bản thống nhất bà Tuyết còn nợ bà Lan 65 chỉ vàng 24k và thoả thuận trả nợ thành 05 kỳ cụ thể như sau:

– Lần 1: Vào ngày 15/01/2016, trả 05 chỉ vàng 24k

– Lần 2: Vào ngày 15/06/2016, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 3: Vào ngày 15/01/2017, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 4: Vào ngày 15/06/2017, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 5: Vào ngày 15/01/2018, trả 15 chỉ vàng 24k

Trong quá trình thoả thuận thì bà Tuyết đã thực hiện đúng lần trả nợ thứ nhất. Đến đầu lần thứ hai, do bà Tuyết bị các chủ nợ khác xiết nợ; đồng thời căn nhà và thửa đất duy nhất (tài sản duy nhất) của bà Tuyết đã bị cơ quan thi hành án dân sự huyện kê biên, bán đấu giá với số tiền khoảng 2tỷ để thi hành các khoản với số tiền gần 1,5 tỷ đồng.

Do bà Lan sợ bà Tuyết sẽ cất giữ số tiền còn thừa ra khi thi hành án để tẩu tán tài sản, sợ không thanh toán đầy đủ 60 chỉ vàng mà bà Tuyết còn nợ. Nên vào tháng 2/2017, bà Lan khởi kiện ra Toà án yêu cầu Tòa xử buộc bà Tuyết phải trả cho bà Lan 60 chỉ vàng 24k, trả một lần ngay khi án có hiệu luật pháp luật mặc dù bà Tuyết chỉ vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoản thuận vào lần 2, lần 3 và đã được toà án thụ lý giải quyết.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG HÔN NHÂN: RẮC RỐI VỤ VƯỜN CÂY ĂN TRÁI CỦA HAI ÔNG VÀ MỘT BÀ

HỒ LƯU

TAND huyện Đông Hòa (Phú Yên) vừa xử sơ thẩm vụ án bà ĐTH kiện đòi chồng cũ là ông NXV trả lại một vườn cây ăn trái. Điều đáng nói ở đây là hai người đã ly hôn cách đây hơn… 20 năm và người chồng đã bán nhà cùng vườn cây cho người khác.

Vườn cây ăn trái của ai?

Bà H. trình bày năm 1987, bà và ông V. (khi đó là vợ chồng) mua một ngôi nhà ở thôn Phú Lương, xã Hòa Tân Đông, huyện Đông Hòa theo diện nhà hóa giá của Nhà nước. Khi đó trên đất có nhiều cây ăn quả gồm 27 cây dừa, ba cây sapoche, một cây mãng cầu, tám cây xoài, ba cây vú sữa, bốn cây ô mai và một cây bơ.

Trong quá trình chung sống, bà có trồng thêm một cây khế. Năm 1996, do có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, bà và ông V. ra tòa xin ly hôn. Ngày 25-10-1996, TAND huyện Tuy Hòa (cũ) đã tuyên ông bà được ly hôn, tài sản giao ông V. sở hữu nhà, không giao đất và cây trái trên đất.

Năm 2001, ông V. bán nhà cho ông ĐVM và tự ý bán luôn cả số cây ăn trái nói trên. Sau đó, ông M. tiến hành chặt phá toàn bộ số cây ăn quả này. Bà H. có khiếu nại đến UBND xã nhưng không được giải quyết. Nay bà đề nghị tòa xem xét, giải quyết yêu cầu các ông V., M. phải trả toàn bộ số cây ăn quả nói trên theo giá nhà nước quy định hiện nay là 41.500.000 đồng; ông M. trả giá trị hoa lợi của số cây đó tính từ năm 2001 (năm ông M. chặt phá cây) đến nay, có tính trừ năm năm thiên tai, còn lại 11 năm với tổng giá trị 70.004.000 đồng. Tổng giá trị cây và hoa lợi là 111.504.000 đồng. Bà H. cũng cho rằng số cây ăn quả là tài sản chung của bà và ông V. nên yêu cầu chia theo quy định nhưng phải xem xét đến công sức chăm sóc cây của bà để chia cho công bằng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ VI PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN: KIỆN CHỒNG CŨ ĐỂ ĐÒI LẠI DANH DỰ

 HOÀNG YẾN

Theo hai cấp tòa, từ năm 2012 đến cuối năm 2016, người chồng cũ đã đưa thông tin vợ cũ bạo hành các con chung nhiều lần và ở nhiều nơi nhưng không đưa ra bất cứ chứng cứ nào chứng minh.

TAND TP.HCM vừa xử phúc thẩm vụ bà L. khởi kiện yêu cầu tòa bác bỏ thông tin bà có hành vi bạo hành các con, buộc ông Y. (chồng cũ) phải xin lỗi công khai, đồng thời bồi thường thiệt hại cho bà.

Ly hôn, tố vợ cũ bạo hành con

Theo đơn khởi kiện của bà L. tại TAND quận 2, trước đây bà và ông Y. là vợ chồng và có ba con chung. Do có mâu thuẫn, ông bà đã ly hôn từ năm 2016.

Theo bà L., trước và sau khi ly hôn, ông Y. đã có những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà trong một thời gian dài. Cụ thể, ông nộp đơn ly hôn với lý do bà bạo hành các con; đến trường học các con tố cáo bà bạo hành con mà không có căn cứ. Ông còn gửi đơn đến nhiều cơ quan, ban, ngành vu khống bà có hành vi bạo hành, ngược đãi con…

Theo bà L., những tố cáo này là vu khống. Bà đã được các cơ quan chức năng xác định là không có hành vi bạo hành con. Hành vi của ông Y. đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu TAND quận 2 bác bỏ thông tin bà bạo hành các con và buộc ông Y. phải xin lỗi công khai bà tại UBND phường, đồng thời bồi thường thiệt hại.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ NGHĨA VỤ GIAO VẬT: BỊ KIỆN VÌ TRẢ … CON DÊ XẤU

VĂN TÂM

Một phụ nữ yêu cầu chủ trại phủ nọc dê bồi thường vì con dê nái chị giao cho chủ trại trước đó to và đẹp, còn chủ trại giao trả con dê nhỏ và xấu…

Đầu tháng 12-2016, chị H. (ngụ xã Tân Thiềng, Chợ Lách, Bến Tre) thỏa thuận với anh B. (chủ trại phủ nọc dê ở xã Long Thới) để phủ nọc hai con dê nái, trong đó có một con hai năm tuổi, một con 10 tháng tuổi.

Trước to đẹp, sau nhỏ xấu?

Ít hôm sau, anh B. trả lại cho chị H. con dê nái hai năm tuổi, còn con dê nái 10 tháng tuổi anh giữ lại để tiếp tục phủ nọc.

Đến gần cuối tháng 12-2016, anh B. đem một con dê nái trả cho chị H. Chị H. không chịu nhận vì cho rằng con dê này có… khuôn mặt rất xấu, trọng lượng chỉ khoảng 15 kg, khác hẳn con dê nái 10 tháng tuổi của chị.

Theo chị H., con dê nái 10 tháng tuổi mà chị đã đưa cho anh B. phủ nọc trước đó có trọng lượng khoảng 30 kg, có đặc điểm nhận dạng là mặt sọc, đầu đen, có bông trắng ở hai mép vành tai sau. Cũng theo chị biết, hiện con dê này đã không còn trong trại của anh B.

Vì vậy, chị yêu cầu anh B. phải bồi thường giá trị con dê cho chị là 4 triệu đồng, sau đó chị rút yêu cầu xuống còn 1,4 triệu đồng. Anh B. không chịu nên chị H. khởi kiện ra TAND huyện Chợ Lách.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ: BẤT THƯỜNG VỤ CẮP DƯỠNG NUÔI CON 10 TỶ ĐỒNG

NGÂN NGA

Một chi cục thi hành án dân sự vừa kiến nghị VKSND Cấp cao và TAND Cấp cao tại TP.HCM xem xét lại một bản án cấp dưỡng nuôi con lên đến 10 tỉ đồng vì có dấu hiệu bất thường nhằm né tránh nghĩa vụ thi hành án…

Gặp PV Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Quốc Toàn (ngụ quận 2, TP.HCM) kể: Năm 2012, ông mua căn nhà của bà Nguyễn Thanh Tuyền ở khu phố 1 (phường Cát Lái, quận 2). Dù bà Tuyền đã nhận tiền cọc nhưng lại không chịu ra phòng công chứng để làm hợp đồng sang tên nên ông khởi kiện ra tòa.

Phải trả gần 19 tỉ đồng trong ba vụ

Tháng 7-2013, TAND quận 2 đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận thành, theo đó bà Tuyền phải trả cho ông Toàn 7,6 tỉ đồng. Tháng 10-2013, Chi cục Thi hành án (THA) dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Toàn.

Chi cục THA dân sự quận 2 đã kê biên, bán đấu giá căn nhà trên của bà Tuyền để THA nhưng chưa thành thì tháng 1-2016, bà Tuyền bị ông Quách Việt Long khởi kiện yêu cầu TAND quận 2 không công nhận quan hệ vợ chồng. Tháng 6, TAND quận 2 đưa vụ kiện này ra xử. Bà Tuyền đồng ý giao con chung của hai người là một cháu trai 12 tuổi cho ông Long nuôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con một lần là… 10 tỉ đồng. Tháng 9-2016, Chi cục THA dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Long.

Continue reading

BỒI THƯỜNG 70 TRIỆU ĐỒNG VÌ ĐĂNG ẢNH KHÔNG XIN PHÉP – QUYỀN HÌNH ẢNH, TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TẾ

 MINH KHÔI

1. Bị phạt và bồi thường 

Theo nội dung vụ án “Yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”, giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M (thị trấn Cái Rồng, Vân Đồn, Quảng Ninh) với bị đơn là báo Gia đình Việt Nam (Cầu Giấy, TP.Hà Nội) thì năm 2013, nhà báo Phạm Ngọc Dương  đã đến gặp bà M tại huyện Vân Đồn để tìm hiểu thông tin một vụ việc cần xác minh để viết bài.

Nhà báo Phạm Ngọc Dương đã chụp nhiều ảnh bà M sau đó, bài viết  đăng tải trên ấn phẩm Gia đình và Cuộc sống (thuộc báo Gia đình Việt Nam), có kèm tấm ảnh chân dung của bà M.

Sau đó do bất đồng quan điểm, bà M đã gửi đơn đến Thanh tra Bộ TT&TT về việc báo tự ý đưa ảnh chân dung của mình lên báo. Thanh tra Bộ TT&TT đã xử phạt hành chính 9 triệu đồng đối với Báo Gia đình Việt Nam.

Tiếp đó, bà M khởi kiện Báo Gia đình Việt Nam ra tòa, yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và đòi bồi thường hơn 300 triệu đồng.

Ông Phạm Ngọc Dương cho hay, ông Dương đến huyện Vân Đồn gặp bà M. để tìm hiểu và viết bài về con bà có dấu hiệu bị oan trong một vụ án hình sự nên được bà M. tiếp đón, cung cấp chứng cứ. Khoảng 21 giờ, ông Dương chụp chân dung bà M. để đăng kèm bài báo, bà M. ngồi nhìn vào ống kính, đèn flash bật sáng. Toàn bộ thông tin bà M. cung cấp được ghi âm đầy đủ. Ông Dương cho rằng mục đích viết bài là để làm sáng tỏ sự thật, giải đáp cho dư luận tránh hiểu sai về các cơ quan tố tụng, cũng là muốn bà M. nhận ra sự thật.

Continue reading

TRANH CHẤP BẢO HIỂM TẠI BẢO MINH: TRANH CÃI VỀ HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG

 HÀ LINH – Đầu Tư Chứng Khoán

Liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng với Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị (bên mua bảo hiểm) cho rằng, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực vì chưa đóng phí, chưa xác nhận nợ.

Được biết, ngày 19/5/2012, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị mua gói bảo hiểm rủi ro xây dựng công trình, trị giá 124 triệu đồng với Bảo Minh. Do khách hàng không đóng phí bảo hiểm, Bảo Minh nộp đơn khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). 

Ngày 12/4/2016, VIAC ra phán quyết tuyên buộc Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho Bảo Minh số tiền 124 triệu đồng. Không đồng tình, Trường đã kháng án lên Hội đồng xét đơn – Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị hủy phán quyết trên. Bên mua bảo hiểm cho rằng, phán quyết trên vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, viện dẫn Điều 15, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi năm 2010, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị cho rằng, hợp đồng chỉ có giá trị khi đã đóng phí, trừ trường hợp thỏa thuận xác nhận nợ. Trường chưa nhận được văn bản xác nhận nợ nên hợp đồng chưa có hiệu lực. Do đó, bị đơn không thuộc các trường hợp luật đã quy định như trên nên không nợ phí bảo hiểm.

Bị đơn còn đưa ra 2 lý lẽ khác. Thứ nhất, văn bản thu phí của Bảo Minh có nội dung “hợp đồng không có hiệu lực khi không đóng đủ phí theo quy định”.

Thứ hai, trong hợp đồng có điều khoản thể hiện, phí bảo hiểm được thanh toán bằng tiền VND, đưa trực tiếp hoặc chuyển khoản cho Bảo Minh trong vòng 30 ngày kể từ ngày Trường được cấp phát vốn. Theo Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị, điều khoản này chỉ là phương thức thanh toán giữa các bên, không phải là xác nhận nợ.

Continue reading

QUANH VỤ DOANH NGHIỆP KÊU MẤT HƠN 26 TỶ ĐỒNG

Kết quả hình ảnh cho SAFETY CREDIT ĐỨC NGHIÊM

Theo VPBank, vụ việc của Công ty Quang Huân như sau: Ngày 19/10/2015, VPBank đã nhận được đơn tố cáo của cá nhân bà Trần Thị Thanh Xuân liên quan đến các vấn đề mở, sử dụng tài khoản của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân). Nội dung tố cáo của bà Xuân cho rằng, ông Phạm Văn Trinh (kế toán Công ty Quang Huân) và một số cán bộ, nhân viên của VPBank câu kết, thông đồng làm thiệt hại của Công ty Quang Huân số tiền là 11.300.000.000 đồng.

Sau một số thông tin về việc chủ thẻ bị mất tiền thì việc Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân – trụ sở ở Củ Chi, chuyên mua bán nông sản) kêu mất hơn 26 tỷ đồng gửi trong tài khoản VPBank khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Chiều ngày 24/8, VPBank đã có văn bản chính thức về việc này.

Theo VPBank, vụ việc của Công ty Quang Huân như sau: Ngày 19/10/2015, VPBank đã nhận được đơn tố cáo của cá nhân bà Trần Thị Thanh Xuân liên quan đến các vấn đề mở, sử dụng tài khoản của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Quang Huân (Công ty Quang Huân). Nội dung tố cáo của bà Xuân cho rằng, ông Phạm Văn Trinh (kế toán Công ty Quang Huân) và một số cán bộ, nhân viên của VPBank câu kết, thông đồng làm thiệt hại của Công ty Quang Huân số tiền là 11.300.000.000 đồng.

Nhận thấy vụ việc bà Xuân phản ánh là nghiêm trọng, VPBank đã ngay lập tức kiểm tra hồ sơ mở tài khoản, làm việc với các cá nhân có liên quan, ông Phạm Văn Trinh (và luật sư đại diện của ông Phạm Văn Trinh). NH cũng đã trao đổi, làm việc trực tiếp với bà Xuân vào ngày 30/10/2015. Qua quá trình làm việc, xác minh các cá nhân liên quan đều phủ nhận nội dung tố cáo của bà Xuân và yêu cầu đối chất với bà Xuân để làm rõ. VPBank đã chủ động trao đổi, mời bà Xuân làm việc nhằm tạo cơ hội cho các bên đối chất, làm rõ sự việc nhưng bà Xuân không phối hợp và trả lời đã gửi đơn cho các cơ quan công an điều tra, làm rõ (có ghi âm cuộc gọi).

Continue reading

THỎA THUẬN NHẰM TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ NÊN THỎA THUẬN KHÔNG HỢP PHÁP

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Continue reading

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TRONG BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ: NGÂN HÀNG TỰ Ý BÁN TÀI SẢN THẾ CHẤP

HỒNG TÚ

Thay vì kiện người vay tiền ra tòa để tài sản thế chấp được xử lý theo đúng quy định, một ngân hàng đã tự lập hội đồng định giá và bán luôn tài sản thế chấp.

Theo phản ánh của ông Trương Nhân Tiến, người vay tiền, tài sản thế chấp là gần 29.000 m2 đất (trong đó có 400 m2 đất thổ cư) cùng một số tài sản trên đất tại xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.

Tự xác định người vay bỏ trốn

Ông Tiến cho biết: Năm 2000, ông có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (viết tắt là Agribank Lâm Hà) 50 triệu đồng để dùng vào việc chăm sóc cây cà phê. Thời hạn vay được tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến khi gia đình ông Tiến trả hết nợ cả gốc và lãi. Để đảm bảo việc trả nợ, ông thế chấp số tài sản trên.

Sau đó, do gặp khó khăn trong việc trồng cà phê như nhiều hộ gia đình khác, ông không tiếp tục trồng cà phê nữa mà đến Cam Ranh (Khánh Hòa) buôn bán. Tháng 4-2013, khi có đủ điều kiện kinh tế, gia đình ông liên hệ Agribank Lâm Hà để thanh lý hợp đồng tín dụng thì mới biết hợp đồng tín dụng trên đã được thanh lý và ngân hàng đã thu hết nợ (!).

Tìm hiểu thêm, ông được biết vào năm 2003, Agribank Lâm Hà đã lập bốn biên bản xác minh việc gia đình ông đang còn nợ vay ngân hàng nhưng bỏ trốn khỏi địa phương. Tháng 9-2005, căn cứ vào các biên bản xác minh người vay bỏ trốn, Agribank Lâm Hà đã tự tiến hành kê biên tài sản. Đến tháng 7-2008, Agribank Lâm Hà tự lập hội đồng định giá tài sản thế chấp và bán luôn cho một người khác với giá 50 triệu đồng. Ngoài người này thì còn có một nhân viên của ngân hàng cùng khai thác và sử dụng đất từ năm 2006.

Ông Tiến không hài lòng: “Đúng là tôi còn mắc nợ nhưng nếu muốn bán đất của tôi, ngân hàng phải kiện ra tòa. Đã vậy, trong biên bản bán tài sản thế chấp, phía ngân hàng còn đưa ra giấy ủy quyền thể hiện gia đình tôi đã ủy quyền cho ngân hàng xử lý tài sản thế chấp. Thật là vô lý!”.

Continue reading

RÚT KINH NGHIỆM VỀ VỤ ÁN “YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ SỨC KHỎE”

HẢI YẾN

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử và tuyên huỷ vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ ” giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nam, trú tại Thôn 3, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thêm, trú tại số 34 Bà Triệu, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Thụ, trú quán: Thôn Mậu Tài, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 19/9/2012, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Thông báo rút kinh nghiệm số 763/TB -VKS – P5 đối với vụ án nói trên.

Nội dung vụ án:

Ngày 26/12/2010, Bà Nguyễn Thị Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1 – 1931 trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Ea H’Ding đến xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar. Khi đi đến đoạn đường thôn 6, xã Ea Kpam thì bị Mai Công Hậu (sinh năm 1995) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47FB – 0098 chạy ngược chiều không đúng phần đường đâm vào. Hậu quả bà Nam bị gãy xương đùi phải, thiệt hại 30% sức khoẻ. Sau khi bị tai nạn, bà Nam điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk 10 ngày (từ 26/12/2010 đần 05/01/2011).Ngày 31/12/2010, bà Nguyễn Thị Thêm (mẹ đẻ của Mai Công Hậu) đã bồi thường cho bà Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi gây tai nạn cho bà Nam của Hậu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar chỉ xử lý hành chính đối với Hậu. Do hai bên không thoả thuận được việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam, nên ngày 14/4/2011, bà Nam khởi kiện dân sự tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, yêu cầu gia đình Mai Công Hậu phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí điều trị thương tích và tiền sửa chữa xe máy là 85.755.000đ.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI RẮM THỤ LÝ TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG

THANH TÙNG

Do vụ án phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn.

Theo chỉ đạo, tòa cấp sơ thẩm thụ lý nhưng sau đó tòa cấp phúc thẩm lại hủy án, đình chỉ giải quyết…

TAND tỉnh Long An vừa tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp tài sản chung giữa bà M. cùng các nguyên đơn với ông S. vì chưa đủ điều kiện thụ lý vụ án nhưng TAND TP Tân An vẫn nhận đơn giải quyết. Trong vụ này, trước đây tòa án cấp sơ thẩm từng lừng khừng chuyện nhận đơn, còn TAND tỉnh và TAND Tối cao từng chỉ đạo xem xét thụ lý theo đúng quy định.

Kiện đòi chia thừa kế

Theo hồ sơ, sau khi cha mẹ chết, năm 1990 bà M. cùng bốn anh chị em khác giao toàn bộ nhà, đất cho người anh là ông S. quản lý, làm nơi thờ cúng.

Năm 2000, ông S. đi hợp thức hóa nhà, đất rồi bảy năm sau ông chuyển tài sản sang cho hai con gái đứng tên. Tháng 6-2009, bà M. phát hiện nên cùng các anh chị em khác khởi kiện yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà cha mẹ để lại. Theo bà, năm 1990, khi giao tài sản cho anh quản lý, người anh soạn sẵn văn bản thể hiện bà và các anh chị em khác khước từ nhận tài sản thừa kế. Vì chuyện đã lỡ nên tất cả cùng ký với điều kiện phải ghi thêm dòng chữ: “Ngôi nhà chỉ dùng để làm nhà thờ, không được bán”. Tuy nhiên, dòng chữ này sau đó bị công chứng viên xóa bỏ. Đây là việc làm khuất tất nên bà khởi kiện đòi lại quyền lợi…

Tuy nhiên, yêu cầu này bị tòa từ chối giải quyết vì thời hiệu khởi kiện không còn. Đầu năm 2008, anh em bà M. lại khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ hợp đồng cho tặng nhà giữa ông S. với hai con. Các nguyên đơn (bà M. làm đại diện) cũng nhờ tòa tuyên bố ngôi nhà là tài sản chung của cha mẹ để lại và phải chia đều cho sáu anh chị em.

Ban đầu TAND thị xã Tân An (nay là TP Tân An) trả lại đơn kiện vì cho rằng không đủ điều kiện thụ lý. Suốt hai năm sau đó, phía nguyên đơn làm nhiều đơn khiếu nại nhưng không có kết quả.

Bảo nhận đơn rồi lại đình chỉ

Tháng 11-2009, TAND tỉnh Long An chỉ đạo TAND TP Tân An thụ lý giải quyết vụ án của bà M. vì thấy có cơ sở… Thấy vậy tòa án cấp sơ thẩm đã gọi các đương sự lên và ra quyết định thụ lý vụ án chia tài sản chung. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn. Bà M. kháng cáo toàn bộ bản án.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI ĐƯỢC GIÁM HỘ GÂY RA: CON TÂM THẦN ĐÂM NGƯỜI, CHA MẸ PHẢI BỒI THƯỜNG?

PHÚC TÂN

Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.

Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN: BỊ GIÀNH CON SAU BỐN NĂM LY HÔN

THANH TÙNG

Đã có đủ yếu tố để khởi tố tội bắt cóc – Một độc giả của Báo Pháp luật TPHCM

Gia đình bên nội giữ lại đứa bé, không cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng vì cho rằng cháu đã lớn, cần sự chăm sóc của họ.

Những ngày này chị Phan Thị Lợi (xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, TP.HCM) đang cầu cứu khắp nơi vì phía gia đình chồng cũ quyết giữ đứa con gái mà tòa án đã giao cho chị nuôi dưỡng khi ly hôn. Không chỉ thế, khi đến đòi con chị còn bị phía gia đình chồng cũ dọa nạt…

Ban đầu để vợ nuôi con…

Sau gần 10 năm chung sống, đầu năm 2008 do mâu thuẫn gia đình, chị Lợi chủ động làm đơn xin ly hôn. Xử sơ thẩm, TAND huyện Củ Chi chấp nhận yêu cầu. Về phần con chung, tòa ghi nhận sự thỏa thuận, giao cho chị tiếp tục nuôi con, chồng chị phải cấp dưỡng cho cháu. Theo tòa, bé còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và cũng để ổn định tâm sinh lý nên cần thiết phải giao cho mẹ.

Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành.

Theo trình bày của chị Lợi, từ năm 2008 đến nay chị luôn hết lòng dốc sức nuôi con. Mặc dù kinh tế không khá giả nhưng chị vẫn đảm bảo đủ điều kiện cho cháu bé sinh hoạt học hành và bản thân cháu cũng rất gắn bó thương yêu chị. Hai mẹ con ở bên nhà ngoại nhưng chị vẫn tạo điều kiện cho chồng cũ thực hiện quyền thăm nuôi bé. Thậm chí mỗi khi rảnh rỗi hay đến dịp nghỉ hè chị đều chở con về cho bé thăm gia đình bên nội vài ba ngày.

Sau bắt lại cháu

Bốn năm sau ngày ly hôn mọi việc vẫn diễn ra êm đẹp, quan hệ giữa hai bên cũng không có biến cố. Nhưng chị Lợi cho biết đầu tháng 6-2012, như thường lệ, chị cho con về bên nội chơi nhưng gần một tuần chị quay lại đón con về thì bị nhà chồng cũ kiên quyết ngăn cản.

Continue reading