LÀM THẾ NÀO ĐỂ CẢM THẤY “ĐỦ” TRONG CUỘC SỐNG

ELLE TEAM Lược dịch: Mia Thủy Tiên (Tạp chí Phái đẹp ELLE/ First Women)

Liên tục chạy theo và đáp ứng những ham muốn, tham vọng trong cuộc sống, con người dường như đánh mất đi hạnh phúc của mình. “Như thế nào là đủ?” là một câu hỏi khó có được câu trả lời chính xác.

“Tôi đã đủ hạnh phúc chưa?” hoặc có thể rút gọn thành “Tôi đã cảm thấy đủ với cuộc sống hiện tại chưa?”.

Cân đo đong đếm cảm xúc giống như việc xác định trọng lượng của đại dương hay liệt kê những thứ trên đời mà loài mèo ghét bỏ vậy. Đơn giản đây là chuyện không thể.

Vẫn câu hỏi đó “Bao nhiêu là đủ?”.

Có lẽ các nhà tiếp thị đã nhìn ra được sự tuyệt vọng trong câu hỏi khó tìm được câu trả lời này. Thế nên, họ đã lồng vào những mẩu quảng cáo lời hứa hẹn “Chỉ cần bạn có…, là đủ…”.

“Chỉ cần uống thuốc giảm cân Slimfat là đủ để bạn sở hữu thân hình cân đối”.

“Chỉ cần sử dụng xe Jeep là đủ cho một chuyến khám phá”.

“Chỉ cần mang giày Nike là đủ trở thành vận động viên điền kinh”.

“Chỉ cần tham gia vào công ty môi giới Scottrade là đủ để trở nên giàu có”.

Continue reading

GÓP TỰ DO CỦA MÌNH VÀO ĐÂU HIỆU QUẢ NHẤT?

 PGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Khoa Luật, Đại học kinh tế TP.HCM

Dưới góc nhìn kinh tế và toán học, tác giả mạn đàm chuyện tối ưu hoá góp quyền tự do cho các chủ thể trung gian, bao gồm nhà nước.

Thuở hồng hoang, con người sống trong một xã hội chưa có luật pháp. Ở trạng thái tự nhiên đó, con người có mọi quyền, bao gồm cả quyền tự do giết người khác1. Tuy nhiên, trí thông minh của con người sớm nhận ra rằng: nếu mình có quyền tự do giết người khác, thì người khác cũng có quyền tự do giết mình. Việc từng cá nhân riêng lẻ tiếp tục giữ lại và hành xử một cách cá nhân các quyền tự do nguy hiểm này không có lợi cho từng cá nhân, không có lợi cho sự tồn tại của cộng đồng; họ cùng nhau thoả thuận từ bỏ quyền tự do này có điều kiện, có kiểm soát.

Ai sẽ là người kiểm soát quyền tự do này? “Bên thứ ba” được cộng đồng gửi gắm làm chủ thể tiếp nhận và hành xử phần quyền tự do này. Theo nguyên tắc gần trước, xa sau; cộng đồng ban đầu trao cho tù trưởng, tộc trưởng, rồi đến già làng, trưởng bản… “Bên thứ ba” này cứ thế tiến hoá dần để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của con người với tốc độ tương ứng với sự dịch chuyển của các nền văn minh của con người. Khi loài người từ bỏ lối sống lang thang săn bắn hái lượm, định cư tiến sang văn minh nông nghiệp thì “già làng, trưởng bản, trưởng tộc” không còn đủ sức giải quyết những tranh chấp đất đai, nguồn nước; càng không đủ sức đắp đê trị thuỷ; các làng ven sông thoả thuận liên kết lại để hình thành nên quyền lực liên làng, mà sự hình thành nhà nước Văn Lang cổ đại ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam là một ví dụ. Để vận hành quyền lực liên làng cần đến một tổ chức chuyên nghiệp; già làng, trưởng bản được thay thế bởi vua cùng hệ thống quan lại – nhóm người tách ra khỏi đời sống sản xuất trực tiếp; đổi lại cho sự đóng góp này, cộng đồng hy sinh một phần quyền tự do kinh tế, quyền tư hữu, đóng thuế nuôi họ, hình thành nên nhà nước của dân, do dân, vì dân; chứ không nhất thiết toàn nhân loại cứ phải đi theo con đường duy nhất đàn áp, cướp bóc lẫn nhau theo mô hình Athen cổ đại.

Continue reading

BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

 ĐỒNG QUANG THÁI 

 

Trong điều kiện toàn cầu hóa đời sống kinh tế, việc xây dựng nền kinh tế thị trường là yêu cầu bắt buộc để nước ta hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế, tận dụng điều kiện bên ngoài cho sự phát triển kinh tế trong nước. Nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường vừa có những đặc điểm riêng của nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn chuyển tiếp.

 

Những đặc điểm này in dấu ấn lên đời sống mọi mặt của xã hội, trong đó có đời sống đạo đức. Việc chuyển từ nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ trong đời sống đạo đức của xã hội. Hàng loạt vấn đề đặt ra liên quan đến việc nhận thức và xử lý trong thực tiễn mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế… nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với việc xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh, bảo đảm phát huy nhân tố đạo đức truyền thống dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

Nhân tố đạo đức của quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta trong thời gian qua đã góp phần to lớn trong việc giải phóng sức sản xuất của xã hội, tăng năng suất lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống của nhân dân. Kinh tế thị trường kích thích tính tích cực và tiềm năng sáng tạo của con người, hình thành các nhân cách độc lập, phát triển tính tự chủ; nơi đánh giá khách quan sản phẩm hàng hóa, tạo sự sàng lọc tự nhiên với hàng hóa và con người, buộc con người phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả công việc nếu muốn tồn tại và phát triển; là yếu tố kích thích con người không ngừng vươn lên để tự khẳng định mình; tạo không gian giao tiếp rộng lớn và phong phú cho từng cá nhân, qua đó cá nhân vừa có dịp bộc lộ mình vừa phát triển đời sống tinh thần, thay đổi phương thức và nội dung tư duy phù hợp; là tác nhân mạnh mẽ buộc các chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, thường xuyên chú ý cải tiến, đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa phương pháp làm việc để đạt hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của con người; xóa bỏ chủ nghĩa bình quân, thực hiện phân phối theo lao động, sở hữu… đã và đang tạo cơ sở khách quan để thực hiện tự do, bình đẳng, xóa bỏ đặc quyền, đặc lợi; đem lại cách nhìn mới về mối quan hệ giữa lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế với đạo đức. Trước đây, có quan niệm lợi ích kinh tế tách rời với đạo đức, thậm chí còn chịu ảnh hưởng nặng nề của quan niệm nghèo thì tốt. Đến nay, quan niệm đó đã trở nên lỗi thời vì không thể xây dựng một đời sống đạo đức tốt đẹp trong điều kiện một nền sản xuất ngày càng tỏ ra kém hiệu quả, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng nghèo nàn ngày càng trở nên phổ biến. Đương nhiên, không phải đời sống kinh tế được nâng cao là đời sống đạo đức tự động tốt đẹp hơn mà còn tùy thuộc vào việc giải quyết quan hệ lợi ích thông qua việc thực thi các chính sách kinh tế xã hội như thế nào, có hợp lý hay không.

Continue reading

Vấn đề lớn nhất của văn hoá Việt Nam hiện nay: GIẢ DỐI ĐƯỢC COI LÀ BÌNH THƯỜNG

HỒ SỸ QUÝ

Kinh tế thị trường và làn sóng toàn cầu hóa, trong khi đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển, để Việt Nam từ một quốc gia nghèo đói, chậm phát triển thành một nước có thu nhập trung bình, thì rất tiếc, lại cũng là điều kiện để nhiều thói hư tật xấu của người Việt và một số yếu kém trong quản lý vĩ mô có cơ hội gây tác hại cho xã hội.

Điều đó gây dấu ấn trong văn hóa.

Hiện thời văn hóa Việt Nam đang mang trong nó một số vấn đề thực sự cản trở sự phát triển. Con người tha hóa, đạo đức xuống cấp, giáo dục yếu kém, y tế kém nhân văn, chính sách văn hóa bất cập, lễ hội ít văn hóa… là những vấn đề nóng của bản thân văn hóa Việt Nam.

Vấn đề của tất cả những vấn đề ấy, theo chúng tôi, là sự sự lệch lạc về giá trị. Bảng giá trị của người Việt hiện nay đã xuất hiện một số ngụy giá trị. Giả dối đã tương đối phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Việt Nam sẽ khó trở thành quốc gia thành công, nếu ngụy giá trị vẫn tiếp tục chiếm chỗ của chân giá trị, nếu giả dối vẫn lấn át sự tử tế và chân thật.

I. Văn hóa xuống cấp: những tác động từ phía xã hội

Hơn 30 năm qua, trong tương quan với sự phát triển, văn hóa Việt Nam được đánh giá là có nhiều thay đổi theo chiều tiến bộ. Mà thay đổi lớn nhất là văn hóa ngày nay được hiểu, được cư xử và được sử dụng khác hẳn so với trước kia. Không chỉ là sản phẩm thụ động của đời sống vật chất, văn hóa đã thực sự trở thành nhân tố bên trong, là cái quy định hành vi và hoạt động của con người, cả ở phạm vi cá nhân và cả ở phạm vi các cộng đồng, các tổ chức xã hội. “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[1].

Continue reading

BOT VÀ PPP: TÍNH MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

 NGUYỄN TIẾN LẬP

Những phản đối và hệ lụy xung quanh các sai phạm trong thực hiện các tuyến BOT giao thông vừa qua cho thấy cần thiết nhìn lại các ưu, nhược điểm trong cơ chế hợp tác công tư (PPP) và thảo luận về giải pháp minh bạch hoá hình thức này.

Ba nguyên nhân dẫn tới phản ứng của người dân

Nhìn ở bề nổi, hiện tượng người dân nói chung và các lái xe nói riêng phản ứng chống lại một cách dữ dội tại các trạm thu phí đường BOT vừa qua đã nói lên một thực tế có tính cảnh báo: đó là họ đang phải trả quá nhiều phí tới mức không chịu đựng nổi cho việc lưu thông bình thường trên đường, là điều mà trước đây họ không phải làm như vậy. Nói một cách khác, chính khách hàng của các con đường BOT mà ngành giao thông đang rất tự hào đã trở thành nạn nhân của các con đường ấy và họ đang kêu cứu một cách tập thể. Theo tôi có ba vấn đề là căn nguyên của câu chuyện này:

Trước hết, chủ trương BOT hoá một cách rầm rộ, ồ ạt và đại trà mạng lưới đường bộ là một sai lầm. Về thực chất BOT chỉ là một phương thức đầu tư phát triển hạ tầng, đường xá, nhưng qua phương thức này Bộ Giao thông muốn nhanh chóng có được mạng lưới đường bộ mới, hiện đại hơn, thậm chí là các con đường cao tốc phủ khắp cả nước. Về lâu dài, điều đó là cần thiết, nhưng nhu cầu ấy chưa thực sự cấp bách đối với nền kinh tế và đời sống hiện nay của người dân. Đơn giản nói về khái niệm “nhu cầu” một cách lý thuyết, đó phải là các đòi hỏi và ham muốn về một điều gì đó gắn với khả năng chi trả, chưa nói tới hiệu năng sử dụng và tương quan tổng thể của các nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng tại cùng một giai đoạn hay thời điểm. Xét theo ý nghĩa như vậy, rất nhiều con đường to rộng và đẹp hơn được xây dựng không căn cứ vào nhu cầu cấp thiết, bởi trên thực tế chúng có ít xe cộ chạy qua, đặc biệt là các xe tải chở hàng vốn là phương tiện trực tiếp phục vụ sản xuất – kinh doanh. Cho nên, BOT hoá một cách thái quá, tức là vừa hút vốn đầu tư nhiều để xây đường vừa thu tiền cao cho việc sử dụng đường, đã làm cho cả nền kinh tế lẫn đời sống dân sinh trở nên “quá tải”.

Continue reading

ĐỌC VÀ CHIA SẺ: TÔI ĐÃ CỐ GẮNG, NHƯNG TÔI LẠI CẢM THẤY MÌNH YẾU ĐUỐI VÀ SỢ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI MẤT MÁT

HÙNG NGUYỄN

Civillawinfor nhận được câu chuyện có thật của bạn Hùng Nguyễn (hungmaster2705@gmail.com), đăng để các bạn có thể sẻ chia những ứng xử cần thiết cho người trong cuộc (Một số câu, chữ được sửa đổi cho phù hợp với văn phong của Trang Thông tin).

Vợ chồng tôi cưới nhau từ tháng 2 năm 2010, tới nay đã có hai cháu trai, cháu lớn 6 tuổi và cháu nhỏ 5 tuổi. Vợ chồng tôi làm nghề tóc, vợ tôi là mẫu người của gia đình, rất ngoan hiền, chịu thương, chịu khó, thương yêu chồng con và cũng rất được lòng người thân, làng xóm. Ngược lại, bản thân tôi  là người chồng không tốt, người cha thiếu trách nhiệm, tôi ham mê game, chơi bời vô độ, kết quả bao năm làm kinh doanh và cửa hàng của vợ chồng tôi đều mất cũng vì tôi chơi game. 

Hai năm trước đây, tôi cũng đã quyết tâm cai nghiện game và đã thành công, vợ chồng cũng đã ổn định hơn trong làm ăn. Về tình cảm, tuy cũng có những lúc vợ chồng mâu thuẫn, tôi nóng tính hay mắng chửi vợ, xong hai vợ chồng cũng lại làm lành được với nhau.

Tuy nhiên, với bản tính ham chơi, cùng với suy nghĩ tiêu cực vì kinh tế tôi lại lao vào tệ nạn xã hội, tôi sử dụng ma túy đá sau những cuộc chơi là hậu trường của bê tha, công việc bỏ bê, không giúp được vợ việc nhà… quan hệ vợ chồng vuợt qúa sức chịu đựng của vợ tôi, nên cố ấy đã bế đứa con thứ bỏ đi, sau khi đã gửi cháu lớn về ông bà nội, tới nay được hơn 8 tháng.

Tôi không biện luận cho việc làm sai trái của mình, quyết tâm sửa sai, nỗ lực hết sức mình để mong được vợ tôi tha thứ mà quay về. Thời gian thử thách này mà vợ tôi đưa cho tôi là từ 1 đến 2 năm. Đối vơi tôi, chỉ cần biết con đường tôi sắp phải đi qua có vợ tôi đang chờ ở cuối còn đường đó thì dù là thời gian bao nhiêu lâu tôi vẫn sẽ cố gắng hết sức mình để mong được vợ nhìn nhận vì nghĩ tương lai cuả 2 đứa con, không thể vì mình mà mất đi ánh sáng, tình yêu của tôi dành cho vợ con là vô tận.

Continue reading

CUỘC SỐNG TA NÊN TẬN HƯỞNG HAY CHỊU ĐỰNG NÓ?

 KIỀU BÍCH HẬU

Thời mới tốt nghiệp đại học, cầm tấm bằng đỏ, ra trường thoắt cái tôi đã tham dự một kì thi tuyển phóng viên và đi làm ngay. Tôi không kịp thư giãn một chút nào trước khi lao đầu vào vòng xoáy điên đảo của kiếm sống.

Giống như bao người Việt thời những năm 1990, phải đi làm, lấy chồng hoặc vợ, tậu đất xây nhà, đẻ con nuôi con ăn học, tiếp tục kiếm tiền để dành phòng thân khi về già, xây nhà thờ ở quê, hoặc khi chết đi có tài sản để lại cho con cháu… Vậy nên không dám mở mắt nhìn thế giới ra sao, sáng ra tôi chăm chỉ guồng cái xe đạp mini tàu đỏ, chỉ nhìn con đường từ nhà ở phố Thọ Lão, tới cơ quan báo ở phố Hồ Xuân Hương (Hà Nội), rồi chăm chăm nhìn vào bản kế hoạch công việc trong ngày, trong tuần là đến giờ nhắm mắt lên giường. Ngay cả công việc mơ ước của tôi là sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết, tôi cũng đã muốn để dành tới qua tuổi bốn mươi mới viết, vì mình còn trẻ, rất nên dành thời gian này để kiếm tiền tích lũy đã, viết văn đâu có đủ sống.

Tuy nhiên, vòng xoáy kiếm sống điên đảo ấy cuốn tôi đi, khiến tôi lạc lối, tôi quên mất cả chính mình, trở thành một người khác, có một ước mơ khác. Tôi từng có thành công về công việc, tài chính, rồi mất mát, rồi đổ vỡ… Hầu như tôi có nhiều thứ trong tay, chỉ có điều tôi không có chính mình.

Ở tuổi ba mươi tư, nhờ một cú sốc tình cảm, mà tôi nhận ra là tôi đang chịu đựng cuộc sống, đang gồng mình lên gánh cuộc sống trên vai mà đi mải miết, không kịp nhìn ngắm chính mình. Khi tôi dám quyết định chấm dứt lối sống ấy, tôi đã nói với một người thuộc bậc cha chú, khi người ấy cứ cố gắng nài nỉ tôi đừng thay đổi, rằng tôi giống như một con ngựa cái, bụng mang dạ chửa mà lại kéo một cái xe chở nặng những bao gạo lên dốc, càng lên cao, tôi càng đuối sức. Tôi cần phải giải cứu chính mình, hất cái xe nặng nề kia đi, tìm một cái ổ có cỏ khô êm ái và đẻ một con ngựa con.

Continue reading

NHẬT BẢN – MỘT GÓC NHÌN

 BWPORTAL

Trung thực

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/Túi xách.

Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Không ồn ào “No noise”

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Continue reading

NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CÁ NHÂN

 DIỆP BÙI – CEO & Founder LIONBUI Agency

Tạo dựng thương hiệu cá nhân chuyên nghiệp là điều cốt yếu mang đến thành công trong sự nghiệp cũng như các mục tiêu khác trong cuộc sống mỗi người. Riêng với doanh nhân, xây dựng điều này vững mạnh còn là điều cần thiết để phát triển doanh nghiệp thành công.

Thương hiệu cá nhân, nói ngắn gọn là những ấn tượng tốt đẹp mà bạn gầy dựng trong tâm trí người khác, là tất cả những gì bạn làm để thể hiện năng lực và các giá trị của bản thân: “Tôi là ai, tôi làm được gì và tôi khác biệt như thế nào”. Không đơn thuần chỉ thể hiện qua hình ảnh bên ngoài, mà điều này còn là cách tự bạn nhận thức về các giá trị cốt lõi, ưu khuyết điểm, năng lực của chính bạn. Nó giúp bạn kiến tạo nên sự khác biệt, và đại diện cho những gì bạn mong muốn chia sẻ ra cộng đồng. Đây là thứ duy nhất không ai có thể lấy đi từ bạn và mang lại lợi ích kéo dài xuyên suốt sự nghiệp.

Nhưng để xây dựng được Thương Hiệu Cá Nhân Bền Vững thì bạn cần biết về những Nguyên Tắc sau:

1. Rõ Ràng

Hồ sơ cá nhân phải thật hoàn chỉnh với cá tính riêng, kèm với những miêu tả ngắn ngọn súc tích về năng lực, sau đó là truyền thông điệp, lời nói, lời sẻ chia theo phong cách của bạn tới mọi người qua tất cả các kênh có thể, như Facebook cá nhân, trang web cá nhân, hồ sơ công việc tại LinkedIn, thậm chí là những đoạn giới thiệu bản thân trên Twitter hay Youtube. Ngoài các kênh mạng xã hội, thương hiệu của riêng bạn cũng sẽ được “truyền tải” một cách sống động khi gặp gỡ những người mới. Vì thế, cần chuẩn bị sẵn một “bản tóm tắt” ngắn gọn nhưng đầy đủ thông tin cũng như chuẩn bị trước thông điệp của riêng bạn. Bằng cách này, khi ai đó tìm hiểu và bắt đầu tiếp xúc với bạn, họ có thể phần nào nắm bắt được ngay lập tức bạn là ai, bạn đại diện cho điều gì.

Continue reading

PHONG CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI ĐỜI

 TRƯỜNG GIANG

Không bằng lượng thời gian sống để đánh giá một đời người

Trong cuộc sống, ai cũng mong tồn tại được lâu trên trần gian này. Gặp nhau chúc nhau, trong dịp Tết ai cũng không quên câu "chúc sống lâu trăm tuổi". Ngành y tế và các cơ quan có liên quan đến chăm sóc cuộc sống của con người đều có ý thức, có kế hoạch làm sao cho sức khỏe của con người ngày càng tăng tiến, tuổi thọ được nâng cao.

Đó là mong muốn của mọi người và cũng là mục tiêu của chế độ chúng ta, của thời đại chúng ta.

Người nào có thể làm mỗi giây phút đều tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình.

I. Cuôcxơ

Song đánh giá một đời người thì không bao giờ người ta căn cứ vào tuổi thọ, căn cứ vào lượng thời gian sống mà chủ yếu căn cứ vào thực tế người đó đã sống như thế nào.

Cuộc đời của bất kỳ ai cũng chỉ sống có một lần và nó cũng trôi qua rất nhanh chóng kể cả người thọ nhất. Do đó phải sống như thế nào để thực sự có ích cho đời, cho xã hội. Có những người sống không được lâu nhưng để lại cho đời rất nhiều giá trị quý báu; tên tuổi của họ được lưu mãi đến bao đời sau. Song cũng có không ít người thời gian sống rất dài nhưng những ngày sống cho thật có ý nghĩa thì chẳng bao nhiêu. Rõ ràng cách sống, chất lượng sống mới thực sự là tiêu chí, mới là căn cứ để đánh giá một đời người.

Continue reading

KHÔNG GÂY HẠI!

Kết quả hình ảnh cho NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẸP NHẤT VỀ TRẺ EM GIÁP VĂN DƯƠNG

Đối với nghề giáo, tôi là một người vừa trong cuộc vừa ngoài cuộc. Ngoài cuộc vì tôi không thuộc biên chế của trường công chính quy nào. Trong cuộc vì lâu nay tôi vẫn đứng trên bục giảng, và trong thâm tâm tôi vẫn tự coi mình là một nhà giáo trước khi là bất cứ một người nào khác. Giáo dục, rộng hơn là mở mang tri thức và phát triển con người, vẫn là công việc mà tôi đang theo đuổi hằng ngày.

Vậy nên, mỗi khi có dịp thảnh thơi thì tôi đều dành một khoảng thời gian tĩnh lặng để suy ngẫm về công việc mà mình đang theo đuổi, về những quy tắc mà nó chịu ràng buộc, và những giới hạn mà người làm nghề dạy học không được phép vượt qua.
Đã từ lâu tôi luôn nhắc các học viên của mình, trong đó có nhiều người đang làm nghề dạy học và đào tạo, rằng: Làm giáo dục, làm đào tạo, tiêu chí đầu tiên của đạo đức nghề nghiệp là KHÔNG GÂY HẠI!

Không gây hại ư!? Tại sao lại là không gây hại?

Người làm nghề dạy học chỉ nói lời hay lẽ phải. Ngoài dạy kiến thức, các thầy cô còn dạy làm người. Toàn những thứ thiện lành như thế, sao lại có thể gây hại cho học trò, những người mình hết mực thương yêu được cơ chứ? Việc nhắc nhở này phải chăng là chuyện lẩm cẩm, hay là quá khắt khe với các thầy cô?

Câu trả lời là không lẩm cẩm, cũng không khắt khe. Theo quan sát của cá nhân tôi, trong nền giáo dục còn nhiều bất cập này, thì để không gây hại với học trò của mình, nhà giáo cần một sự thức tỉnh và một lòng quả cảm dài hơi. Nếu không, rất có thể nhà giáo sẽ gây hại cho chính học trò của mình mà không biết, hoặc nếu có biết thì cũng “nhắm mắt đưa chân” cho xong việc, cho dễ dàng và bớt phiền toái.

Continue reading

CÂN BẰNG CỦA TỰ NHIÊN

Kết quả hình ảnh cho balance DƯƠNG QUỐC VIỆT

Tất cả những ước muốn đổi thay hay kiến tạo của con người, dù động cơ có tốt đẹp đến mấy, thì đều bị kiểm chứng khắt khe bởi “luật cân bằng” của tạo hóa, và có tồn tại bền vững hay không là tùy thuộc vào sự phù hợp với “luật cân bằng” của tạo hóa đến đâu.

Tất cả chúng ta đều mong muốn một xã hội công bằng và có quy củ, nhưng trong tự nhiên cũng như xã hội, các quần thể bao giờ cũng được điều chỉnh bởi “luật tối ưu” cục bộ và tính cộng sinh cục bộ. Dường như tạo hóa được chi phối bởi “luật cân bằng”, và sự cân bằng của tạo hóa đôi khi chống lại cái mong muốn công bằng và quy củ của con người. Như những gì mà loài người đã trải qua, tất cả những ước muốn đổi thay, hay kiến tạo của con người, dù động cơ có tốt đẹp đến mấy, thì đều bị kiểm chứng khắt khe bởi “luật cân bằng” của tạo hóa, và có tồn tại bền vững hay không là tùy thuộc vào sự phù hợp với “luật cân bằng” của tạo hóa đến đâu.    

Xin kể lại một câu chuyện có thật, đã xảy ra ở một trường cấp 3 mà sau này đã bị giải thể. Ngày ấy vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, ông hiệu trưởng của trường đó, rất muốn xây dựng trường thành một trường điểm. Vì vậy, ông ta quản giáo viên rất chặt, thậm chí không muốn giáo viên làm thêm bất cứ việc gì, tất nhiên trong đó có cả việc dạy thêm. Nhưng trớ trêu thay, không ai trong trường, bao gồm cả ông hiệu trưởng, sống được bằng lương. Kết cục là ở đó người ta gầm ghè nhau suốt ngày, đơn kiện lên sở liên tục về chuyện này chuyện kia. Các thầy cô khổ quá nên chỉ đứng lớp giảng bài cho xong giờ khiến chất lượng giảng dạy của trường rất thấp, thậm chí còn xuất hiện tệ nạn trò hối lộ thầy để xin điểm. Thế rồi một lần, ông bị một giáo viên, bắt tận tay, cùng với người làm chứng, vi cái tội, ông đã mang 2 bao xi-măng mà ông ăn bớt, từ việc xây dựng trường về nhà mình, thế là ông bị mất chức. Cái sự ông bị trả giá chỉ là chuyện nhỏ, nhưng cái điều đáng bàn ở đây, chính là cái luật sinh tồn-tính cân bằng của tạo hóa đã bị người ta phá vỡ. Hình như ông đã xây dựng trường theo một quy củ-đúng quy chế, nhưng ông đã đi ngược  lại cái “luật cân bằng”  của tạo hóa!?

Continue reading

CÔNG KHAI ẢNH NGHI PHẠM: CÁI SAI NỐI TIẾP CÁI SAI

Hình ảnh có liên quan PHƯƠNG DUNG – Báo Pháp luật TPHCM

Diễn đàn “Đăng ảnh nghi phạm ấu dâm: Bạn nghĩ sao?” (từ ngày 14-3 trên báo Pháp luật TP.HCM) về việc nên hay không nên đăng ảnh của nghi can ấu dâm thu hút sự quan tâm, góp ý của đông đảo bạn đọc. Không chỉ các chuyên gia xã hội học, tâm lý, bác sĩ, nhà báo mà nhiều giới khác đều quan tâm sâu sắc vấn đề này.

Đây là một dấu hiệu đáng mừng song nhìn trên tổng thể, cách lựa chọn ứng xử của đám đông lại đưa đến một mối lo ngại khác.

Đa số lựa chọn: “Đăng!”

Ngoại trừ những chuyên gia, người hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em và những bạn đọc khác, đa số ý kiến bạn đọc đều khẳng định “đăng!”. Độc giả Manh Hung nhấn mạnh: “Phải đăng để xã hội đề phòng, đăng thật nhiều trên mọi kênh thông tin”.

Đây cũng là lý do để hàng ngàn người liên tục phát tán chân dung nghi phạm với lý lẽ “mọi người đều có quyền được biết ai là kẻ bệnh hoạn, có nguy cơ cao để phòng tránh”. Thậm chí có bạn đọc còn tuyên bố mạnh mẽ như QuaSQ: “Riêng tội này dù pháp luật không cho phép tôi cũng ủng hộ đăng ảnh nghi phạm” (!?).

Nhiều người cho biết họ có tâm lý sốt ruột khi thấy vụ việc tố cáo thủ phạm ấu dâm bị chậm đưa ra ánh sáng, dù nguyên nhân có thể từ khâu thu thập chứng cứ ban đầu của nạn nhân hay sự vào cuộc chậm chạp của cơ quan chức năng. Điều đó đã thôi thúc họ tự đi tìm công lý.

Cách phản ứng này vẫn đang nhận được nhiều ý kiến ủng hộ. Những bạn đọc Minh Nhân, Linh, Quốc Bảo, Trần Hoàng Dơn… cũng đồng tình “đăng ảnh nghi phạm sẽ gây sức ép, thúc đẩy cơ quan điều tra, tiếp sức gia đình nạn nhân để vụ việc không bị chìm xuồng”.

Đăng là vi phạm pháp luật

Continue reading

BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ VĂN MINH DU LỊCH (Ban hành theo Quyết định số 718/QĐ-BVHTTDL ngày 02 tháng 03 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Kết quả hình ảnh cho du lịch việt namQuyết định số 718/QĐ-BVHTTDL ngày 02 tháng 03 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có hiệu lực từ ngày ký.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Khái niệm

Bộ Quy tắc ứng xử văn minh du lịch là những Quy định mang tính chuẩn mực nhằm định hướng hành vi, thái độ, thói quen, cách thức ứng xử văn minh của tổ chức và cá nhân khi tham gia các hoạt động du lịch.

Điều 2. Đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Khách du lịch là người Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; người nước ngoài đi du lịch Việt Nam;

2. Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch;

3. Cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch.

Chương II

NỘI DUNG BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ

Điều 3. Những điều cần làm đối với khách du lịch

Mục 1. Nội dung quy tắc ứng xử

1. Tuân thủ các quy định, nội quy hoạt động, biển báo, hướng dẫn của người quản lý tại điểm đến hoặc khi sử dụng dịch vụ giao thông công cộng; quan sát, tuân thủ biển chỉ dẫn tại nhà ga, bến cảng, khu du lịch, điểm du lịch.

2. Xếp hàng theo thứ tự khi sử dụng các dịch vụ hoặc tham gia các hoạt động tại nơi công cộng; ưu tiên giúp đỡ người lớn tuổi, người tàn tật, trẻ em, phụ nữ.

3. Tuân thủ giờ giấc, tôn trọng các thành viên trong đoàn khi đi du lịch tập thể.

4. Sử dụng trang phục lịch sự, phù hợp khi đi du lịch; mặc trang phục nghiêm túc khi tham quan tại những nơi thờ tự tín ngưỡng tôn nghiêm, nghĩa trang liệt sỹ, lễ hội truyền thống.

5. Tôn trọng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của cộng đồng địa phương tại điểm đến.

6. Lên kế hoạch, tìm hiểu trước về điểm đến và dịch vụ, đặt dịch vụ trước khi đi du lịch.

7. Chuẩn bị hành lý gọn gàng, đóng gói cẩn thận, đúng trọng lượng và kích thước theo quy định.

8. Ứng xử văn minh, thân thiện, giữ trật tự nơi công cộng, vui chơi lành mạnh.

Continue reading

QUY TẮC ỨNG XỬ NƠI CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Ban hành kèm theo Quyết định số 1665/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân TP Hà Nội)

Kết quả hình ảnh cho hà nộiQuyết định số 1665/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân TP Hà Nội có hiệu lực kể từ ngày ký.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích

1. Từng bước xây dựng, hình thành những chuẩn mực văn hóa nhằm điều chỉnh lời nói, thái độ, hành vi của cá nhân, tổ chức nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại.

2. Góp phần giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của Thủ đô và đất nước, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

Điều 2. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi áp dụng của Quy tắc là nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2. Đối tượng áp dụng của Quy tắc là các tổ chức và cá nhân làm việc, sinh sống, công tác, tham quan, học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chương II

QUY TẮC ỨNG XỬ CHUNG

Điều 3. Quy tắc ứng xử chung

NÊN LÀM:

1. Tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật; nội quy, quy tắc nơi công cộng.

2. Tôn trọng không gian chung của cộng đồng.

3. Ứng xử lịch thiệp, thân thiện, nhã nhặn, đúng mực.

4. Trang phục lịch sự, phù hợp hoàn cảnh, chuẩn mực xã hội.

5. Quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ người khuyết tật, phụ nữ có thai, người già, trẻ em.

Continue reading

BẰNG KHEN – MÔN THỂ THAO “CHẠY” VÀ LÒNG TỰ TRỌNG

Kết quả hình ảnh cho Emulation and RewardKỲ DUYÊN

Trước thế giới phẳng hôm nay, mọi xấu tốt, hay dở, nhân thân con người rất dễ được công khai, minh bạch.

Có một sự kiện mới diễn ra gần đây, có vẻ ít gây được sự chú ý, nhưng thực ra, vấn đề của nó rất đáng quan tâm. Đó là chuyện thi đua- khen thưởng.

Phải nói rằng, công cuộc Đổi mới của đất nước diễn ra qua 30 năm, diện mạo xã hội và chất lượng (vật chất) đời sống con người thay đổi rõ rệt. Nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đã phải đổi mới để tương thích với yêu cầu thời cuộc và cơ chế quản lý mới. Thế nhưng, có một lĩnh vực ít đổi mới nhất, nếu không nói là rất xưa cũ- đó là thi đua khen thưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác này năm 2016 mới đây:

“Việc lãnh đạo được khen thưởng nhiều quá không nên, làm nảy sinh suy nghĩ có huân huy chương thì việc thăng tiến, bổ nhiệm dễ hơn. Còn người tốt thường có lòng tự trọng nên sẽ không đi xin bằng khen, chúng ta phải tìm đến họ để khen thưởng kịp thời” (Dân trí, ngày 23/2).

Không ít người Việt rất trọng cái danh.

Đó là một thực tế đáng suy nghĩ. Chỉ đạo của người đứng đầu Chính phủ phản chiếu một thực trạng có thật trong lĩnh vực này. Bản chất của nó nằm ở đâu?

Nước Việt, cho dù trên hành trình hội nhập, vẫn là một xã hội mang nặng tư duy tiểu nông, gia trưởng, tâm lý rất nặng bệnh thành tích. Không ít người Việt rất trọng cái danh. Đến mức người đàn bà trong Trăng sáng vườn chè của Nguyễn Bính đã phải giãi bày về cái danh của chồng nàng: Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đường/ Tôi ra đứng tận góc làng/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem/ Đêm nay mới thật là đêm. Một tâm lý trọng chức danh đến thế, cộng với đời sống sinh hoạt chưa thật cởi mở, dân chủ, thế nên khen thưởng từ cơ sở, đã “nghiêng hết ấy mấy về bên… quan”.

Có không ít năm, trong danh sách những người được khen thưởng ở các loại hình vinh danh, tôn vinh danh hiệu, số cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo… lấn át số cán bộ chuyên môn. Sự mất cân bằng và có phần thiên vị cấp quản lý kiểu này từ vi mô đến cấp vĩ mô, vô tình làm nhiệm vụ nối dây cho chiếc ghế quyền lực, cho việc thăng tiến, bổ nhiệm, thăng cấp của một số quan chức.

Continue reading

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: FORMOSA TO BE OR NOT TO BE

VĂN CHINH

Tại Hội nghị Lý luận Phê bình Văn học Tam Đảo lần thứ IV ngày 25 – 6 – 2016, hội trường nóng lên khi nhà thơ Lê Minh Quốc đọc tham luận bằng thơ:

Thơ ở đâu trong những ngày biển động

Xác cá khô nằm xếp lớp buồn rầu

Thơ hoan ca qua bình minh chói sáng

Sao lại quên biên giới trắng hoa lau

Thành ý của Hội Nhà văn Việt Nam cử đoàn nhà văn vào Hà Tĩnh trong những ngày “động biển” đã được nhen nhóm cân nhắc rồi quyết định từ đó.

Sau một tuần nóng sốt Euro 2016, Chủ tịch Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh gọi bảo tôi thảo công văn, giấy xin xe cùng danh sách đoàn nhà văn thăm Hà Tĩnh. Té ra viết được văn vào hạng đọc được, nhưng vị tất đã thảo được công văn. Hữu Thỉnh cặm cụi sửa bản thảo, chỉ còn lại đúng hai dòng Quốc hiệu là của tôi. Công văn gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh đề ngày 15 tháng 7 của Hội Nhà văn Việt Nam do đó mà không có chữ ký nháy. Không thể ký nháy vào công văn khi chỉ có chẵn hai dòng Quốc hiệu là của mình!

Chúng tôi đi như người ra trận: Thuốc men, bông băng, lương khô, bánh mì, cam chuối và mặt nạ phòng độc. Họp đoàn ngay trên xe, Trưởng đoàn Hoàng Quốc Hải nói:

“Vào Vũng Áng chưa chắc đã viết được gì ngay. Nhưng nhà văn thì không thể không có mặt ở Vũng Áng lúc này, để chia sẻ với mất mát, với nỗi buồn thương của mọi người. Nó là trải nghiệm cần để nuôi dưỡng cảm xúc của giới ta. Nó là nhân cách nhà văn, nên hiện tại Hội hết tiền thì chúng ta Campuchia.” Mọi người nói đồng ý, riêng bác Trần Nhương (.com) còn nhấn mạnh: “Nhất trí với trên!” Hoàng Quốc Hải cười cùng mọi người, sau thì nói: “Làm việc lớn không thể bắt đầu từ việc vặt, thấy gì nghe gì hãy cứ ghi chép lại, không được phê búc phê biếc gì nhá!”.

Continue reading

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: ÁN OAN

TÔN ÁI NHÂN

Những năm gần đây một số kỳ họp Quốc hội đã công khai đưa vấn đề án oan để chất vấn các vị Bộ trưởng ngành pháp luật một cách thẳng thắn, nghiêm túc đầy cởi mở và dân chủ để tránh những án oan, khổ đau cho người dân vô tội. Đây là việc làm đúng.

Quả thực, từ ngày thành lập nước đến nay ngành luật pháp đã có nhiều cố gắng, nhưng cũng không tránh khỏi oan sai. Xin đơn cử một số vụ điển hình:

Trước hết, phải bỏ qua các vụ án oan trong thời kỳ diệt tề trừ gian và Cải cách ruộng đất. Thời chống Pháp, nổi lên là vụ địch đã tung đòn phản gián tạo ra vụ H122 làm ta bắt oan hàng trăm người. Sau Bác Hồ chỉ thị đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp đi sửa sai. Vụ Ngô Cường, Trưởng ty Công an Quảng Yên cũng tương tự, bị bắt oan khiến ông ta  phải tự minh oan bằng cách mổ bụng tự tử tới hai lần. Mãi sau này mới minh oan!

Hoà bình lập lại, ngành luật pháp đã phấn đấu cải tiến nhiều, nhưng án oan về chính trị và hình sự vẫn tiếp diễn. Vụ Võ An Khang ở Nhà máy gỗ Cầu Đuống nghi mâu thuẫn nội bộ giết nhau bắt oan một cấp phó, nhưng thực ra ông ta tự tử. Vụ giết chị Là ở Đông Triều khiến ba công dân lương thiện: Mạch, Chồi, Tương mỗi người phải tù oan tới 11 năm. Điều đáng nói là ba công dân này vào tù tháng nào cũng viết ba đơn kêu oan gửi tới ba cơ quan Công an, Tòa án và Viện khiểm sát. Đơn kêu oan suốt mười một năm lên tới hàng ngàn, khiến ông Hoàng Quốc Việt lúc đó làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thốt lên:“Nếu không bị oan thì liệu họ có kiên trì viết đơn nhiều đến thế” Và ông đã chỉ thị cho Công an khu Hồng Quảng điều tra lại. Cái đặc biệt của vụ án là đồng chí trực tiếp điều tra sai trước đây lại tình nguyện xin điều tra lại để tìm cái sai của chính mình. Kết quả vụ án là chồng giết vợ đã ra tự thú. Ba công dân bị oan được tha. Vụ này đã đưa vào giáo trình giảng dạy ở trường Công an.

Continue reading

MẤY CÂU HỎI GỬI CÁC ĐẠI BIỂU ỦNG HỘ LẬP “KHU NHẠY CẢM”

NGUYỄN ANH ĐỨC – Sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước luồng quan điểm ủng hộ có khá nhiều “ý” được đưa ra trong khi những quan điểm phản bác chỉ xoay quanh yếu tố đạo đức, thuần phong mĩ tục (vốn không thể thuyết phục). Tôi xin nêu ra một số quan điểm phân tích từ khía cạnh pháp lý như sau [1]:

– Thứ nhất, nếu nói rằng: "Ở ta không muốn công nhận, không thích công nhận nhưng thực tế lan tràn khắp nơi và bất lực không thể ngăn chặn được, hiện trạng ngày càng tăng". Với cách lập luận như vậy, chúng ta buộc phải liên tưởng đến những “thực trạng xã hội đang lan tràn khắp nơi” và “thuộc về bản chất của xã hội” như ma túy, buôn lậu, giết người, tham nhũng – lãng phí, chạy chức quyền, nhẹ hơn là học gạo – học vì điểm, cũng đang hoành hành và chưa có biện pháp giải quyết phù hợp ở Việt Nam. Điều đó, theo cách suy nghĩ của các đại biểu ủng hộ lập khu nhạy cảm, thì cũng nên và cần phải lập những “khu” riêng dành cho các hoạt động đã nêu trên. Lúc đó ta sẽ có phố buôn lậu, phố làm hàng giả – nhái, phố dành riêng cho các cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ,…..Đây là áp dụng nguyên tắc bình đẳng cho “các hiện tượng xã hội thực tế”.

– Thứ hai, cho rằng: "Những người trực tiếp hành nghề không được bảo vệ, bị các ma cô, đầu gấu bắt nạt, ức hiếp, không được bảo vệ sức khoẻ từ đó ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng vì không có giám sát". Ở đây cần đặt ra câu hỏi: Sau khi lập khu thì những người được gọi là “ma cô”, “đầu gấu” sẽ trở thành thất nghiệp được chăng?, "hợp pháp" – một ngôn từ mĩ miều được dùng để dành cho lợi ích của các cô gái hay cho "ma cô, đầu gấu" thành "nhân viên kinh doanh"? Và bảo vệ sức khỏe của các cô gái hành nghề sẽ được thực hiện đến đâu, khi xét về mặt sinh lý, đã qua hết cái thời “đỉnh cao phong độ” lúc mới còn ở tuổi “ba mươi mấy”. Điều chắc chắn là ngành nghề nào cũng có “hạn sử dụng”, và có thể lập luận rằng sau khi nghỉ lao động thì phải được hưởng các trợ cấp xã hội, như bảo hiểm chẳng hạn. Nhưng câu chuyện sẽ khác giữa những lao động cống hiến đến năm 55, 60 tuổi với những lao động chỉ có thể cống hiến (bằng nghề chính) đến những năm ở tuổi đời chưa tròn bốn mươi chứ?

Continue reading